Thêm kết quả...

Sau năm 2025, Việt Nam chính thức nói không với sản phẩm nhựa sử dụng một lần

Sau năm 2025, Việt Nam chính thức nói không với sản phẩm nhựa, túi nilon khó phân hủy sinh học, hộp nhựa xốp đóng gói và nhựa sử dụng một lần trong trung tâm thương mại, khách sạn, khu du lịch.

Sản phẩm nhựa sử dụng một lần là gì ?

Theo khoản 14 Điều 3 Nghị định 08/2022/NĐ-CP quy định, sản phẩm nhựa sử dụng một lần là các sản phẩm có thành phần nhựa (trừ sản phẩm gắn kèm không thể thay thế) được thiết kế và đưa ra thị trường với chủ đích để sử dụng một lần trước khi thải bỏ ra môi trường như:

– Khay, hộp chứa đựng thực phẩm

– Bát, đũa, ly, cốc, dao, thìa, dĩa, ống hút, dụng cụ ăn uống khác

Ví dụ: Khay đựng thức ăn nhanh, hộp cơm, bát, đĩa, cốc, ly, ống hút, dao, nĩa, thìa,…v.v.

sản phẩm nhựa hình 1

sản phẩm nhựa sử dụng một lần là các sản phẩm có thành phần nhựa được thiết kế để sử dụng một lần

Bao bì nhựa khó phân hủy sinh học là gì ?

Theo khoản 15 Điều 3 Nghị định 08/2022/NĐ-CP quy định, bao bì nhựa khó phân hủy sinh học là bao bì có thành phần chính là polyme có nguồn gốc từ dầu mỏ như nhựa Polyme Etylen (PE), Polypropylen (PP), Polyme Styren (PS), Polyme Vinyl Clorua (PVC), Polyethylene Terephthalate (PET) và thường khó phân hủy, lâu phân hủy trong môi trường thải bỏ (môi trường nước, môi trường đất hoặc tại bãi chôn lấp chất thải rắn).

Ví dụ:  túi nilon siêu thị, túi đựng rác, túi bóng bóng, chai nước uống, chai nước ngọt, chai dầu ăn,…v.v.

Sau năm 2025, không được sử dụng sản phẩm nhựa dùng 1 lần, túi nilon trong trung tâm thương mại, khách sạn, khu du lịch

Theo quy định tại Điều 64 Nghị định 08/2022/NĐ-CP, lộ trình hạn chế sản xuất, nhập khẩu sản phẩm nhựa sử dụng một lần, bao bì nhựa khó phân hủy sinh học và sản phẩm, hàng hóa chứa vi nhựa được quy định như sau:

– Từ ngày 01/01/2026, không sản xuất và nhập khẩu túi ni lông khó phân hủy sinh học có kích thước nhỏ hơn 50 cm x 50 cm và độ dày một lớp màng nhỏ hơn 50 µm, trừ trường hợp sản xuất để xuất khẩu hoặc sản xuất, nhập khẩu để đóng gói sản phẩm, hàng hóa bán ra thị trường.

– Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm nhựa sử dụng một lần, bao bì nhựa khó phân hủy sinh học phải thực hiện trách nhiệm tái chế, xử lý

– Giảm dần việc sản xuất và nhập khẩu sản phẩm nhựa sử dụng một lần, bao bì nhựa khó phân hủy sinh học và sản phẩm, hàng hóa chứa vi nhựa.

– Sau ngày 31/12/2030, dừng sản xuất, nhập khẩu sản phẩm nhựa sử dụng một lần (trừ sản phẩm được chứng nhận nhãn sinh thái Việt Nam), bao bì nhựa khó phân hủy sinh học (gồm túi ni lông khó phân hủy sinh học, hộp nhựa xốp đóng gói, chứa đựng thực phẩm) và sản phẩm, hàng hóa chứa vi nhựa, trừ trường hợp sản xuất để xuất khẩu và trường hợp sản xuất, nhập khẩu bao bì nhựa khó phân hủy sinh học để đóng gói sản phẩm, hàng hóa bán ra thị trường.

sản phẩm nhựa hình 2

Sau ngày 31/12/2030, dừng sản xuất, nhập khẩu sản phẩm nhựa sử dụng một lần

– UBND cấp tỉnh ban hành quy định và tổ chức triển khai hoạt động quản lý chất thải nhựa; bảo đảm sau năm 2025, không lưu hành và sử dụng sản phẩm nhựa sử dụng một lần, bao bì nhựa khó phân hủy sinh học (gồm túi ni lông khó phân hủy sinh học, hộp nhựa xốp đóng gói, chứa đựng thực phẩm) tại các trung tâm thương mại, siêu thị, khách sạn, khu du lịch, trừ sản phẩm, hàng hóa có bao bì nhựa khó phân hủy sinh học.

Như vậy, theo quy định trên, từ sau năm 2025 sẽ không được  lưu hành và sử dụng sản phẩm nhựa sử dụng một lần, bao bì nhựa khó phân hủy sinh học tại các trung tâm thương mại, siêu thị, khách sạn, khu du lịch, trừ sản phẩm, hàng hóa có bao bì nhựa khó phân hủy sinh học.

Sản phẩm nhựa sử dụng một lần và túi nilon khó phân hủy là tác nhân gây ra ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và động vật. Việc cấm sử dụng những sản phẩm này không chỉ là một biện pháp bảo vệ môi trường mà còn là một phần trong chiến lược phát triển bền vững của đất nước.

Lộ trình hạn chế sản xuất và nhập khẩu sản phẩm nhựa sử dụng một lần được quy định cụ thể, từ việc cấm sản xuất túi nilon nhỏ đến việc dừng hoàn toàn sản xuất và nhập khẩu sản phẩm nhựa sử dụng một lần vào năm 2030. Điều này cho thấy nhà nước đã có sự chuẩn bị và tính toán tính khả thi trong việc thực hiện các chính sách môi trường.

Đặc biệt, với quy định cấm sử dụng túi nilon và sản phẩm nhựa khó phân hủy tại các trung tâm thương mại, khách sạn và khu du lịch sau năm 2025 đã thể hiện cam kết mạnh mẽ của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường. Những nỗ lực này nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ hệ sinh thái và sức khỏe con người trước tác động tiêu cực của rác thải nhựa.

Tuy nhiên, việc cấm sử dụng túi nilon và sản phẩm nhựa khó phân hủy có thể ảnh hưởng đến các ngành sản xuất và tiêu dùng.

Doanh nghiệp sẽ phải tìm kiếm và chuyển đổi sang các giải pháp thay thế thân thiện với môi trường, điều này có thể tạo ra cơ hội cho các sản phẩm sinh thái và công nghệ mới. Song, cũng cần có thời gian và đầu tư để chuyển đổi.

2024-11-11 / by / in
Ngành sản phẩm nhựa Việt Nam tìm kiếm cơ hội hướng đến phát triển bền vững

Dự báo quy mô ngành sản phẩm nhựa Việt Nam sẽ đạt 10,92 triệu tấn vào năm 2024. Con số này có khả năng sẽ tăng lên 16,36 triệu tấn vào năm 2029, với tốc độ tăng trưởng hàng năm kép (CAGR) là 8,44% từ năm 2024 đến 2029.

