Thêm kết quả...

Những vấn đề doanh nghiệp cần lưu tâm khi chứng minh xuất xứ hàng hóa

Nếu EVFTA được ví như là tuyến đường cao tốc Việt Nam với châu Âu thì những quy tắc về nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn hàng hóa được xem như những tấm vé lưu hành và giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) là một trong những vấn đề mà doanh nghiệp cần lưu tâm.

Theo Bộ Công Thương, sau một năm kể từ khi thực thi (1/8/2020 – 1/8/2021), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã mang lại hiệu quả rõ rệt đến nhiều ngành xuất nhập khẩu của cả hai khu vực. Trong 9 tháng năm 2021, tổng kim ngạch 2 chiều giữa Việt Nam và EU đạt 41,29 tỉ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó, xuất khẩu đạt 28,85 tỉ USD, tăng 11,7%. Đây là kết quả rất có ý nghĩa trong bối cảnh dịch COVID-19 bùng phát gây ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế, thương mại của các nước.

Chú thích ảnh
Bốc xếp gạo xuất khẩu của Tổng Công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2) tại cảng Sài Gòn.
Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Trong giai đoạn này, Việt Nam xuất siêu sang EU hơn 11 tỷ USD. Rất nhiều mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam như dệt may, da giày, nông thủy sản… đã tận dụng ngay được các lợi thế của Hiệp định này. Song, sau một năm nhìn lại cũng cho thấy có rất nhiều thách thức mới, đòi hỏi Việt Nam có sự chuẩn bị kỹ hơn, với những giải pháp cụ thể và mạnh mẽ hơn để có thể khai thác tốt hơn các cơ hội mà Hiệp định EVFTA mang lại.

Một trong những thách thức lớn nhất đối với Việt Nam khi gia nhập Hiệp định EVFTA chính là quy trình sản xuất, nguồn gốc xuất xứ và kiểm định chất lượng trong một loạt các ngành để đáp ứng được những yêu cầu nghiêm ngặt về nhập khẩu vào thị trường EU cũng như các điều kiện để được hưởng ưu đãi loại bỏ thuế quan của EVFTA.

Chú thích ảnh

Bà Trịnh Thị Thu Hiền, Trưởng phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục xuất nhập khẩu
(Bộ Công Thương) chia sẻ tại buổi tập huấn.

Chia sẻ tại buổi Tập huấn truyền thông về “Tận dụng cơ hội từ Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) để thúc đẩy xuất khẩu trong bối cảnh hậu COVID-19” do Cục Xuất nhập khẩu, Cục Phòng vệ Thương mại phối hợp với Văn phòng Bộ Công Thương tổ chức sáng 16/11, bà Trịnh Thị Thu Hiền, Trưởng phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, xung quanh câu chuyện xuất xứ hàng hóa của Việt Nam khi xuất khẩu có không ít câu chuyện “dở khóc dở cười”.

Bà Hiền nêu dẫn chứng về lô hàng dệt may của cùng một nhà máy sản xuất, cùng mặt hàng, cùng nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra, nhưng đi thị trường khác nhau là Singapore, EU và Canada. Với thị trường Singapore, số hàng hóa này đáp ứng xuất xứ Việt Nam bởi Singapore là một thành viên của ASEAN và trong khuôn khổ ASEAN thì quy tắc xuất xứ với dệt may chỉ cần cắt may thành quần áo thì sản phẩm quần áo cuối cùng đã được coi là có xuất xứ Việt Nam và được hưởng ưu đãi.

Nhưng với số hàng hóa này sang EU lại yêu cầu xuất xứ từ vải trở đi, có nghĩa là quy tắc 2 công đoạn, công đoạn dệt vải và cắt may quần áo phải được thực hiện tại các nước thành viên của Hiệp định EVFTA để hưởng ưu đãi thuế quan trong khuôn khổ EVFTA.

Còn khi xuất sang Canada thì quy tắc xuất xứ lại theo khuôn khổ hiệp định CPTPP là từ sợi, có nghĩa là công đoạn se sợi, dệt thành vải và cắt may thành quần áo đều phải thực hiện tại các nước thành viên CPTPP thì mới được hưởng ưu đãi.

“Cho nên sẽ có câu chuyện đặt ra là cùng một nhà máy xuất khẩu đi, khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu (C/O) trong ASEAN thì các tổ chức của Bộ Công Thương vẫn cấp bình thường, nhưng khi cấp C/O đi EU thì không đáp ứng và lô hàng đó không đạt tiêu chí coi là xuất xứ Việt Nam. Nên xuất xứ Việt Nam còn phụ thuộc vào cam kết như thế nào, đi thị trường nào và mặt hàng nào” bà Hiền cho biết.

Đại diện Cục Xuất nhập khẩu cho biết, trong quá trình xác định xuất xứ hàng hóa Việt Nam cũng gặp nhiều vấn đề rất đáng lưu tâm. Bà Hiền dẫn chứng về sản phẩm gỗ của một công ty nổi tiếng của Việt Nam xuất khẩu đi Nhật. Lô hàng này là những lọ đựng gia vị bằng gỗ nhưng có một số bộ phận bằng nhựa hoặc sứ. Tại cảng Tokyo, trên C/O là sản phẩm đồ gỗ, nhưng cơ quan Hải quan Tokyo nói rằng đây là sản phẩm nhựa dù tất cả các bộ phận khác bằng gỗ, chỉ lòng trong hộp được làm bằng nhựa và họ yêu cầu cơ quan cấp C/O xác định xem nếu sản phẩm bằng nhựa có đáp ứng hay không. Nhưng cũng vẫn lô hàng đó đến cảng Osaka của Nhật thì cùng lại được xác nhận là sản phẩm bằng sứ vì có vỏ ngoài là sứ, còn lại chi tiết khác thì bằng gỗ. Sau đó, Cục Xuất nhập khẩu đã phải liên hệ với bên Hải quan là đầu mối của Nhật Bản để thống nhất một quy định, tránh gây phức tạp, doan nghiệp phải làm đi làm lại hồ sơ.

“Doanh nghiệp của chúng ta rất khổ khi cùng 1 lô hàng đi các cảng khác nhau của cùng một nước lại đang bị đối xử với những cách xác định khác nhau, và sau đó doanh nghiệp lại phải làm một bộ hồ sơ khác chứng minh xuất xứ sản phẩm để được hưởng ưu đãi thuế quan. Chính vì vậy, doanh nghiệp hãy hỏi trước bên Hải quan nước nhập khẩu xem hải quan chấp nhận sản phẩm đó là gì thì mới làm hồ sơ bên này cho tương ứng”, bà Hiền cho hay.

Một câu chuyện khác “tưởng đùa” mà như thật là câu chuyện chữ viết trên C/O. Theo quy định, C/O phải được viết bằng tiếng Anh, nhưng trường hợp tại Hải Phòng, khi xuất khẩu đá vôi đi Malaysia thì viết là “da voi”, khi xuất khẩu vôi sống thì để là “voi song”, rất may cả voi sống và vôi sống đều thuộc hàng hóa có xuất xứ thuần túy chung tiêu chí xuất xứ và khối lượng nên đạt tiêu chuẩn xuất đi.