Ngành nhựa Việt Nam có xu hướng tích cực trong nửa đầu năm 2024

Ngành sản phẩm nhựa Việt Nam đã chứng kiến một bước chuyển mình tích cực, phản ánh nỗ lực của các doanh nghiệp trong ngành nhựa

Doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam thay đổi để giữ vững doanh thu và lợi nhuận

Năm 2023, ngành sản phẩm nhựa Việt Nam gặp nhiều thử thách, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa giảm 5,7% so với 2022. Doanh thu ngành đạt 25 tỷ USD, giảm 0,7% so với 2022. Trong quý I/2024, doanh thu ngành nhựa đạt 13,7 nghìn tỷ đồng, giảm 13% so với cùng kỳ năm ngoái.

Ngành sản phẩm nhựa hình 1

ngành nhựa Việt Nam gặp nhiều thử thách, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa giảm

Tuy nhiên, lợi nhuận của ngành sản phẩm nhựa không theo hướng đó. Lãi ròng quý đầu năm nay đạt mức cao nhất trong nhiều năm. Biên lãi gộp quý 1/2024 là 15.2%, thấp 1,5% so với quý cuối năm ngoái, nhưng là mức cao nhất kể từ quý 3/2020.

Theo VietstockFinance, giữa tháng 5, 28 doanh nghiệp nhựa đã thông báo kết quả kinh doanh quý 1/2024 và nhìn chung kết quả tích cực so với năm trước. 16 công ty báo lãi tăng, 2 công ty chuyển lỗ sang lãi và 3 công ty bớt lỗ, 6 công ty giảm lãi và 1 công ty từ lãi thành lỗ.

Để ổn định kinh doanh, một số doanh nghiệp ngành sản phẩm nhựa đã điều chỉnh chiến lược và  ghi nhận sự tăng trưởng. Cụ thể, nhờ áp dụng chiến lược mở rộng và đa dạng kênh phân phối bán hàng, doanh thu Nhựa Việt Thành đạt 902 tỷ đồng, tăng 16,9 % so với quý trước.

Trong nhóm doanh nghiệp chuyển từ thua lỗ sang có lãi hoặc giảm lỗ, yếu tố chính là các công ty đã tối ưu hóa quy trình sản xuất ngành nhựa và giảm chi phí. Công ty cổ phần Nhựa Việt Nam công bố lãi dựa vào việc hoàn nhập dự phòng cho hàng tồn kho giảm giá.

Xuất khẩu nguyên liệu chất dẻo tăng trưởng mạnh mẽ

Theo Tổng cục Hải quan, hai tháng đầu năm, ngành sản phẩm nhựa Việt Nam đã xuất khẩu nguyên liệu chất dẻo đạt 449.426 tấn và doanh thu 482 triệu USD, tăng 62,5% về lượng và 48,2% về giá trị. Các sản phẩm từ chất dẻo cũng ghi nhận tăng trưởng mạnh, doanh thu là 905 triệu USD, tăng 33,1% so với cùng kỳ năm ngoái.

Ngành sản phẩm nhựa hình 2

ngành nhựa Việt Nam đã xuất khẩu nguyên liệu chất dẻo đạt 449.426 tấn và doanh thu 482 triệu USD

Tháng 1/2024, ba thị trường chính nhập khẩu chất dẻo của ngành nhựa nước ta là Indonesia, Trung Quốc và Ấn Độ. Cụ thể, xuất khẩu nguyên liệu chất dẻo sang Indonesia đạt 64.476 tấn, thu về 67,8 triệu USD. Trung Quốc nhập khẩu 43.591 tấn, giá trị đạt 36,6 triệu USD. Lượng nhập khẩu Ấn Độ đạt 19.134 tấn, thu về hơn 20,1 triệu USD.

Doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam tìm kiếm cơ hội trong thách thức

Trong bối cảnh ô nhiễm nhựa và chính sách mới về nhựa nguyên sinh, doanh nghiệp ngành nhựa của ngành nhựa Việt Nam đang tích cực tìm kiếm giải pháp và đầu tư vào công nghệ tái chế.

Bài toán ô nhiễm nhựa và chính sách giảm thiểu sử dụng nhựa nguyên sinh

Theo các chuyên gia môi trường, cộng đồng doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường nói chung. Trách nhiệm của doanh nghiệp không chỉ tuân thủ luật pháp mà còn cần đổi mới sáng tạo, cải tiến công nghệ để tối ưu hóa nguyên liệu sản xuất và giảm chất thải.

Theo số liệu thống kê, 3,2 triệu tấn là lượng nhựa của ngành sản phẩm nhựa Việt Nam mỗi năm thải ra. Trong đó có hơn 30 tỷ túi ni lông, hơn 80% số túi này bị thải ra môi trường sau khi chỉ sử dụng một lần.

Ngành sản phẩm nhựa hình 3

Các doanh nghiệp ngành nhựa đứng trước bài toán ô nhiễm nhựa

Ông Hoàng Đức Vượng, Chủ tịch Chi hội Nhựa tái sinh (Hiệp hội Nhựa Việt Nam) nhận xét: “Các doanh nghiệp thích sử dụng nhựa nguyên sinh làm nguyên liệu đầu vào bởi dễ sản xuất, còn sử dụng nhựa tái chế sẽ đòi hỏi phải thay đổi công nghệ cho phù hợp để thiết kế bao bì sản phẩm”.

Cụ thể, nguồn nhựa trong nước có nhiều tạp chất làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm nhựa tái chế. Nguồn cung cho sản xuất không ổn định khiến việc lập kế hoạch và mở rộng sản xuất khó khăn. Điều này tạo ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam trong triển khai dự án tái chế.

Không chỉ liên quan đến sản xuất nhựa sinh học hay tái chế, việc quản lý chất thải cũng buộc doanh nghiệp phải đầu tư thêm. Doanh nghiệp tiếp tục rơi vào thế khó khăn, nhưng không bỏ qua trách nhiệm với môi trường.

Ngành nhựa Việt Nam tiếp cận công nghệ và nguyên vật liệu mới 

Trong giai đoạn từ 2023 đến 2028, ngành công nghiệp nhựa tái chế của dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ CAGR 8,36%. Ngoài ra, ngành nhựa Việt Nam kỳ vọng sẽ đạt quy mô 409,9 nghìn tấn vào năm 2028.

Các nhà sản xuất của ngành nhựa Việt Nam đang nỗ lực tìm kiếm và áp dụng công nghệ tiên tiến cùng với các loại vật liệu mới nhằm bảo vệ môi trường. Các chiến lược đặt ra sẽ phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn, tiến tới một nền sản xuất bền vững và thân thiện với môi trường.

Trước xu thế này, các công ty nhựa đang từng bước chuyển hướng vào đầu tư vào sản xuất bền vững. Cụ thể, Công ty cổ phần Nhựa tái chế Duy Tân đã xây dựng nhà máy áp dụng công nghệ Bottle to Bottle. Chai nhựa đã sử dụng sẽ được tái chế thành các hạt nhựa tạo ra chai nhựa mới giúp giảm sử dụng nguồn nguyên liệu hóa thạch.

Tiềm năng thu hút nhà đầu tư quốc tế của ngành nhựa Việt Nam

Các sản phẩm nhựa thành phẩm của Việt Nam đã có mặt tại gần 160 quốc gia. Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Nhật Bản, Mỹ, Đức,… Trong năm 2023, tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm nhựa là 5,2 tỷ USD. Ngành nhựa Việt Nam kỳ vọng năm 2024, con số này sẽ tăng khoảng 4%, tương đương 5,5 tỷ USD.

Về nguyên liệu nhựa của ngành nhựa Việt Nam, trong 5 tháng đầu năm 2024, lượng nhập khẩu nguyên liệu nhựa ước tính đạt 3,29 triệu tấn, trị giá 4,52 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, con số này tăng 28% về khối lượng và 17,3% về giá trị.

Đến nay, ngành nhựa Việt Nam có khả năng sản xuất được các loại nguyên liệu như PVC, PP, PET, PS, PE với công suất gần 3 triệu tấn/năm. Nguồn nguyên liệu trong nước có thể đáp ứng 30% nhu cầu thị trường nội địa, 70% còn lại nhập khẩu từ các quốc gia khác.

Có thể nói, cơ hội lớn nhất của ngành nhựa Việt Nam là những hiệp định thương mại như Hiệp định Thương mại tự do Việt – Liên minh Châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP)… Ngành nhựa Việt Nam kỳ vọng sẽ mở rộng cơ hội xuất khẩu khi các hiệp định này có hiệu lực. Từ đó đưa ngành nhựa Việt Nam ra thị trường toàn cầu mạnh mẽ hơn.

2024-09-16 / by / in
Ngành công nghiệp sản phẩm nhựa đang phải đối mặt với những thách thức

Ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm nhựa đang phải đối mặt với những thách thức và cơ hội chưa từng có nhờ thay đổi hành vi tiêu dùng và những tiến bộ công nghệ. Đây là những xu hướng nổi bật nhất trong ngành nhựa trong những năm tới mà YP.VN xin được nêu ra cho bạn đọc:

4 xu hướng trong ngành sản xuất sản phẩm nhựa

Sự phân mảnh

Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nhựa thường có quy mô nhỏ vì họ cung cấp các sản phẩm cho các ứng dụng chuyên ngành/được đặt riêng, và được sản xuất với số lượng ít.

Nhu cầu sản phẩm nhựa gia tăng

Tăng trưởng ngành đã được thúc đẩy bởi việc mở rộng sử dụng sản phẩm nhựa trong các ngành công nghiệp có khả năng tăng trưởng cao (như xây dựng, ô tô, hàng không vũ trụ và điện tử).

Đổi mới

Các công ty đang tìm kiếm cách sử dụng mới cho sản phẩm nhựa hiện có, hoặc đang sản xuất loại sản phẩm nhựa mới hơn với các tính chất vật lý mới để thích hợp cho những ứng dụng mới.

Nhận thức về các vấn đề môi trường

Lo ngại về thiệt hại môi trường đã thúc đẩy các doanh nghiệp chú trọng hơn vào việc sản xuất các vật liệu tái tạo từ sản phẩm nhựa phân hủy sinh học.

Sản phẩm nhựa hình 1

Lo ngại về thiệt hại môi trường đã thúc đẩy các doanh nghiệp chú trọng dùng sản phẩm nhựa tái sinh

4 thách thức kinh doanh của ngành nhựa

Nhu cầu theo mùa

Một số sản phẩm nhựa có nhu cầu theo mùa. Ví dụ, các nhà sản xuất vinyl trữ hàng tồn kho vào đầu năm cho mùa xây dựng vào xuân và hè.

Vòng đời sản phẩm ngắn

Vòng đời sản phẩm nhựa đã rút ngắn từ vài năm còn vỏn vẹn chỉ vài tháng gây ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi cung ứng hàng hóa. Sự thay đổi nhanh chóng về lựa chọn của khách hàng rất quan trọng đối với các công ty nhựa để duy trì tính cạnh tranh.

Giá nguyên liệu dễ biến động

Vì nguyên liệu nhựa có nguồn gốc chủ yếu từ dầu và khí tự nhiên, giá cả và tính sẵn có của sản phẩm nhựa phụ thuộc vào giá của các nguyên liệu này. Các nhà sản xuất có thể phải trải qua nhiều lần thay đổi giá do sự biến động của giá dầu.

Mối quan tâm về môi trường

Các nhà sản xuất phải tuân thủ các quy định chi phối việc sản xuất, xử lý và làm sạch các hóa chất nguy hiểm ngày càng nhiều, vì việc sử dụng các sản phẩm nhựa góp phần gây ô nhiễm môi trường.

Khó khăn, thách thức với doanh nghiệp nội địa

Theo các chuyên gia trong ngành, tiềm năng thị trường nội địa cũng rất lớn. Lượng sản phẩm nhựa tiêu thụ bình quân mỗi người Việt khoảng 41kg/năm và tăng 14% mỗi năm. Dù tăng trưởng khả quan nhưng nhìn chung, doanh nghiệp sản phẩm nhựa vẫn còn phải đối đầu với nhiều khó khăn thách thức, nhất là khi năm 2016, hàng rào phế quan được dỡ bỏ thì áp lực cho doanh nghiệp trong nước càng lớn.

Trong khi đó, ngành sản phẩm nhựa ở một số quốc gia trong khu vực ASEAN đã có trình độ sản xuất cao hơn như Thái Lan hướng sản xuất các sản phẩm nhựa công nghệ sinh học, thân thiện với môi trường, Malaysia là nơi cung cấp màng kéo nhựa polyetylen.

Xét về góc độ cạnh tranh, các doanh nghiệp nhựa hiện vẫn bị lép vế do nguyên liệu sản xuất trong nước chỉ mới đáp ứng khoảng 30% nhu cầu, 70% còn lại đang phụ thuộc vào nhập khẩu. Bên cạnh đó, số lượng mẫu mã, chủng loại sản phẩm của ngành nhựa còn đơn điệu, chưa có nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng.

2024-07-09 / by / in
Điểm nghẽn “kìm đà” phát triển của ngành sản phẩm nhựa Việt Nam

Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành sản phẩm Nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế kỹ thuật về gia công chất dẻo, trong khi đó lại không chủ động được hoàn toàn nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất.

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ngành công nghiệp Nhựa dù còn non trẻ so với các ngành công nghiệp lâu đời khác như cơ khí, điện – điện tử, hoá chất, dệt may… nhưng đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Ngành Nhựa giai đoạn 2010 – 2020, là một trong những ngành công nghiệp có tăng trưởng cao nhất Việt Nam với mức tăng hàng năm từ 16% – 18% (chỉ sau ngành viễn thông và dệt may), có những mặt hàng tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%/năm.

Với tốc độ phát triển nhanh, ngành sản phẩm Nhựa đang được coi là một ngành năng động trong nền kinh tế Việt Nam. Sự tăng trưởng đó xuất phát từ thị trường rộng, tiềm năng lớn và đặc biệt là vì ngành nhựa Việt Nam mới chỉ ở bước đầu của sự phát triển so với thế giới và sản phẩm nhựa được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống bao gồm sản phẩm bao bì nhựa, sản phẩm nhựa vật liệu xây dựng, sản phẩm nhựa gia dụng và sản phẩm nhựa kỹ thuật cao.