Tuy nhiên, cơ quan Hải quan Malaysia liên hệ với Bộ Công Thương là tìm đỏ mắt trong danh sách hàng hóa không tìm ra mặt hàng nào là “voi song”, sau đó Bộ đã đề nghị doanh nghiệp cần sửa lại C/O vì thời gian kiểm tra sau thông quan có thể là 2 năm 3 năm thậm chí là 5 năm, mà có những nơi 10 năm.

“Có thể tại thời điểm nhập khẩu họ không làm khó, nhưng sau đó 2 năm họ lôi lại C/O và đề nghị xác minh mà chúng ta không chứng minh được thì lúc đó vô hình chung rõ ràng hàng hóa đáp ứng xuất xứ nhưng do lỗi đánh máy mà C/O bị bắt lỗi và không được hưởng ưu đãi thuế quan”, đại diện Cục Xuất nhập khẩu cho hay.

Hay mới đây, Hải quan Trung Quốc đề nghị xác minh 40 lô hàng gạo của Việt Nam xuất khẩu, họ không nghi ngờ đó không phải là gạo của Việt Nam nhưng lại thắc mắc tại sao trên C/O nào của Việt Nam do tổ chức nào cấp cũng có người tên là “Pho truong phong” và “Truong phong” vì các C/O đang để tiếng Việt không dấu chức danh của người ký. Do đó, đối tác hiểu rằng trên C/O đó có 2 người ký nên mới quay lại xác minh.

“Doanh nghiệp của Việt Nam không chỉ bị bắt những lỗi liên quan bản chất xuất xứ hàng hóa mà đôi khi chỉ là lỗi về thủ tục. Do đó, trong quá trình thực hiện quy trình thủ tục xuất khẩu, doanh nghiệp cần hết sức lưu ý đến tất cả các khâu, dù là chi tiết nhỏ nhất”, bà Hiền lưu ý.

Tin, ảnh: Thu Trang/Báo Tin tức
2021-11-17 / by / in
Giá xăng dầu tăng, doanh nghiệp vận tải buộc phải tăng giá cước

TTO – Giá xăng dầu tiếp tục leo thang gây áp lực khủng khiếp đối với doanh nghiệp vận tải, logistics. Nhiều doanh nghiệp vận tải hàng đã phải gửi thông báo đến đối tác tăng chi phí vận chuyển lên 5-10% để duy trì hoạt động.

 

Nhiều doanh nghiệp vận tải lo phí xăng dầu tăng nhưng không thể tăng cước ngay. Trong ảnh: xe cộ lưu thông trên quốc lộ 22 khu vực cầu vượt, hầm chui ngã tư An Sương, TP.HCM ngày 27-10 – Ảnh: T.T.D.

Tuy nhiên, các chủ doanh nghiệp cho hay không hẳn 100% khách hàng đều đồng ý hoặc chần chừ chưa chốt lại mức giá mới khiến đơn vị vận tải lúng túng.

“Hết sức chịu nổi vì giá xăng dầu liên tục tăng cao, chúng tôi hoạt động cầm chừng chứ huề vốn hoặc lỗ. Cứ đà này, doanh nghiệp điêu đứng hết” – ông  Nguyễn Ngọc Thanh, giám đốc Công ty vận tải Kim Phát (quận 12, TP.HCM), than thở.

Giá xăng sau 5 lần tăng hiện đã lên sát 25.000 đồng một lít, cách mức đỉnh lịch sử thiết lập hồi tháng 7-2013 khoảng 80 đồng. Còn giá dầu lần lượt lên 18.710 đồng và 17.630 đồng một lít, tăng 63-74% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, chi phí nhiên liệu chiếm khoảng 35-40% cơ cấu giá thành vận tải.

Theo tính toán của ông Thanh, đối với xe đầu kéo container tốn 40 lít dầu cho quãng đường khoảng 100km, tùy theo địa hình.

Với mức giá dầu hiện nay là 18.710 đồng, trung bình mỗi chiếc xe tốn 750.000 đồng tiền dầu cho chuyến hàng cự ly 100km, cao hơn 300.000 đồng so với cùng kỳ vào tháng 11-2020. Đây là mức tăng “khủng khiếp” mà doanh nghiệp đang gồng gánh. Do giá xăng tăng buộc doanh nghiệp phải chỉnh bảng giá mới cân bằng được chi phí và lợi nhuận.

Tuy nhiên, với doanh nghiệp vận tải hiện nay, ngoài giá xăng dầu còn các loại chi phí khác bủa vây nên việc để có lợi nhuận trong thời điểm này là không dễ dàng.

Chẳng hạn, một chuyến xe chở hàng 30 tấn từ cụm cảng quận 7 về Khu công nghiệp Tân Bình hoặc khu vực ngã tư An Sương, khoảng cách 47-50km có giá cước là 2,1 triệu đồng, tức 70.000 đồng/tấn.

Trong số đó, chi phí nhiên liệu hết 40 lít, khoảng 750.000 đồng và 200.000 đồng tiền phí qua 2 trạm thu phí, tiền công tài xế và chưa kể các loại chi phí khác… Để duy trì hoạt động trong thời điểm này, ông Thanh cho biết sẽ tăng giá vận chuyển từ 2,1 triệu đồng lên 2,4 – 2,5 triệu đồng/chuyến xe 30 tấn.

Tương tự, một doanh nghiệp vận chuyển hàng Bắc – Nam cho biết đã điều chỉnh giá cho một container 40 feet từ 45 – 48 triệu đồng lên 50 – 55 triệu đồng.

Chủ tịch Hiệp hội Vận tải hàng hóa TP.HCM, ông Bùi Văn Quản cho biết hiện các doanh nghiệp trong hội điều chỉnh giá cước quanh mức 5-10%. Mức thương lượng cụ thể sẽ tùy thuộc giữa doanh nghiệp và khách hàng. Dù các doanh nghiệp đã phải điều chỉnh lại quy mô, tiết giảm bộ máy, giảm chi phí nhưng giá xăng dầu tăng đẩy giá nhiều hàng hóa tăng mạnh.

Các doanh nghiệp vận tải cho biết đang đối diện quá nhiều thách thức khi chưa kịp khôi phục lại công suất hoạt động do thiếu nguồn hàng. Khó khăn chất chồng khó khăn, giá xăng dầu tăng, doanh nghiệp đã kiệt sức nên không thể hạ giá cước.

Theo ông Quản, cách duy nhất để họ giảm bớt khó khăn là Nhà nước cần miễn hoặc giảm các loại thuế phí cho doanh nghiệp vận tải. Điển hình là phí bảo trì đường bộ và BOT, đồng thời xem xét giảm thuế bảo vệ môi trường thông qua mỗi lít xăng dầu. Mức thu loại thuế này đang khá lớn từ 3.800-4.000 đồng một lít xăng dầu.

“Khi giá xăng dầu được điều chỉnh đi xuống, giá các loại hàng hóa mới quay đầu giảm và cước vận chuyển cũng sẽ được điều chỉnh hợp lý” – ông Quản đề xuất.

Nguồn: tuổi trẻ

2021-11-17 / by / in
Khách hàng và doanh nghiệp cùng chuyển đổi

TTO – Không chỉ tiện lợi, nếu biết tận dụng, người dùng thanh toán không tiền mặt còn giảm được nhiều chi phí.

 

Các ngân hàng cũng đang chuyển đổi mạnh để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và nỗ lực để gia tăng thanh toán không tiền mặt vì “các bên cùng thắng”.