Hiện nay, các sản phẩm nhựa của Việt Nam đang có mặt tại gần 160 nước. Thị trường xuất khẩu truyền thống của các công ty nhựa Việt Nam là Nhật Bản, Mỹ, một số nước thuộc khu vực Châu Âu (Đức, Hà Lan…) và ASEAN (Campuchia, Indonesia, Philippine…). Gần đây, Hàn Quốc đã trở thành một thị trường xuất khẩu lớn mới của các nhà xuất khẩu nhựa Việt Nam.

sản phẩm nhựa hình 2

Ngành sản phẩm nhựa Việt Nam mới chỉ ở bước đầu của sự phát triển so với thế giới

Thói quen ưa chuộng sử dụng sản phẩm nhựa trong cuộc sống thường ngày của người Việt, đặc biệt là các loại bao bì nhựa, nên, nhu cầu sử dụng nhựa của Việt Nam tương đối cao.

Với mức tăng trưởng kinh tế ổn định (ở mức cao so với mặt bằng chung thế giới), đặc biệt nhu cầu ngành xây dựng, hạ tầng, tiêu dùng cũng như thu nhập bình quân đầu người gia tăng (cùng với đó là sự gia tăng của tầng lớp trung lưu khiến nhu cầu mua sắm gia tăng) sẽ là động lực chính cho đầu ra ngành sản phẩm nhựa trong nước.

Bên cạnh đó, các Hiệp định tự do thương mại Việt Nam đã và đang ký kết như FTAs, và RCEP cũng là những yếu tố tích cực giúp cho sản phẩm nhựa Việt Nam tăng khả năng cạnh tranh khi xuất khẩu sang các thị trường khác. Đặc biệt, RCEP sẽ giúp các công ty Việt Nam mở rộng phạm vi khu vực nguồn nguyên liệu được đảm bảo yêu cầu quy tắc xuất xứ (nếu nguồn nguyên liệu sản xuất của các công ty Việt Nam được nhập từ 1 trong 16 nước như Australia, Newzealand, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước khu vực Đông Nam Á… đều đáp ứng quy tắc xuất xứ) để được hưởng ưu đãi giảm thuế xuất khẩu còn từ 0%-5%.

sản phẩm nhựa hình 2

Sản phẩm nhựa tiêu dùng trong nước tăng trưởng tốt nhờ nhu cầu mua sắm

Hiện nay, các sản phẩm nhựa Việt Nam được chia làm 4 nhóm chính, gồm nhựa bao bì, nhựa gia dụng, nhựa vật liệu xây dựng và nhựa kỹ thuật.

Nhựa bao bì: Đây là dòng sản phẩm nhựa có giá trị gia tăng thấp nhưng lại chiếm tới 39% giá trị sản xuất và tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam.

Ngành hàng tiêu dùng trong nước tăng trưởng tốt nhờ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của dân cư gia tăng là yếu tố then chốt giúp ngành sản phẩm nhựa bao bì đảm bảo đầu ra vững chắc. Bao bì nhựa là một ngành giao nhau giữa hai ngành Nhựa và Bao bì. Ngành bao bì nhựa có thể được phân loại thành: Bao bì mềm, phục vụ chủ yếu cho ngành thực phẩm; Chai lọ nhựa đóng hộp phục vụ chủ yếu cho lĩnh vực nước giải khát; Bao bì cứng.

Nếu như cách đây 5 – 7 năm, sản phẩm nhựa gia dụng xuất xứ từ Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia… chiếm lĩnh thị trường thì hiện nay, với những nỗ lực của DN trong nước, hàng nội ở phân khúc này đã từng bước đánh bật hàng nhập khẩu.

Tại hệ thống chợ truyền thống, sản phẩm nhựa gia dụng của DN trong nước sản xuất cũng chiếm ưu thế. Bà Nguyễn Thị Mến, kinh doanh đồ gia dụng tại chợ Nam Đồng cho biết: “Trước kia, cửa hàng chủ yếu bán các sản phẩm nhựa gia dụng ngoại nhập, nhưng hiện khoảng 90% sản phẩm nhựa bán tại cửa hàng là sản phẩm đã được người tiêu dùng bình chọn “Hàng Việt Nam chất lượng cao” như Đại Đồng Tiến, Duy Tân, Rạng Đông, Song Long, Vĩ Hưng, Tân Lập Thành…

Thực tế, qua việc tập trung nắm bắt nhu cầu thị trường trong nước, nhiều Doanh nghiệp sản xuất hàng nhựa gia dụng trong nước đã có những chuyển biến tích cực trong việc cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm. Không thua kém hàng ngoại nhập nhưng giá bán luôn thấp hơn từ 20 – 30%. Bên cạnh đó, Doanh nghiệp cũng tích cực quảng bá thương hiệu, sản phẩm Việt tới người tiêu dùng thông qua việc tham gia các chương trình quảng bá hàng Việt. Ngoài ra, Doanh nghiệp cũng chuyên nghiệp hơn trong khâu hậu mãi, ghi nhận ý kiến phản hồi từ phía khách hàng, nên khi hàng hóa lưu thông trên thị trường gặp sự cố đều được Doanh nghiệp kịp thời giải quyết.

Tổng quan theo nhiều chuyên gia kinh tế, không nên quá lo lắng vì đó sẽ là động lực để các Doanh Nghiệp nội đẩy mạnh đầu tư đưa ra được các dòng sản phẩm nhựa cao cấp, từ đó rút ngắn khoảng cách với đối thủ ngoại. Song để làm được điều này, bên cạnh sự nỗ lực của chính bản thân Doanh nghiệp cũng rất cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước về mặt hành lang pháp lý, nghiên cứu công nghệ, hỗ trợ tín dụng… Từ đó tạo điều kiện để sản phẩm nhựa gia dụng không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn tăng kim ngạch xuất khẩu trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.

2024-07-01 / by / in
Cơ hội và thách thức với doanh nghiệp ngành sản phẩm nhựa

Ngành sản phẩm nhựa Việt Nam vẫn đang đối mặt với những thách thức lớn từ việc thực thi chính sách Quy định trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR), tới việc thị trường chưa có nhiều chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, trong thách thức cũng mở ra cơ hội nếu DN Việt biết nắm bắt được kịp thời.

Nắm bắt công nghệ mới

Tổng Thư ký Hiệp hội sản phẩm Nhựa Việt Nam Huỳnh Thị Mỹ cho biết, hiện nay, cả nước có khoảng 4.000 DN ngành sản phẩm nhựa, lượng tiêu thụ chất dẻo khoảng 62kg/người và có 250.000 lao động thường xuyên trong lĩnh vực này.

Về cơ cấu thị trường sản phẩm nhựa tại Việt Nam, DN sản xuất trong mảng nhựa bao bì chiếm tỷ trọng lớn nhất với 38%. Tiếp theo là các DN hoạt động trong lĩnh vực nhựa gia dụng và nhựa xây dựng chiếm lần lượt 30% và 21%, 11% còn lại hoạt động trong lĩnh vực nhựa kỹ thuật.

Còn theo vùng miền, DN sản phẩm nhựa tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam, chiếm tỷ lệ khoảng 83,23%; khu vực miền Bắc và miền Trung lần lượt là 15,22% và 1,57%.

Trong khi đó, từ tháng 1/2024, theo quy định thực thi EPR chính thức có hiệu lực yêu cầu các nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm như pin, ắc quy, dầu nhớt, săm lốp và bao bì phải có trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì của mình sau khi người tiêu dùng thải bỏ theo tỷ lệ và quy cách tái chế bắt buộc.

Cũng theo bà Huỳnh Thị Mỹ, vấn đề ô nhiễm sản phẩm nhựa, chính sách giảm thiểu sử dụng nhựa nguyên sinh, nhựa sử dụng một lần và tăng cường sử dụng sản phẩm nhựa tái chế trên toàn cầu, nhất là những thị trường lớn như Trung Quốc hoặc Malaysia, Philippines trong thời gian tới sẽ tạo ra thách thức cho các DN trong ngành, nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội nếu biết nắm bắt kịp thời.

sản phẩm nhựa 1

Khách tham quan tìm hiểu thiết bị, vật liệu và cơ hội hợp tác sản phẩm nhựa tại HanoiPlas 2024

Đồng quan điểm, Phó Chủ tịch Hiệp hội nhựa Việt Nam Đinh Đức Thắng cho rằng, để tiếp cận được yêu cầu đối với sản phẩm nhựa trên thế giới, các DN sản xuất sản phẩm nhựa, nhà sản xuất trong nước cần tìm kiếm công nghệ, nguyên vật liệu mới phù hợp, thân thiện với môi trường để có thể đáp ứng được xu hướng phát triển kinh tế tuần hoàn, hướng đến sản phẩm nhựa bền vững và thân thiện với môi trường.

Các chuyên gia trong ngành đều nhìn nhận, trong mấy năm gần đây, nhu cầu sử dụng vật liệu xây dựng bằng nhựa sụt giảm đáng kể, khiến sản lượng đi xuống. Tuy nhiên, giá hạt nhựa PVC, PE, PP đầu vào được giao dịch ở mức ổn định trong năm 2023, giúp các DN nhựa giảm chi phí đầu vào và cải thiện biên lợi nhuận gộp.

Với Công ty CP Nhựa Bình Minh trong quý I/2024, doanh thu đạt 1.003 tỷ đồng, giảm 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, biên lãi gộp của DN sản xuất ống nhựa vẫn tích cực, đạt 42,4%, nhờ giá hạt nhựa PVC thấp. Sau khi trừ các khoản chi phí, DN này thu về 190 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, giảm 32% so với cùng kỳ năm trước.

Để đạt được hiệu quả kinh doanh trong thời điểm khó khăn hiện nay, Phó Chủ tịch Công ty CP Nhựa Bình Minh Chaowalit Treejak thông tin, DN quản lý chặt chẽ quy trình chuỗi cung ứng, cải thiện lượng hàng tồn kho, nỗ lực trong hoạt động tiếp thị và bán hàng.

Về đầu tư sản xuất, bên cạnh chủ động cam kết về môi trường, Nhựa Bình Minh đã phát triển hệ thống tự động hóa và hạ tầng IoT nhằm đảm bảo tính đồng nhất về chất lượng cao, tăng năng lực sản xuất sản phẩm nhựa cũng như chất lượng sản phẩm.

Đại diện Công ty CP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong cũng chia sẻ, nhu cầu xây dựng và sử dụng ống nhựa trong thời gian tới nhiều khả năng khó tăng trưởng do các chính sách tháo gỡ khó khăn cho ngành bất động sản cần có thời gian để phát huy; trong khi đó, việc phát hành trái phiếu DN bất động sản, và cấp tín dụng cho ngành này ngày càng chặt chẽ hơn.

Để mở rộng thị trường, công ty đã hợp tác với hãng Sekisui (Nhật Bản) để nghiên cứu thành công công nghệ sản xuất ống và phụ tùng bằng nhựa cPVC sử dụng cho hệ thống phòng cháy chữa cháy thay thế ống gang mạ kẽm hiện nay.

Dự kiến trong quý III/2024, dòng sản phẩm trên sẽ được sản xuất đại trà, tung ra thị trường và kỳ vọng đem lại nguồn doanh thu mới cho Nhựa Tiền Phong trong các năm tới.

Bên cạnh đó, thông qua việc hợp tác với hãng Sekisui, Nhựa Tiền Phong đã sản xuất và xuất khẩu được một số sản phẩm dòng sản phẩm sang châu Âu, mở ra cơ hội thâm nhập sâu hơn vào thị trường này. Trong năm nay, công ty sẽ tiếp tục gia công các sản phẩm cho đối tác tại Autralia và New Zealand để tăng cường nguồn thu.

2024-06-13 / by / in
Sản phẩm nhựa Việt Nam xuất khẩu đến hơn 160 quốc gia trên thế giới

Theo báo cáo của Hiệp hội Nhựa Việt Nam, tốc độ tăng trưởng của ngành nhựa trong 5 năm qua luôn đạt ở mức từ 12 – 15%/năm. Tổng doanh thu ngành nhựa hiện đã đạt trên 25 tỉ USD, xuất khẩu chiếm 22%, sản phẩm nhựa Việt có mặt khắp các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, Úc và cộng đồng các quốc gia châu Âu như Đức, Pháp, Anh, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha…

Sản phẩm nhựa Việt Nam xuất khẩu đến hơn 160 quốc gia trên thế giới - Ảnh 1.Các sản phẩm nhựa của Việt Nam sử dụng trong ngành cấp nước
Ảnh:M.K

Kim ngạch xuất khẩu nhựa tăng trưởng đều qua các năm, từ 3 tỉ USD trong năm 2018 lên 5,5 tỉ USD trong năm 2022, với mức tăng trưởng trung bình từ 12 – 20%/năm. Sản phẩm xuất khẩu chủ lực là bao bì, các loại tấm, phiến, màng nhựa; các sản phẩm dùng trong vận chuyển đóng gói, nhựa gia dụng, đồ dùng trang trí, vải bạt tarpaulin.

Kỳ vọng lớn nhất của ngành nhựa Việt Nam hiện nay là những hiệp định thương mại, đặc biệt là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) có hiệu lực, thuế quan của hầu hết các sản phẩm nhựa xuất khẩu vào thị trường EU được gỡ bỏ. Đây là lợi thế lớn để gia tăng sản lượng xuất khẩu của ngành nhựa Việt Nam ở thị trường quan trọng này.