Nhiều khuyến mãi

Đại diện HDBank cho biết xu hướng hiện nay là khách hàng dần chuyển dịch sang kênh online, đặc biệt tập trung vào kênh mobile. Do vậy ngân hàng liên tục triển khai các chương trình kích thích thanh toán, hoàn tiền và nhiều ưu đãi quà tặng cho khách hàng khi giao dịch qua kênh online; các sản phẩm dịch vụ cũng sẽ có nhiều ưu đãi về lãi suất hoặc phí khi thực hiện qua kênh online.

Cụ thể như mở tài khoản trực tuyến qua xác thực video eKYC được miễn phí mở tài khoản, miễn phí nâng cấp hạn mức giao dịch, được hoàn tiền, nhận quà. 2.000 khách hàng đầu tiên mở tài khoản trực tuyến qua xác thực video eKYC được tặng 100.000 đồng vào tài khoản thanh toán và hoàn 20% tổng giá trị giao dịch cho 500 khách hàng có doanh số giao dịch cao nhất mỗi tuần…

Theo ông Phạm Đức Duy – giám đốc trung tâm thẻ Sacombank, tăng trưởng thanh toán không tiền mặt trong thời điểm dịch COVID-19 có chiều hướng tăng về số lượng và doanh số giao dịch, trong đó tăng chủ yếu là đến từ thanh toán trực tuyến và thanh toán công nghệ không tiếp xúc.

Sau hơn 1 tháng ở giai đoạn bình thường mới, thanh toán không tiền mặt tiếp tục tăng trưởng vượt bậc. Doanh số tháng 10 của Sacombank tăng trưởng hơn 40% so với các tháng trước đó. Đặc biệt, khi người dân làm quen với các giao dịch trực tuyến trong thời gian giãn cách đã tiếp tục sử dụng, thể hiện qua doanh số kênh online tại Sacombank tăng 30% so với các tháng trước.

“Để giữ chân người dùng, bên cạnh các cơ chế chính sách giảm phí, Sacombank chúng tôi còn tích cực triển khai các chương trình khuyến mãi hấp dẫn nhằm hưởng ứng các chương trình kích cầu của Nhà nước, mang lại lợi ích tài chính cho người tiêu dùng khi tham gia mua sắm” – ông Duy nói và cho hay đã có chính sách phí ưu đãi đặc biệt dành cho những điểm chấp nhận thanh toán thẻ nhỏ như các cửa hàng, tiệm tạp hóa, tiểu thương chợ, quán ăn… giúp phổ biến các hình thức thanh toán không tiền mặt đến mọi phân khúc kinh doanh” – ông Duy cho biết.

Chúng tôi có chính sách phí ưu đãi đặc biệt dành cho những điểm chấp nhận thanh toán thẻ nhỏ như các cửa hàng, tiệm tạp hóa, tiểu thương chợ, quán ăn… giúp phổ biến các hình thức thanh toán không tiền mặt đến mọi phân khúc kinh doanh.

Cơ hội gia tăng người dùng

Các ngân hàng cũng tận dụng cơ hội này để gia tăng số lượng người dùng. Tại Sacombank, ngay khi Ngân hàng Nhà nước cho phép áp dụng hình thức định danh trực tuyến (eKYC), ngân hàng này đã cho ra mắt tính năng mở tài khoản thanh toán online trên ứng dụng Sacombank Pay.

Đặc biệt, trong giai đoạn giãn cách xã hội, nhu cầu của người dân là ở nhà vẫn có thể giao dịch tài chính thì phương thức định danh trực tuyến kết hợp với mở tài khoản thanh toán online, tự chọn số tài khoản đẹp đã tăng trưởng rất nhanh.

“Số lượng tài khoản mở mới online của Sacombank thông qua ứng dụng Sacombank Pay trong thời gian qua đạt trung bình 5.000 tài khoản/ngày, số dư khách hàng đem lại cũng rất khả quan, góp phần giúp Sacombank trở thành một trong top 5 ngân hàng thương mại có số dư tiền gửi thanh toán (CASA) nhiều nhất” – ông Phạm Đức Duy cho biết.

HDBank thì mạnh mẽ triển khai eKYC mở tài khoản thanh toán hoàn toàn trực tuyến, nâng cao hạn mức bằng… video call. Ngoài ra, ngân hàng cũng đẩy mạnh tự động hóa vận hành trong thời gian tới với các dự án như trợ lý ảo voiceBot.AI, số hóa quy trình cho vay trực tuyến thế chấp bằng sổ tiết kiệm… HDBank hướng đến gia tăng tỉ lệ giao dịch số hóa lên mức 90% trong năm 2025.

5.000

Đó là số lượng tài khoản mở mới online của Sacombank trung bình trong một ngày thông qua ứng dụng Sacombank Pay trong thời gian qua do ngân hàng này tung nhiều hỗ trợ, khuyến mãi để thúc đẩy thanh toán không tiền mặt.

Nguồn: tuổi trẻ

2021-11-16 / by / in
Doanh nghiệp kinh doanh ăn uống chờ được bán rượu bia

Các chủ nhà hàng đều cho rằng, cho bán đồ uống có cồn là động lực cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này quay lại thị trường.

Doanh số sẽ tăng gấp đôi

Theo Sở Công thương TP.HCM, từ ngày 1.10 đến nay, khoảng 60% doanh nghiệp (DN), cơ sở kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống quay trở lại thị trường. Điều này có nghĩa là 40% DN, cơ sở kinh doanh ăn uống chưa hoạt động trở lại.

Sở này vừa có kiến nghị nên xem xét cho các đơn vị kinh doanh dịch vụ ăn uống bán đồ uống có cồn trở lại trong điều kiện có kiểm soát, đáp ứng Bộ tiêu chí đánh giá an toàn trong phòng chống dịch Covid-19. Ông Bùi Tá Hoàng Vũ, Giám đốc Sở Công thương TP.HCM, cho biết việc thí điểm sử dụng đồ uống có cồn tại các quán ăn ở TP.Thủ Đức và Q.7 đến nay không để phát sinh các vấn đề tiêu cực. 2 địa phương này cũng đã đề xuất cho phép mở rộng và kéo dài thời gian thực hiện thí điểm. “Sở đã lấy ý kiến của một số chuyên gia, từ đó nhận thấy việc ngồi cùng bạn bè cũng là cách thức giải tỏa căng thẳng, tác động tiêu cực từ dịch bệnh”, đại diện Sở Công thương nói và nhấn mạnh các yếu tố bắt buộc như khách hàng phải tiêm đủ 2 mũi vắc xin; cơ sở kinh doanh hoạt động tối đa 50% công suất, đóng cửa trước 21 giờ hằng ngày… Lãnh đạo các quận huyện tự đánh giá, chịu trách nhiệm về việc cho phép hoạt động kinh doanh có sử dụng đồ uống có cồn trên địa bàn hay là không.

Đề xuất này làm nức lòng giới chủ nhà hàng, quán nhậu tại TP.HCM. Ông Huỳnh Phương, chủ hệ thống nhà hàng Phố 79 tại TP.HCM, thừa nhận doanh thu của nhà hàng từ khi được mở bán tại chỗ đến nay đúng nửa tháng, chỉ đạt 20 – 30% so với ngày thường. Nếu cho mở bán thức uống có cồn, doanh thu chắc chắn sẽ gấp đôi, thậm chí có thể đạt 70 – 80% so với trước. Ông nói: “Khách của nhà hàng chủ yếu là giới kinh doanh nên cần có không gian, thời gian để gặp gỡ, trao đổi vấn đề công việc. Trong một vài trường hợp, thiếu thức uống có cồn, đôi khi hiệu quả công việc không thể như kỳ vọng, thế nên khách ngồi tại quán giảm nhiều hoặc không đến”.

Tương tự, chủ một nhà hàng bia cho biết công ty chưa mở cửa hoạt động trở lại do 70% doanh thu từ bia. Nếu không cho bán bia, mở bán chắc chắn cũng không đủ “sở hụi”. Thế nên nhà hàng này vẫn án binh bất động. “Việc quay lại bán hàng ăn lúc này đa số là phục vụ gia đình, ăn trưa, khối văn phòng, ăn sáng… còn khối nhà hàng chuyên bán thức uống có cồn như vườn bia, lẩu dê, lẩu bò… thì vẫn đóng cửa. Không bán bia, khách rất ít, thu lại không đủ bù chi. Đó là lý do đa số các nhà hàng trong tháng 11 này vẫn chưa quay lại thị trường”, vị này chia sẻ.

Thí điểm tốt thì phải mở…

Chuyên gia Vũ Quốc Chinh, Đại học Kinh tế TP.HCM, cho rằng ban đầu, cơ quan quản lý cấm bán rượu bia sau khi mở cửa trở lại xuất phát từ các lập luận: nếu người đi ăn mà không có rượu bia, họ sẽ đi ít lại, ngồi không lâu, không uống rượu bia thì kiểm soát được các hành vi, tránh lây lan dịch bệnh… Tuy nhiên, thực tế cho thấy sau thời gian thí điểm cho kinh doanh thức uống có cồn tại Q.7 và TP.Thủ Đức, kết quả không đáng ngại. Số ca nhiễm mới không bùng phát tại các nhà hàng quán ăn của 2 địa phương kia. Quan trọng nhất lúc này là ý thức người hưởng dịch vụ là khách đi ăn quán. Những quán ăn, nhà hàng khu vực trung tâm nay nếu cho bán rượu bia sẽ không khác gì Q.7 và TP.Thủ Đức. “Chúng ta càng chần chừ, hoặc mở “he hé” lại mất cơ hội phục hồi của DN. Điều quan trọng thứ 2 là truyền thông của các phường, quận huyện tại các điểm kinh doanh này phải nhắc nhở cả khách lẫn chủ nhà hàng… “Khách đã được phép vào quán rồi thì ngồi lâu hay mau không quan trọng, quan trọng nhất là các tiêu chí mở cửa an toàn cũng đã có, vấn đề nhà hàng phải bảo đảm môi trường ngồi thông thoáng, khoảng cách tốt… Trước mắt cho mở bán thức uống có cồn, phục vụ giới hạn số khách. Chẳng hạn, quán lẩu 50 bàn, nay cho mở chỉ phục vụ 25 bàn trước đã với sự giám sát của chính quyền địa phương. Chọn cách mở từ từ và nhắc nhở thường xuyên, giám sát chặt… sẽ giúp cuộc sống sớm trở lại bình thường hơn, mặt khác giúp DN phục hồi càng sớm càng tốt”, ông Vũ Quốc Chinh chia sẻ.

BS Trương Hữu Khanh khuyến cáo: Người dân dù đi một mình hay đi cả gia đình đều nên chọn chỗ ngồi có khoảng cách tiếp xúc với người khác trên 2 m hoặc thuê phòng riêng. Nhân viên phục vụ cũng phải yêu cầu đeo khẩu trang, thường xuyên vệ sinh tay bằng dung dịch sát khuẩn để đảm bảo an toàn.

Chuyên gia dịch tễ, bác sĩ Trương Hữu Khanh cho rằng việc không cho bán rượu bia lúc này là không cần thiết nữa do kinh nghiệm phòng chống dịch đã có, vắc xin đã phủ 2 mũi gần 100% và chính sách phòng chống dịch nay thay đổi nhiều, tiến đến miễn dịch cộng đồng. “Nếu cấm bán rượu bia, cấm đến bao giờ?”, ông đặt câu hỏi và nhấn mạnh: “Bây giờ ngồi tính cho bán hay chưa cho bán thức uống có cồn là thừa. Bởi có uống hay không, vào quán rồi thì ngồi lâu hay mau đều như nhau. Cấm uống bia rượu để hạn chế ngồi lâu, mất kiểm soát, nhưng Covid-19 nếu có, chỉ cần 1 phút tiếp xúc đã lây, chưa có báo cáo nào nói ngồi lâu 10 phút sẽ an toàn hơn ngồi 1 tiếng”.

Ông nói: “Bây giờ chỉ có 2 vấn đề: Hạn chế lớn nhất là tính cá nhân, tức chính người đi ăn quán đó, hiểu nguy cơ thế nào, nếu trong nhà đang có F0 điều trị hoặc mình là F1 thì không nên đi, nguy cơ lây lan dịch bệnh đến người khác. Ý thức người dân rất quan trọng. Với nhà quản lý, việc cần tập trung bây giờ là phát hiện vùng nguy cơ, phân loại và điều trị, tập trung lo chữa bệnh chứ không nên đóng cửa loại hình kinh doanh nào nữa. Nếu có điều kiện, tăng cường tiêm mũi thứ 3 cho những người có nguy cơ nhiễm bệnh trở lại”.

Nguồn: Thanh niên

2021-11-16 / by / in
Doanh nghiệp may mặc nội địa vẫn khó khăn

Nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc nội địa chưa có kế hoạch mở cửa hoạt động trở lại vì thị trường vẫn còn đóng băng

Bà Thái Trang, một trong những thương nhân kinh doanh quần áo thời trang quy mô lớn ở chợ An Đông và An Đông Plaza (quận 5), sụt hơn 5 kg trong 6 tháng qua vì công việc làm ăn gần như tê liệt. “Tôi đóng cửa sạp nghỉ từ ngày 31-5 đến đầu tháng 11, xưởng sản xuất cũng ngưng hoạt động dài hạn. 80 công nhân của xưởng và gần chục nhân viên phụ ở sạp chợ nóng lòng quay lại làm việc nhưng hàng hóa đứng yên, không có cách nào đẩy ra thị trường thì khó lòng sản xuất tiếp” – bà Trang lo lắng.

Thị trường còn “ngủ đông”

Là đầu mối lớn cung cấp hàng may mặc cho các shop thời trang tại TP HCM và các tỉnh miền Tây, miền Trung đã nhiều năm, bà Thái Trang có nhiều bạn hàng. Trước khi mở cửa bán hàng trở lại, bà đã nhắn tin, điện thoại thông báo cho những khách “ruột” để chào hàng nhưng không ai hưởng ứng.

“Khách ở TP HCM một số đóng cửa chưa mở lại, một số đang chờ sang tiệm, một số mở cửa nhưng rất ế ẩm, ưu tiên giải quyết hàng tồn nên không có nhu cầu lấy hàng mới. Khách ở miền Tây lo bị bùng dịch nên từ chối đặt hàng, miền Trung thì bắt đầu se lạnh nên không mua quần áo mùa hè trong khi hàng đang tồn là thời trang mùa hè sản xuất dịp trước lễ 30-4… Tôi đã thông báo giảm giá 10% cho các bạn hàng nhưng tình hình này giảm thêm nữa cũng khó” – bà Thái Trang chia sẻ.