Sản phẩm nhựa Việt Nam xuất khẩu đến hơn 160 quốc gia trên thế giới - Ảnh 2.Bao bì nhựa là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của ngành nhựa Việt Nam
Ảnh:M.K

Đến nay, Việt Nam có thể sản xuất được các loại nguyên liệu như PVC, PP, PET, PS, PE với tổng công suất gần 3 triệu tấn/năm. Ngành nhựa Việt Nam cũng kỳ vọng sẽ bớt phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu trong những năm tới nhờ sự cải thiện năng lực sản xuất nguyên liệu nhựa trong nước từ các nhà máy hóa dầu: Long Sơn, Dung Quất, SCG và Nhà máy sản xuất nhựa Hyosung. Đây là các nhà máy cung cấp nguyên liệu đáp ứng hơn 30% nhu cầu nguyên liệu trong nước hiện nay. 70% còn lại được nhập khẩu từ các thị trường như: Arab Saudi, Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Singapore…  Sản lượng nguyên liệu nhập khẩu tăng trưởng đều qua các năm, từ 5,589 triệu tấn trong năm 2018 tăng lên 7,12 triệu tấn trong năm 2022.

Sản phẩm nhựa Việt Nam xuất khẩu đến hơn 160 quốc gia trên thế giới - Ảnh 3.Đại hội Hiệp hội Nhựa Việt Nam nhiệm kỳ 7 (2023 – 2028) diễn ra tại TP.HCM vào 25.10
2024-04-19 / by / in ,
‘Ghế nhựa hàng bia’ lọt top 25 chiếc ghế tiêu biểu nhất thế kỷ

Ở đâu cũng có thể thấy dáng hình chiếc ghế nhựa quen thuộc. Ấy vậy mà lại lọt top những món nội thất của thế kỷ.

Mới đây, trang New York Times công bố danh sách 25 chiếc ghế tiêu biểu trong 100 năm qua, được lựa chọn bởi một nhóm 6 chuyên gia trong các lĩnh vực: thiết kế, kiến trúc và nghệ thuật. Chiếc ghế gây chú ý nhất lại là một chiếc ghế nhựa, có tên gọi là monobloc. Đây cũng chính là chiếc ghế nhựa “huyền thoại” xuất hiện ở khắp Việt Nam, từ hàng bia cho đến những quán vỉa hè, bình dân…

Ghế nhựa monobloc rất quen thuộc với tất cả mọi người.Ghế nhựa monobloc rất quen thuộc với tất cả mọi người.

Ghế nhựa đơn giản, rẻ và tiện

Nguồn gốc của monobloc vẫn còn là một bí ẩn theo các chuyên gia của New York Times. Danh tính của người thiết kế chiếc ghế nhựa này cũng như mốc thời gian nó xuất hiện cũng chẳng ai biết rõ. Mặc dù vậy, hàng triệu chiếc ghế nhựa đã được sản xuất, phủ sóng trên toàn thế giới.

Được biết, công ty thiết kế Fauteuil 300 của kỹ sư người Pháp Henry Massonnet từng có một chiếc ghế gần giống với ghế monobloc vào năm 1972. Hoặc chiếc ghế của nhà thiết kế người Canada D.C. Simpson cũng được cho là “tiền thân” của monobloc, khi được sản xuất lần đầu tiên vào năm 1946.

Chiếc ghế nhựa xuất hiện ở mọi nơi nhờ chi phí rẻ cùng độ tiện dụng Chiếc ghế nhựa xuất hiện ở mọi nơi nhờ chi phí rẻ cùng độ tiện dụng “khỏi bàn” của chúng.

Những chiếc ghế monobloc bắt đầu xuất hiện vào những năm 1980, tuy không được đánh giá quá cao về mặt thẩm mỹ song chi phí và độ tiện dụng của chúng “khỏi bàn”. Chúng vừa rẻ, vừa có tính di động, lại không thấm nước nhờ chất liệu nhựa. Đặc biệt, các phiên bản monobloc đều có thể xếp chồng lên nhau, giúp tiết kiệm diện tích và dễ làm sạch.

Nguồn: tuổi trẻ cười
2024-04-04 / by / in
Thị trường ngành nhựa Việt Nam năm 2024 ước tính đạt 10,92 triệu tấn

Theo Informa Markets Việt Nam, quy mô thị trường Nhựa Việt Nam ước tính đạt 10,92 triệu tấn vào năm 2024 và dự kiến sẽ đạt 16,36 triệu tấn vào năm 2029, tăng trưởng tốc độ CAGR đạt 8,44%, trong giai đoạn 2024 – 2029 (Mordor Intelligence, 2023). 

Theo ông Ben Wong, Tổng Giám đốc Informa Markets Việt Nam, sản lượng sản phẩm nhựa toàn cầu đã tăng gần gấp đôi kể từ đầu thế kỷ và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh do gia tăng dân số, sức mua và nhu cầu tiêu thụ nhựa hằng ngày. Tất cả chúng ta đều mong muốn nâng cao lợi ích kinh tế của ngành nhựa, đồng thời đảm bảo tính bền vững, tìm kiếm cơ hội phát triển mới.

“Giải pháp nằm ở việc giảm thiểu các vật liệu nhựa không thể tái chế, tìm nguồn cung ứng thay thế, đầu tư vào công nghệ tái chế cải tiến và phát triển nền kinh tế tuần hoàn. Với mong muốn đó, Informa Markets phối hợp cùng Messe Duesseldorf Asia để quy tụ các nhà cung cấp hàng đầu từ khắp nơi trên thế giới đến với các doanh nghiệp Việt Nam, nhằm mục đích kết nối kinh doanh quốc tế trên toàn ngành. Thông qua nỗ lực này, chúng tôi hy vọng sẽ tiến gần hơn đến những giải pháp thiết thực trước những thách thức xung quanh ngành nhựa.” – ông Ben Wongg chia sẻ.

Bà Huỳnh Thị Mỹ, Tổng thư ký Hiệp hội Nhựa Việt Nam cho biết, Ngành Nhựa Việt Nam hiện có gần 4,000 doanh nghiệp trên cả nước, phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đến 90%. Không nằm ngoài xu thế chung của thế giới, năm 2023 là một năm đầy khó khăn, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam trong năm 2023 đạt 5,2 tỷ USD, giảm 5.7% so với năm 2022. Nguyên liệu nhựa nhập khẩu năm 2023 đạt 6,8 triệu tấn giảm 4.2% so với 2022. Doanh thu ngành năm 2023 đạt 25 tỷ USD, giảm khoảng 0.7% so với cùng kỳ năm 2022.

“Trên thực tế, chúng ta đang đối mặt với những thách thức lớn trong lĩnh vực này. Vấn đề ô nhiễm nhựa, chính sách giảm thiểu sử dụng nhựa nguyên sinh và tăng cường sử dụng nhựa tái chế trên toàn cầu trong thời gian tới sẽ tạo ra rất nhiều cơ hội kinh doanh cũng như thách thức cho các doanh nghiệp trong ngành. Các nhà sản xuất sẽ tìm kiếm công nghệ mới, nguyên vật liệu mới phù hợp, thân thiện với môi trường để có thể đáp ứng được xu hướng phát triển kinh tế tuần hoàn, hướng đến sự bền vững và thân thiện với môi trường.” – Bà Mỹ thông tin.