Theo tiểu thương này, không chỉ bà mà một số bạn bè làm trong lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu, thành phẩm may mặc đang bế tắc vì không tính được đường ra cho hàng hóa. Hàng tồn còn nằm kho, phụ liệu nhập sẵn chưa sản xuất bị giảm chất lượng hoặc hư hỏng nhưng trong lúc thị trường tê liệt như hiện nay không ai dám làm hàng mới.

Ông Lý Thành Sinh, Giám đốc Công ty CP May thêu Minh Long Hưng, cũng cho biết không ít doanh nghiệp (DN) trong chuỗi cung ứng hàng may mặc nội địa bảo nhau “không làm gì”, chờ tín hiệu tích cực từ thị trường. “Chúng tôi nói vui với nhau là chờ thị trường “rã đông” dần mới tính chuyện nối lại sản xuất vì hiện tại khâu sản xuất và tiêu thụ vẫn chưa gặp nhau. Nhà sản xuất lẫn kinh doanh đều còn nhiều hàng tồn, nếu làm hàng mới sẽ nhiều rủi ro vì phải chấp nhận mua nguyên liệu giá cao trong khi thị trường đóng băng.

“Kênh bán hàng hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại thì khách chỉ tập trung mua hàng tiêu dùng thiết yếu. Chợ truyền thống chưa hoạt động hoặc mở rất ít, chợ đầu mối quần áo cũng vậy; giao thương hàng hóa giữa các tỉnh hầu như chưa thông, bạn hàng các tỉnh không lấy hàng. Sức mua hầu như không có, chuỗi cung ứng đứt gãy nên giá nguyên phụ liệu tăng khủng khiếp trong khi lực cầu không có nên không thể tăng giá bán hàng” – ông Sinh phân tích những nguyên nhân dẫn đến quyết định tiếp tục cho 100 công nhân nghỉ việc. Nhà sáng lập Minh Long Hưng còn khuyến khích công nhân tìm việc khác vì nhận định tình hình quá bấp bênh, dịch Covid-19 còn diễn biến khó lường.

“Ngành may mặc nội địa thiệt hại không thua gì ngành du lịch. Giờ muốn thị trường tốt lên thì phải kích cầu, mà để kích cầu thì người dân phải có tiền trong khi điều kiện hiện tại đại đa số đang khó kiếm tiền và tiết kiệm tiền” – ông Sinh nói thêm.

Dè dặt tìm cơ hội trong khó khăn

Trong khi các DN quy mô nhỏ buộc phải tiếp tục ngừng sản xuất để tránh thiệt hại thêm thì các DN lớn dè dặt mở lại thị trường. Ông Phạm Văn Việt, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Việt Thắng Jeans, cho biết vừa mở lại thì 12 cửa hàng của công ty (đặt tại các trung tâm thương mại Vincom) đã lập tức giảm giá 50% cho hàng mùa hè, giảm luôn 20% cho hàng thu đông để thu hút khách. Cùng với đó, công ty tung một số mẫu mã mới với sản lượng chỉ bằng 50% cùng kỳ năm 2020.

“Doanh thu tệ lắm. Chẳng hạn 6 cửa hàng ở miền Tây trong hệ thống Vincom hiện không có khách, mỗi cửa hàng chỉ bán được 1-2 triệu đồng/ngày trong khi cùng kỳ các năm trước phải đạt 10-15 triệu đồng/ngày. Mọi năm thời điểm này doanh thu nội địa đã đạt khoảng 75 tỉ đồng nhưng năm nay chỉ có 15 tỉ đồng. Cố gắng lắm, từ nay đến Tết có thể kiếm thêm 10 tỉ đồng” – ông Việt thông tin.

Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, năm 2020 đã chứng kiến sự sụt giảm về giá trị xuất khẩu. Các DN một mặt nỗ lực tìm kiếm đơn hàng, một mặt chủ động chuyển đổi cơ cấu mặt hàng và đẩy mạnh phát triển thị trường trong nước. Ngay trong đầu năm 2021, hàng loạt DN lớn trong lĩnh vực may mặc như May 10, Việt Tiến… lên kế hoạch mở rộng thị trường trong nước để khai thác hết lợi thế cũng như hiệu quả kinh tế trên “sân nhà”. Thế nhưng, dịch Covid-19 đột ngột bùng phát dữ dội làm đứt gãy chuỗi cung ứng, sản xuất lẫn lưu thông hàng hóa tại nhiều tỉnh, thành đã khiến kế hoạch này gián đoạn. Nay dịch tạm lắng, các DN kích hoạt lại kế hoạch dang dở.

Tổng giám đốc Việt Thắng Jeans cho rằng vài năm trở lại đây, xu hướng người tiêu dùng chấp nhận sản phẩm may mặc trong nước nên các DN lớn trong ngành đều có kế hoạch mở rộng thị trường nội địa. Trong bối cảnh dịch bệnh, các DN buộc phải đẩy mạnh kênh bán hàng online. Bản thân Việt Thắng Jeans đã tham gia bán hàng trên nhiều nền tảng thương mại điện tử và website công ty, doanh thu mảng online tăng nhanh từ 7% trên tổng doanh thu trước đây lên mức 20% trong năm nay.

Khả năng khan hàng dù sức mua giảm

Một số DN dự báo tình trạng nhiều DN tiếp tục “ngủ đông” cuối năm có thể dẫn đến khả năng nguồn hàng khan hiếm dù sức mua giảm mạnh so với mọi năm. Trường hợp dịch được kiểm soát tốt, không bùng phát trở lại, thời trang thu đông có thể tiêu thụ tốt tại các tỉnh miền Trung, miền Bắc. Riêng tại các tỉnh trọng điểm phía Nam, nếu sức mua tăng, DN bắt nhịp sản xuất trở lại thì với giá nguyên phụ liệu tăng cao như hiện nay, giá bán cũng sẽ tăng theo.

Bài và ảnh: Thanh Nhân

Người lao động

2021-11-15 / by / in
Bình đẳng giới trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Vinh

Tại dự án SME Trà Vinh, các nghiên cứu khảo sát lồng ghép giới đạt trên 30%; hội thảo, tập huấn, sự kiện có tỷ lệ phụ nữ tham gia trung bình là 32%.

Kế hoạch hành động về bình đẳng giới – dân tộc của Dự án SME Trà Vinh đặt mục tiêu, nâng cao năng lực về giới của các đối tác hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các cán bộ dự án. Mặt khác là cải thiện khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp do nữ và người dân tộc.

Qua đây, Dự án SME Trà Vinh cũng muốn mở rộng mạng lưới kết nối doanh nghiệp do nữ làm chủ; tăng cường sự tham gia và tiếng nói của chủ doanh nghiệp là nữ và người dân tộc trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; đảm bảo các chính sách, quy trình, thủ tục liên quan đến phát triển doanh nghiệp do tỉnh ban hành có nhạy cảm về giới.

Ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ

Tính từ lúc triển khai dự án vào năm 2014 đến nay, số lượng nữ hưởng lợi từ các hoạt động dự án là 23.765 người (chiếm 35,1%). Số lượng doanh nghiệp nữ hưởng lợi từ các hoạt động của dự án là 7.529 người (chiếm 32,9%), thông qua các hỗ trợ tài chính, dịch vụ phát triển kinh doanh, liên kết trong chuỗi giá trị, xúc tiến thương mại, các hoạt động nâng cao năng lực, đối thoại chính sách, phát triển cơ sở hạ tầng và hoạt động truyền thông.

Một trong những hoạt động nổi bật của dự án là gói hỗ trợ tài chính qua chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đối với hoạt động này, dự án có các tiêu chí đánh giá quan tâm và ưu tiên cho phụ nữ, người dân tộc (tiêu chí về phát triển cộng đồng và môi trường, điểm cộng cho các doanh nghiệp do nữ làm chủ khi tham gia chương trình hỗ trợ).

Tính đến nay, dự án đã tiếp nhận 54 hồ sơ đề xuất của 50 doanh nghiệp, cơ sở tham gia chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó, có 20 doanh nghiệp nữ.

2021-11-15 / by / in
Mở cửa hậu Covid-19: Thách thức cho doanh nghiệp

Sau khi nhiều quốc gia nới lỏng hạn chế Covid-19 và mở cửa biên giới trở lại, yêu cầu bồi thường cho người lao động dự kiến tăng lên khiến các doanh nghiệp có thể bị nhân viên kiện nếu họ mắc Covid-19 tại nơi làm việc.

Đài ABC ngày 10-11 công bố dữ liệu cho thấy kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát ở Úc, có khoảng 3.000 yêu cầu bồi thường cho người lao động liên quan tới đại dịch này đã được nộp.

Trường hợp nhân viên mắc Covid-19 tại nơi làm việc, họ có thể yêu cầu bồi thường dựa trên chương trình “Bảo hiểm việc làm” tùy theo mỗi bang quy định. Nhưng nếu người lao động tin rằng họ mắc Covid-19 là do chủ sở hữu lao động, dù sơ suất hay cố ý, họ có thể kiện ra tòa để đòi bồi thường thiệt hại.

Mặc dù vậy, ông Giri Sivaraman, Công ty Luật Maurice Blackburn (Úc), cho biết chưa ghi nhận bất kỳ vụ người lao động mắc Covid-19 nào kiện chủ sở hữu lao động vì sơ suất.

Trong một sự cố riêng biệt, Cơ quan an toàn nơi làm việc bang Victoria (WorkSafe Victoria) đang xem xét cái chết của một người lao động tên là Martin Blight, 46 tuổi, qua đời vì Covid-19 hồi tháng 9 năm nay sau những lo ngại về hoạt động không an toàn tại trung tâm cuộc gọi Serco ở TP Melbourne – Úc.

Trước đó, vào tháng 8, Ủy ban Giải quyết thương tật cá nhân bang New South Wales (NSW) yêu cầu Công ty Bảo hiểm iCare trả khoản tiền 834.200 AUD (hơn 600.000 USD) cho góa phụ của một người đàn ông mắc Covid-19 khi đang đi công tác ở Mỹ và tử vong.

Cho đến nay, 2 bang bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 nặng nhất của Úc là Victoria và NSW ghi nhận số lượng yêu cầu bồi thường cho người lao động liên quan Covid-19 cao nhất cả nước.

Tại bang Victoria, tổng chi phí yêu cầu bồi thường vì mắc Covid-19 ở nơi làm việc là 7,2 triệu AUD (5,2 triệu USD) và sắp tới dự kiến tăng lên 25,2 triệu AUD (18,3 triệu USD). Tổng chi phí yêu cầu bồi thường về các tác động khác của Covid-19 như tổn thương tinh thần và thể chất là 16,6 triệu AUD (12 triệu USD) và sắp tới dự kiến tăng lên 78 triệu AUD (56,8 triệu USD).

Còn bang NSW đã thanh toán 7,8 triệu AUD (5,7 triệu USD) tiền bồi thường cho người lao động liên quan tới khiếu nại Covid-19. Cơ quan Quản lý bảo hiểm nhà nước (SIRA) ước tính chi phí này sẽ tăng lên 638 triệu AUD (465 triệu USD) trong 12 tháng sau khi bang NSW mở cửa trở lại.

Tại Canada, Hội đồng Bồi thường người lao động British Columbia đầu tháng 11 cho biết khiếu nại liên quan tới Covid-19 ở nơi làm việc đang gia tăng. Các khiếu nại được nộp có sự dịch chuyển từ nhân viên chăm sóc sức khỏe sang các lĩnh vực khác.

“Mức tăng đột biến từ tháng 7 đến tháng 8 năm nay về cơ bản khác nhiều so với những gì chúng tôi chứng kiến vào mùa đông năm ngoái (từ 87 khiếu nại hồi tháng 7-2021 lên 246 khiếu nại hồi tháng 8-2021)” – giám đốc dịch vụ chăm sóc đặc biệt của WorkSafe British Columbia Tanya Houghton nói.

Bà Houghton lưu ý tỉ lệ tiêm phòng vắc-xin Covid-19 cao có thể khiến số lượng khiếu nại thấp hơn năm ngoái (so với 943 khiếu nại hồi tháng 12-2020). Trong bối cảnh các nhà tuyển dụng kêu gọi người lao động trở lại làm việc và văn phòng, doanh nghiệp rục rịch mở cửa trở lại, khiếu nại liên quan tới Covid-19 do nhân viên chăm sóc sức khỏe nộp đã giảm từ 75% vào mùa hè năm ngoái xuống gần 50% trong năm nay.

Phạm Nghĩa

Người lao động

2021-11-15 / by / in
Doanh nghiệp quyết liệt đòi bỏ quy định bổ sung muối i-ốt, sắt, kẽm vào thực phẩm

TTO – Sau 5 năm, mặc kệ ngành thực phẩm quyết liệt đòi Bộ Y tế bỏ quy định bổ sung muối i-ốt, sắt và kẽm khi chế biến – sản xuất, cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục lao đao với yêu cầu bổ sung vi chất này, bất chấp yêu cầu sửa đổi của Chính phủ.

Ngày 12-11, năm hiệp hội ngành nghề, gồm: Lương thực – thực phẩm TP.HCM (FFA), Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Thực phẩm Minh Bạch (AFT), Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao và Nước mắm Phú Quốc cùng đánh giá thực trạng, kết quả tác động sau 5 năm thực hiện quy định bổ sung vi chất dinh dưỡng vào trong chế biến thực phẩm theo nghị định 09/2016/NĐ-CP, ban hành tháng 1-2016 (nghị định 09) với nhiều bất cập như cách đây năm năm.

Theo bà Lý Kim Chi – chủ tịch FFA, nghị định 09 quy định “muối dùng để ăn trực tiếp, dùng trong chế biến thực phẩm phải được tăng cường i-ốt” (áp dụng từ ngày 15-3-2017) và “bột mì dùng trong chế biến thực phẩm phải được tăng cường sắt và kẽm” (áp dụng từ ngày 15-3-2018).

Tuy nhiên, thực tế các quy định này đã và đang gây ra rất nhiều khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tăng chi phí và giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thiếu hiệu quả và không phù hợp với quốc tế.

Khi thêm muối i-ốt, các sản phẩm thủy sản, rau củ quả sấy khô, thịt gia cầm sấy, các sản phẩm từ ngũ cốc sấy; các loại bột gia vị, bột chế biến sẵn để làm các loại bánh ngọt và dùng trong chế biến các loại thực phẩm; các sản phẩm ăn ngay, ăn liền… dễ dàng có phản ứng, do tính chất oxy hóa mạnh, làm các sản phẩm bị biến mùi, vị, màu sắc, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sản phẩm.