Theo Informa Markets Việt Nam, quy mô thị trường Nhựa Việt Nam ước tính đạt 10,92 triệu tấn vào năm 2024 và dự kiến sẽ đạt 16,36 triệu tấn vào năm 2029, tăng trưởng với tốc độ CAGR đạt 8,44% trong giai đoạn 2024 – 2029 (Mordor Intelligence, 2023). Dù những ảnh hưởng của tình hình kinh tế toàn cầu lên ngành nhựa là không thể phủ nhận, các chính sách kích cầu và hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đã góp phần duy trì mức tăng trưởng của ngành nhựa Việt Nam.

Trong một vài năm tới, phân khúc nhựa xây dựng được dự báo sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành, chiếm khoảng 1/4 tổng ngành sản phẩm nhựa. Bên cạnh đó, ngành bao bì nhựa cũng sẽ được hưởng lợi từ sự tăng trưởng của các nhóm hàng tiêu dùng nhanh, nổi bật là ngành sản xuất chai nhựa, với doanh số bán chai nhựa tại Việt Nam dự kiến đạt 1,126.5 triệu USD vào năm 2033 (Future Market Insight, 2023).

Trong quá trình chuyển dịch sang nền công nghiệp nhựa tái chế, quy mô thị trường sản phẩm nhựa tái chế Việt Nam kỳ vọng sẽ đạt 409,9 nghìn tấn vào năm 2028, đạt tốc độ tăng trưởng (CAGR) là 8,36% trong giai đoạn 2023 – 2028 (Report Linker, 2023). Các mối quan tâm ngày càng cao về các vấn đề môi trường và sự gia tăng giá cả của nhựa thông thường là những yếu tố chính thúc đẩy sự tăng trưởng của phân khúc này.

Cùng với nhựa, ngành cao su Việt Nam cũng có những chuyển biến tích cực trong những tháng đầu năm. Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 1/2024 đạt khoảng 260 nghìn tấn, trị giá 365 triệu USD, tăng 92,6% về lượng và tăng 99,8% về trị giá so với tháng 1/2023.

Giá cao su tại các sàn giao dịch chủ chốt châu Á cũng có xu hướng tăng trong tháng 1/2024 do được hỗ trợ bởi triển vọng thị trường ô tô lạc quan và các biện pháp kích thích kinh tế của Chính phủ Trung Quốc, cũng như giá dầu cao hơn. Trong năm 2023, Việt Nam là một trong năm nước xuất khẩu cao su sang Trung Quốc nhiều nhất, với tổng sản lượng 1,68 triệu tấn, trị giá 2,24 triệu USD (Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, 1/2024).

Theo chia sẻ của ông Dietmar Schwank, Tham tán Thương mại, Thương vụ Đại sứ quán Áo tại TP. HCM, sự hiện diện của doanh nghiệp Áo tại Plastics & Rubber Vietnam 2024 cho thấy Việt Nam là một thị trường tiềm năng của ngành sản phẩm nhựa và cao su. Bên cạnh đó, đây là một triển lãm chuyên ngành đã tạo được uy tín trong khu vực và quốc tế, cũng như là điểm đến được mong đợi hàng năm của doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp Áo.

“Không riêng gì ngành nhựa và cao su, mà đối với nhiều ngành khác, Thương vụ Đại sứ quán Áo tại TP. HCM luôn sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong đầu tư, chuyên giao công nghệ và kinh nghiệm chuyên ngành. Thống kê tại Việt Nam, cộng đồng doanh nghiệp Áo ngày càng nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh, hợp tác đầu tư… ở đa ngành nghề, lĩnh vực.” ông Dietmar Schwank chia sẻ thêm.

2024-04-01 / by / in
Ngành sản phẩm nhựa năm 2024 kỳ vọng tăng trưởng xuất khẩu 4%

Các chuyên gia cho rằng, ngành nhựa đang đối diện với những thách thức đến từ yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp trong nước cần chú trọng sản xuất sản phẩm tái chế, cải tiến công nghệ, phát triển bền vững để hướng tới mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 4% trong năm 2024.

Bà Huỳnh Thị Mỹ, Tổng Thư ký Hiệp hội nhựa Việt Nam nhận định, xuất khẩu sản phẩm nhựa đang có những tín hiệu tích cực trong 2 tháng đầu năm.

“Tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm nhựa của năm 2023 là 5,2 tỷ USD. Chúng tôi kỳ vọng năm 2024, con số này sẽ tăng khoảng 4% (tương đương 5,5 tỷ USD – PV). Hiện tại, các thị trường xuất khẩu đang khắt khe hơn về yếu tố môi trường, đòi hỏi tín chỉ carbon, công nghệ tái chế. Điều này buộc các doanh nghiệp nhựa trong nước phải thích ứng và cải tiến, để không bị đứt gãy đơn hàng, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn”, bà Mỹ cho biết.

Đại diện Hiệp hội Nhựa cho biết, hiện có gần 4.000 doanh nghiệp nhựa trên cả nước, trong đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đến 90%. Không nằm ngoài xu thế chung của thế giới, năm 2023 là một năm đầy khó khăn, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam trong năm 2023 đạt 5,2 tỷ USD, giảm 5,7% so với năm 2022. Nguyên liệu nhựa nhập khẩu năm 2023 đạt 6,8 triệu tấn giảm 4,2% so với 2022. Doanh thu ngành năm 2023 đạt 25 tỷ USD, giảm khoảng 0,7% so với cùng kỳ năm 2022.

Trên thực tế, các doanh nghiệp đang đối mặt với những thách thức lớn. Vấn đề ô nhiễm nhựa, chính sách giảm thiểu sử dụng nhựa nguyên sinh và tăng cường sử dụng nhựa tái chế trên toàn cầu trong thời gian tới sẽ tạo ra rất nhiều cơ hội kinh doanh cũng như thách thức cho các doanh nghiệp trong ngành.

Theo bà Mỹ, Hiệp hội sẽ là cầu nối để doanh nghiệp tiếp cận tốt hơn với các doanh nghiệp quốc tế, thiết bị và công nghệ, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đơn hàng, thúc đẩy sản xuất. Bản thân doanh nghiệp cũng cần tìm kiếm công nghệ mới, nguyên vật liệu mới phù hợp, thân thiện với môi trường để có thể đáp ứng được xu hướng phát triển kinh tế tuần hoàn, hướng đến sự bền vững và thân thiện với môi trường, đáp ứng xu thế chung toàn cầu.

Đơn cử như IGREEN. Ông Đoàn Văn Tùng, Công ty Cổ phần công nghệ phát triển IGREEN cho biết “Hiện nay, công ty đang áp công nghệ tạo hạt nhựa phân hủy sinh học IGREEN là công nghệ mới nhất về tạo hạt nhựa. Trong đó, hạt nhựa phân hủy sinh học IGREEN có vòng tròn sử dụng thân thiện với môi trường. Đồng thời, công nghệ này cũng đáp ứng được các tiêu chuẩn, tín chỉ của các nước trên thế giới như đạt tiêu chuẩn quốc tế EN 13432, ASTM D6400, có nguồn gốc thực vật tái tạo trong tự nhiên, phân hủy sinh học hoàn toàn, gia công trên máy thổi màng PE…”

Một tên tuổi lớn trong ngành sản phẩm nhựa là Duy Tân cũng không nằm ngoài xu thế. Trả lời báo chí, ông Lê Anh, Giám đốc phát triển bền vững của Công ty CP Nhựa tái chế Duy Tân cho biết hoạt động tái chế nhựa tại Việt Nam không mới. Tuy nhiên, với những công nghệ cũ, lượng nhựa tái chế ra vẫn có nguy cơ gây ô nhiễm không khí và nguồn nước.