Riêng sản xuất nước mắm truyền thống, nguyên liệu chính vốn đã là cá biển, đã rất “giàu” i-ốt, quy định bổ sung i-ốt chỉ gây thêm tốn kém và làm biến đổi màu, vị tự nhiên của nước mắm.

Chưa kể, một số thị trường xuất khẩu chính không chấp nhận thực phẩm có bổ sung i-ốt, khiến doanh nghiệp phải có chứng nhận không sử dụng muối i-ốt mới xuất đi được, điển hình như Nhật Bản, khiến doanh nghiệp rất tốn kém khi phải điều chỉnh quy trình sản xuất phù hợp để đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.

Ảnh hưởng tiêu cực tương tự cũng tác động khi thực hiện quy định “bột mì dùng trong chế biến thực phẩm phải được tăng cường sắt và kẽm”. Các doanh nghiệp cho biết gặp rất nhiều khó khăn từ khâu nhập nguyên liệu, do Việt Nam phải nhập khẩu số lượng lớn bột mì từ các quốc gia khác.

Trong khi các nước xuất khẩu bột mì lại không có quy định bổ sung sắt, kẽm vào bột, nên dù các doanh nghiệp nhập khẩu có đề nghị bổ sung thêm hai vi chất nói trên, nhà cung cấp cũng không chấp thuận do e ngại đến chất lượng sản phẩm.

Các hiệp hội ngành hàng đồng kiến nghị Chính phủ “cần quyết liệt hơn nữa trong việc chỉ đạo Bộ Y tế khẩn trương sửa đổi, thay thế nghị định 09 theo đúng tinh thần nghị quyết 19-2018 Chính phủ đã ban hành”.

Điều này cũng là để Chính phủ hợp nhất và giải quyết dứt điểm tình trạng cùng một lúc tồn tại hai quy định trái chiều, mà cụ thể ở đây là nghị định 09 và nghị quyết 19-2018, đang từng ngày tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất khẩu của doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm.

Các hiệp hội cho rằng Bộ Y tế chỉ nên bắt buộc muối dùng trong nấu ăn hằng ngày và các gia vị dạng rắn như hạt nêm, viên xúp gia vị… phải bổ sung i-ốt, cũng như chỉ khuyến khích doanh nghiệp chế biến thực phẩm bổ sung thêm vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm thay vì phải yêu cầu bắt buộc, theo đúng tinh thần nghị quyết 19-2018.

Ngày 27-10-2017, Bộ Y tế đã ban hành công văn 6134/BYT-PC về việc thực hiện ý kiến kết luận của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc chỉ kiểm tra các doanh nghiệp sản xuất muối i-ốt, không kiểm tra các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm có sử dụng muối i-ốt.

Tuy nhiên, về cơ bản, công văn 6134 chỉ tháo gỡ cho doanh nghiệp ngành thực phẩm ở khâu kiểm tra, chưa giải quyết được triệt để các khó khăn, bất cập mà doanh nghiệp trong ngành gặp phải trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Ngày 15-5-2018, Chính phủ ban hành tiếp nghị quyết số 19-2018/NQ-CP, chỉ đạo Bộ Y tế “Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung nghị định số 09/2016/NĐ-CP về tăng cường vi chất dinh dưỡng trong thực phẩm theo hướng: (i) bãi bỏ quy định “muối dùng trong chế biến thực phẩm phải được tăng cường i-ốt” tại điểm a khoản 1 điều 6; (ii) bãi bỏ quy định “Bột mì dùng trong chế biến thực phẩm phải được tăng cường sắt và kẽm” tại điểm b khoản 1 điều 6. Thay vào đó, chỉ nên khuyến khích doanh nghiệp chế biến thực phẩm sử dụng”.

Nhưng thực tế hơn ba năm qua, theo các hiệp hội ngành hàng, Bộ Y tế vẫn không trình Chính phủ dự thảo sửa đổi, thay thế nghị định 09 nói trên.

Nguồn: tuổi trẻ

2021-11-15 / by / in
Doanh nghiệp tái cấu trúc để tồn tại và trụ vững

Do ảnh hưởng của dịch Covid 19 trong 2 năm qua, đến thời điểm này nhiều doanh nghiệp đang dần đuối sức. Cộng đồng doanh nghiệp xác định trong bối cảnh còn nhiều yếu tố bất định, doanh nghiệp buộc phải tái cấu trúc, thay đổi đồng bộ các chiến lược sản xuất kinh doanh.

Theo ông Phạm Đình Đoàn, Chủ tịch Tập đoàn Phú Thái, ảnh hưởng từ dịch Covid-19, ước tính con số chi phí và thiệt hại của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam có thể lên tới 200.000 – 300.000 tỷ đồng, dẫn đến việc thiếu hụt, mất cân đối về dòng tiền. Do đó, cộng đồng doanh nghiệp đang kỳ vọng vào sự hỗ trợ của nhà nước. Theo đó, nên cho các doanh nghiệp vay tạm ứng trước hoặc giãn thời gian đối với các khoản trả tới hạn, khi doanh nghiệp hoạt động ổn định trở lại sẽ hoàn trả. Đồng thời cho rằng, việc giãn nợ có thể gây ra một số mất mát, nhưng thiệt hại đó chắc chắn sẽ nhẹ hơn so với việc doanh nghiệp ngừng hoạt động.

Ông Phạm Đình Đoàn cũng nêu quan điểm, khi nguồn hỗ trợ của nhà nước vẫn còn hạn chế, doanh nghiệp cần chủ động trong việc tái cấu trúc, xem xét lại hiệu quả của từng lĩnh vực: “Bệnh dịch chắc chắn còn kéo dài, trong lúc này cho doanh nghiệp cho người dân nợ Chính phủ, bởi vì người ta rất cần dòng tiền. Đồng thời, các doanh nghiệp phải kịp thời đàm phán với các tổ chức tín dụng, nhà cung cấp, ngân hàng và khách hàng để giữ được cân bằng. Các doanh nghiệp cần tái cấu trúc lại, duy trì và đầu tư vào các lĩnh vực có tiềm năng, đồng thời, mạnh dạn cắt bỏ những mảng kinh doanh không hiệu quả”.

Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Đình Hùng, Chủ tịch Tập đoàn edX cho rằng, năm 2020, doanh nghiệp không bị ảnh hưởng nhiều từ dịch bệnh, nhưng thời gian vừa qua, dịch kéo dài và cũng không biết sẽ kéo dài thêm bao lâu nữa, đây là vấn đề doanh nghiệp rất bất an. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp xác định, muốn tồn tại thì buộc phải có giải pháp thay đổi một cách đồng bộ trên mọi mặt trận, như” tái cấu trúc chiến lược, xây dựng thương hiệu, quản trị doanh nghiệp, nhân sự online…

Doanh nghiệp tái cấu trúc để tồn tại và trụ vững - Ảnh 2.

Muốn tồn tại doanh nghiệp buộc phải có giải pháp đồng bộ

“Chuyển từ truyền thống sang kinh doanh trực tuyến, doanh nghiệp đã đẩy mạnh việc thực hiện nhân sự online làm việc online, quản lý online, bán hàng online, chuyển dịch lĩnh vực kinh doanh online. Trong quá trình triển khai phải khai thác thật kỹ dựa trên tiềm lực, lợi thế của doanh nghiệp, xem mình đang đứng ở đâu, như thế nào để chuyển dịch cho phù hợp. Đấy là cách tốt nhất đối với tất cả doanh nghiệp, chắc chắn rằng chúng ta buộc phải chuyển online, bởi vì dịch bệnh không biết bao giờ có thể dừng lại”, ông Nguyễn Đình Hùng nêu quan điểm.

“Chuyển từ truyền thống sang kinh doanh trực tuyến, doanh nghiệp đã đẩy mạnh việc thực hiện nhân sự online làm việc online, quản lý online, bán hàng online, chuyển dịch lĩnh vực kinh doanh online. Trong quá trình triển khai phải khai thác thật kỹ dựa trên tiềm lực, lợi thế của doanh nghiệp, xem mình đang đứng ở đâu, như thế nào để chuyển dịch cho phù hợp. Đấy là cách tốt nhất đối với tất cả doanh nghiệp, chắc chắn rằng chúng ta buộc phải chuyển online, bởi vì dịch bệnh không biết bao giờ có thể dừng lại”, ông Nguyễn Đình Hùng nêu quan điểm.

Theo Nguyễn Hằng

VOV

 

2021-11-15 / by / in
Bữa cơm cho công nhân chỉ 15.000 đồng sao đủ chất

“15.000 đồng/bữa ăn là quá thấp, không còn phù hợp, không đảm bảo dinh dưỡng cho công nhân. Cần phải nâng lên 20.000-25.000 đồng”, ông Nguyễn Quốc Đang – một chủ tịch công đoàn ở quận 7 (TPHCM) nói.

15.000 đồng/bữa ăn là quá thấp

Theo dự thảo báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết 7c/NQ-BCH ngày 25/2/2016, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cho biết hầu hết các doanh nghiệp đã thực hiện giá trị bữa ăn ca bằng hoặc cao hơn mức 15.000 đồng/bữa. Tuy vậy, không ít doanh nghiệp vẫn duy trì bữa ăn dưới 15.000 đồng/bữa và hàng triệu người lao động chưa được hỗ trợ bữa ăn ca.

Trước thực trạng trên, nhiều chuyên gia kinh tế, doanh nghiệp cho rằng cần nâng cao mức tiền ăn tối thiểu để phù hợp với thực tế. Các doanh nghiệp cần tập trung hơn nữa để bữa cơm của công nhân đảm bảo no, an toàn và giàu dinh dưỡng hơn.

“Mức giá 15.000 đồng đã triển khai 5 năm rồi, nay giá thực phẩm đã tăng cao hơn rất nhiều. Nếu cứ giữ mức giá này công nhân, người lao động sẽ thiệt thòi. Với mức giá này, công nhân chỉ ăn được vài món, ăn đi ăn lại đến phát ngán nhưng họ đói nên phải ăn để lấy sức làm việc. Tôi đề xuất nâng mức tối thiểu lên 20.000 đồng-25.000 đồng đối với từng khu vực”, ông Nguyễn Quốc Đang – Chủ tịch Công đoàn một doanh nghiệp ở quận 7, chia sẻ.

Doanh nghiệp nơi ông Đang đang làm việc có khoảng 1.300 công nhân. Trung bình mỗi bữa ăn của người lao động khoảng 18.000 đồng/bữa trưa và 19.000/bữa tối. Tuy vậy, người lao động vẫn chưa thực sự hài lòng về bữa ăn công ty đang triển khai.

Bữa cơm cho công nhân chỉ 15.000 đồng sao đủ chất - 2

“Giờ người lao động không chỉ ăn no mà còn phải ăn đủ chất, 15.000 đồng hay 17.000 đồng thì làm sao đủ chất. Thiết nghĩ cần phải có quy định để nâng tiền ăn tối thiếu bữa lên để người lao động được chăm sóc tốt hơn. Doanh nghiệp chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng một phần doanh thu nhưng họ đổi lại là hiệu quả trong công việc của công nhân, người lao động”, ông Đang phân tích thêm.

Ông Nguyễn Quốc An – Giám đốc công ty ANS ở quận 12 – nhận định: “15.000 đồng/bữa ăn là quá thấp nhưng có quy định nên các doanh nghiệp cứ bám vào đây để triển khai thì công nhân sẽ thua thiệt. Cần phải tăng lên 20.000 đồng hoặc cao hơn nữa, kèm theo điều kiện trượt giá theo từng năm. Thời buổi này không chăm công nhân kỹ họ sẽ bỏ đi, lúc này doanh nghiệp sẽ phải chịu tổn thất. Chúng tôi chấp nhận giảm bớt lợi nhuận để tăng tiền ăn cho công nhân”.

Bữa cơm cho công nhân chỉ 15.000 đồng sao đủ chất - 3

Không dám mơ bữa ăn đủ chất

Là công nhân may ở TPHCM đã 12 năm, chị Nguyễn Thế Thùy Dương (38 tuổi, quê Vĩnh Long) đã chuyển việc 4 lần. Một lần chuyển việc do xa nhà, 3 lần chuyển việc do bất bình về chất lượng các bữa ăn.

“Tôi là con nhà nghèo, lên TPHCM mưu sinh nên chẳng dám mơ ăn ngon, ăn đủ chất dinh dưỡng. Tôi chỉ muốn ăn uống no, hợp vệ sinh là mãn nguyện rồi. Tuy vậy, không phải công ty nào cũng quan tâm đến việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm”, chị Dương tâm sự.

Chị Dương cho rằng, nhiều doanh nghiệp đã thay đổi bữa ăn cho công nhân hơn lúc chị mới lên TP rất nhiều. Tuy vậy, không ít công nhân vẫn phải ấm ức vì bữa ăn chỉ “lèo tèo ít rau và vài miếng thịt mỏng như tờ giấy”. Thậm chí, tình trạng đồ ăn có “dị vật” hay ôi thiu vẫn xuất hiện trong bữa ăn của công nhân.

Bữa cơm cho công nhân chỉ 15.000 đồng sao đủ chất - 4

“Phải làm công nhân mới hiểu hết được bữa ăn ở trên công ty quan trọng thế nào. Có thể giảm một chút lương để thêm thức ăn chúng tôi cũng đồng ý. Tuy vậy, nếu công ty không giảm lương mà nâng cao chất lượng bữa ăn, chúng tôi cảm ơn rất nhiều”, anh Thanh Tùng, công nhân ở quận Bình Tân chia sẻ.

Theo anh Tùng, nhiều nam công nhân sau bữa cơm ở công ty vẫn phải ra ngoài ăn thêm vì không đủ no. Nhiều người nấu cơm ở nhà mang đi để tiết kiệm, có trường hợp mua bánh mì, bánh ngọt để sẵn.

“Mình phải ăn 4 chén mới no được nhưng cơm ở công ty chỉ được hơn một chén, ăn không đủ no. Nhiều chị em phụ nữ lại dư cơm nên san sẻ cho anh em. Nếu ăn không no thì ra ngoài mua bánh mì, bánh bao hoặc mì tôm ăn rồi tranh thủ vô công ty nghỉ ngơi trước khi làm việc. Công nhân mà được ăn no, ăn sạch là mừng rồi”, anh Tùng thông tin thêm.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-11 / by / in ,