Đây là động lực thôi thúc Duy Tân đầu tư xây dựng nhà máy đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng công nghệ “Bottle to Bottle”; trong đó mỗi chai nhựa đã qua sử dụng sẽ được tái chế thành các hạt nhựa để dùng làm đầu vào sản xuất những chai nhựa mới, giúp giảm sử dụng nguồn nguyên liệu hóa thạch.

Khởi công xây dựng từ tháng 6/2019, nhà máy sản phẩm nhựa Duy Tân có diện tích 65.000 m2 tại Cụm công nghiệp nhựa Đức Hòa Hạ, tỉnh Long An. Hiện nhà máy có công suất sản xuất 30.000 tấn nhựa/năm, kế hoạch giai đoạn 2 sẽ nâng công suất xử lý lên 60.000 tấn nhựa/năm, tương đương 4,6 tỷ chai nước sẽ được tái chế.

Theo đại diện nhựa Duy Tân, trong khi nhiều người vẫn nghĩ tái chế là hành động mang tính trách nhiệm thì trên thế giới, đây là một thị trường tiềm năng với nhiều cơ hội hấp dẫn. Từ chỗ phải bỏ đi, rác thải đã trở thành nguồn tài nguyên đầu vào cho nhiều hoạt động sản xuất. Như tại Duy Tân, hạt nhựa tái sinh của công ty đáp ứng các tiêu chuẩn của Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), chứng nhận từ Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA), phù hợp để sản xuất bao bì cho ngành thực phẩm, bao gồm cả nước uống.

Ông Lê Anh đánh giá ngành công nghiệp tái chế tại Việt Nam đang bước đầu hình thành, thể hiện qua sự quy tụ của các hiệp hội tái chế bao bì giấy, kim loại, thủy tinh, nhựa,…từ đó mang tới kỳ vọng về một môi trường xanh, sạch hơn. Tuy nhiên, một thực trạng không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn phổ biến ở các quốc gia Đông Nam Á khác, đó là hoạt động phân loại rác thải tại nguồn chưa tốt.

Dữ liệu từ Future Market Insight chỉ ra, quy mô thị trường sản phẩm nhựa Việt Nam ước tính đạt 10,92 triệu tấn vào năm 2024 và dự kiến sẽ đạt 16,36 triệu tấn vào năm 2029, tăng trưởng với tốc độ CAGR đạt 8,44% trong giai đoạn 2024 – 2029 (Mordor Intelligence, 2023). Dù những ảnh hưởng của tình hình kinh tế toàn cầu lên ngành nhựa là không thể phủ nhận, các chính sách kích cầu và hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đã góp phần duy trì mức tăng trưởng của ngành nhựa Việt Nam. Trong một vài năm tới, phân khúc nhựa xây dựng được dự báo sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành, chiếm khoảng 1/4 tổng ngành nhựa. Bên cạnh đó, ngành bao bì nhựa cũng sẽ được hưởng lợi từ sự tăng trưởng của các nhóm hàng tiêu dùng nhanh, nổi bật là ngành sản xuất chai nhựa, với doanh số bán chai nhựa tại Việt Nam dự kiến đạt 1,126.5 triệu USD vào năm 2033.

2024-03-27 / by / in
Không chủ động được nguyên liệu sẽ là một “trở ngại lớn” cho ngành nhựa Việt Nam

Ngành sản phẩm nhựa hiện nay mới chỉ chủ động được khoảng 20% nguyên liệu cũng như hóa chất phụ gia đầu vào. Nếu không sớm chủ động được nguồn nguyên liệu thì đây sẽ là một trở ngại lớn cho các công ty ngành nhựa để có thể thực hiện sản xuất cũng như tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong bối cảnh Việt Nam đã và đang tham gia ký kết hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương.

Nguyên liệu đầu vào chính của ngành sản phẩm nhựa là các bột nhựa và hạt nhựa PE, PP, PVC, PS và PET, được sản xuất chủ yếu từ dầu-khí-than. Trong đó, 75%-80% nguyên liệu và phụ liệu đầu vào phục vụ cho hoạt động sản xuất nhựa phải nhập khẩu do nguồn cung trong nước hiện nay chỉ có thể đáp ứng khoảng 1 triệu tấn nguyên phụ liệu (chủ yếu là nhựa PVC, PET và PP), đặc biệt thiếu nguồn cung nguyên liệu nhựa tái sinh, công nghiệp hỗ trợ ngành nhựa chưa phát triển.

Chi phí cho nguyên liệu chiếm tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu chi phí của ngành sản phẩm nhựa. Tuy nhiên các công ty nhựa Việt Nam không thể chủ động nguồn cung cấp trong nước, phải nhập khẩu đến 80% nguyên liệu đầu vào. Tình trạng này dẫn đến việc các công ty nhựa phải duy trì tồn kho nguyên liệu lớn để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Kéo theo đó là chi phí tài chính gia tăng, cộng thêm rủi ro về thay đổi tỷ giá và giá dầu thế giới. Hạn chế này là đặc điểm chung của cả ngành nhựa Việt Nam và khó có thể thay đổi trong vài năm tới.

Bên cạnh đó, giá nhựa nguyên liệu nhập khẩu thường biến động tương ứng với thay đổi của giá dầu (nhất là thời gian vừa qua khi giá dầu tăng/giảm bất thường và khó dự báo), tạo nên những rủi ro về chi phí đầu vào và lỗ do chênh lệch tỷ giá USD/VND, làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các công ty nội địa. Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ chỉ mới tập trung vào một số sản phẩm nhựa, chưa có cơ chế và chính sách hỗ trợ riêng cho toàn ngành.

Các sản phẩm nhựa Việt Nam hầu hết nằm ở phân khúc tầm thấp nên các công ty quy mô nhỏ và vừa (chiếm hơn 90% trong tổng số 2.000 công ty nhựa) thường ít chú trọng đến việc đầu tư công nghệ, máy móc hiện đại. Chỉ có một số rất ít các công ty có quy mô sản xuất lớn chịu đầu tư chuyên sâu và có những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng. Điều này gây “trở ngại” rất lớn cho sự tăng trưởng bền vững của ngành nhựa Việt Nam.

Nhìn chung, ngành Nhựa Việt Nam mặc dù số lượng doanh nghiệp đông đảo nhưng 80% doanh nghiệp nhựa trong nước có quy mô vừa và nhỏ, với trình độ công nghệ khá hạn chế, khoảng 85% thiết bị máy móc trong ngành phải nhập ngoại.

Trong thời gian tới, doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam cần chủ động tái cơ cấu đầu tư hoặc tăng cường năng lực nghiên cứu, tập trung đầu tư máy móc, theo chuẩn công nghệ mới; giảm bớt phụ thuộc nguyên liệu nước ngoài, đa dạng hóa mẫu mã, nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng và giảm giá thành sản phẩm…

2024-03-24 / by / in