Thêm kết quả...

Bảo hiểm thất nghiệp “cứu cánh” hàng nghìn lao động trong mùa dịch

Dịch Covid-19 bùng phát khiến nhiều lao động bị mất việc làm, đặc biệt là lao động phổ thông. Bảo hiểm thất nghiệp chính là “cứu cánh” của người lao động trong thời điểm khó khăn này.

1. Sau khi mất việc, ốm đau, việc con cái học hành ập đến 

Chị Đỗ Thị Thúy (SN 1993, trú tại thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa) là giáo viên hợp đồng tại một trường tư thục trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Đầu tháng 5/2021, dịch Covid-19 phức tạp khiến nơi chị làm việc phải đóng cửa, chị thất nghiệp và phải trở về quê. Cũng do dịch nên từ khi trở về quê đến nay, chị Thúy vẫn chưa xin được công việc mới.

“Trong thời gian chưa tìm được việc làm, tôi nhận được mỗi tháng gần 3 triệu đồng tiền Bảo hiểm thất nghiệp. Số tiền này vô cùng ý nghĩa, giúp tôi phần nào bớt những khó khăn, chật vật trong cuộc sống”, chị Thúy nói.

Bảo hiểm thất nghiệp cứu cánh hàng nghìn lao động trong mùa dịch - 1

Quá trình làm hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, chị Thúy cũng được Trung tâm giới thiệu việc làm tư vấn, hướng dẫn tìm công việc mới để sớm có thể đi làm trở lại.

Chị Vũ Thị Hương (SN 1986, trú tại huyện Yên Định, Thanh Hóa) và chồng đều là công nhân tại Bình Dương. Dịch covid 19 khiến hai vợ chồng mất việc và phải trở về quê. Tuy nhiên, khoản tiền trợ cấp thất nghiệp của hai vợ chồng đã giúp gia đình phần nào bớt nỗi lo cơm áo.

“Mình và chồng mỗi người được nhận hơn 4 triệu đồng/tháng. Nếu không có khoản tiền này không biết phải xoay xở ra sao giữa mùa dịch. Sau khi bị mất việc, mình ốm đau liên miên, con cái bước vào năm học mới rất tốn kém. Khoản tiền đó như cứu cánh cho cả gia đình”, chị Hương bộc bạch.

Không chỉ riêng chị Thúy, vợ chồng chị Hương mà có hàng nghìn người lao động từ khắp nơi trở về Thanh Hóa được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Chính sách này giúp họ duy trì cuộc sống trước mắt cho đến khi tìm được việc làm mới và quay trở lại thị trường lao động.

2. Lao động mất việc ngày càng tăng

Theo Trung tâm dịch vụ việc làm Thanh Hóa, từ đầu năm đến nay, đơn vị đã tiếp nhận hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp cho gần 17.000 lao động bị mất việc làm; thẩm định hồ sơ và ra quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho hơn 17.000 người.

Số lượng lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ngày càng tăng. Trong tổng số người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp thì nhóm lao động phổ thông (không có bằng cấp, chứng chỉ nghề chuyên môn) chiếm tỷ lệ cao nhất. Số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp quý 2/2021 là 7.198 người, tăng 99,06% so với quý 1/2021, giảm 36,42% so với cùng kỳ năm 2020.

Theo ông Nguyễn Xuân Vinh, Phó Giám đốc Trung tâm dịch vụ việc làm Thanh Hóa, hiện người lao động đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp có 2 nhóm là tự nghỉ việc hoặc doanh nghiệp cho nghỉ việc do ảnh hưởng của dịch bệnh. Tuy nhiên, người lao động bị mất việc do dịch chiếm hơn 60%.

Đối tượng người lao động đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất từ 25-40 tuổi.

Bảo hiểm thất nghiệp cứu cánh hàng nghìn lao động trong mùa dịch - 2

Cũng theo ông Vinh, từ đầu năm 2020 đến nay, mặc dù số lao động bị thất nghiệp và hưởng trợ cấp thất nghiệp tăng, nhưng quyền lợi của 100% số người tham gia chính sách này vẫn được bảo đảm.

“Trung tâm phối hợp với các trường nghề để tư vấn học nghề cho người lao động; thu thập thông tin về thị trường để nắm bắt, cập nhật tình hình biến động lao động, khai thác vị trí việc làm trống để tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động.

Bên cạnh đó cung cấp thông tin về thị trường lao động cho người sử dụng lao động, góp phần điều tiết thị trường lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp”, Phó Giám đốc Trung tâm dịch vụ việc làm Thanh Hóa cho biết thêm.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-09-29 / by / in
Cần chăm lo tốt kinh tế để giữ chân người lao động sau mùa covid-19

Nhiều doanh nghiệp (DN) đã nhìn nhận như vậy tại buổi Cà phê doanh nhân lần thứ 58 chủ đề “An sinh xã hội cho người lao động và tổ chức sản xuất an toàn” do Hiệp hội DN TP HCM (Huba) tổ chức chiều 20-8.

Ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Huba, cho biết thời gian qua, các DN đã dốc sức để cùng thành phố chăm lo an sinh xã hội. Dù vậy, cũng cần quan tâm, chăm lo cho người lao động đang làm việc hoặc đã nghỉ việc tại đơn vị mình thông qua các hoạt động phối hợp với MTTQ, các cơ quan, ban ngành ở địa phương. Chăm lo cho người lao động là chăm lo cho nguồn lực sản xuất, vì vậy DN cần chủ động tăng cường thực hiện công tác này để không người lao động nào đang gặp khó khăn mà bị bỏ sót.
Tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh Covid – 19 trong công nhân lao  động

Ông Trần Đoàn Trung, Phó Chủ tịch Thường trực Liên đoàn Lao động TP HCM, cho biết dù hệ thống Công đoàn TP đã rất nỗ lực chăm lo cho 107.000 người lao động trực tiếp bị ảnh hưởng bởi dịch và hỗ trợ hơn 250.000 người đang gặp khó khăn theo Nghị quyết 09 của thành phố nhưng không tránh khỏi việc bỏ sót một số trường hợp. Vì vậy, cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa DN với hệ thống Công đoàn để công tác chăm lo, hỗ trợ cho người lao động gặp khó khăn trong đại dịch lần này được hiệu quả hơn.

“Nhiều DN đặt vấn đề sử dụng kinh phí Công đoàn tích lũy để chăm lo người lao động cũng như hỗ trợ người lao động vượt qua giai đoạn khó khăn, Công đoàn cũng sẵn sàng và DN nên có tác động thêm” – ông Trung nói.

Quảng Ninh tăng cường phòng, chống dịch Covid-19 dịp nghỉ lễ 30-4 và 1-5 -  Báo Nhân Dân

Liên quan đến việc tổ chức sản xuất an toàn, các DN đánh giá thành phố đưa ra 4 phương án tổ chức sản xuất cho DN là nỗ lực rất lớn, thể hiện sự quan tâm tạo điều kiện đặc biệt đối với DN, giúp cho DN có điều kiện xử lý linh hoạt hơn, thuận lợi hơn so với phương án “3 tại chỗ” và “1 cung đường – 2 điểm đến” đang thực hiện. Tuy nhiên, để DN vận dụng một phương án nào thì cũng còn rất nhiều khó khăn, bởi điều kiện nơi ở của công nhân, các phòng trọ và khu nhà trọ rất khó đáp ứng được yêu cầu về “nơi ở xanh”.

Các ý kiến đóng góp của DN một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết phủ vắc-xin cho người lao động, đặc biệt là công nhân lao động tại các DN sản xuất hàng hóa thiết yếu.

Một số DN đề xuất thành phố sớm có hướng dẫn cụ thể phương thức sản xuất an toàn cho DN. “Công ty chúng tôi muốn luân chuyển người lao động nhưng chưa biết cách thực hiện, rất cần cơ quan chức năng hướng dẫn” – bà Lâm Thúy Ái, Chủ tịch HĐQT Công ty Mebipha, nêu ý kiến. Theo bà Ái, Mebipha vẫn thực hiện 3 tại chỗ bởi đây là giải pháp bảo đảm an toàn nhất cho DN trong bối cảnh hiện nay. Để kéo dài thời gian “3 tại chỗ”, DN buộc chăm lo an sinh xã hội cho người lao động đang thực hiện “3 tại chỗ” để họ yên tâm hơn.

Rà soát, nắm chắc số liệu lao động tự do gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch  Covid-19

Ông Nguyễn Đặng Hiến, Chủ tịch HĐTV, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Tân Quang Minh – Bidrico, thừa nhận DN rất khó kiếm lợi nhuận khi thực hiện “3 tại chỗ” vì chi phí cao, cán bộ – công nhân viên căng thẳng… Dù vậy, đây là giải pháp cần duy trì để bảo đảm chuỗi sản xuất – cung ứng không bị đứt gãy, tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Nguồn: nld.com.vn

2021-09-28 / by / in
Doanh nghiệp chăm lo nơi ăn, chốn ở cho người lao động vượt qua COVID-19

Dịch COVID-19 bùng phát, doanh nghiệp tại Đồng bằng Sông Cửu Long  (ĐBSCL) nói riêng và trên cả nước nói chung, gặp không ít khó khăn trong việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh không bị đứt gãy.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư nhà ở tập thể, kí túc xá cho công nhân từ trước. Việc thực hiện mô hình “3 tại chỗ” trở nên tương đối dễ dàng với cơ sở có sẵn, đảm bảo an toàn phòng, chống dịch, duy trì hiệu quả năng suất sản xuất.

Là doanh nghiệp chuyên sản xuất bột cá trên địa bàn huyện biên giới Tri Tôn (tỉnh An Giang), Công ty TNHH Sản Xuất Thương Mại & Dịch Vụ Hải Thuận An Giang  vẫn đảm bảo chuỗi sản xuất 200 tấn nguyên liệu/ngày đêm trong điều kiện dịch bệnh diễn biến phức tạp. Cựu chiến binh Lê Hữu Có, Chủ tịch HĐQT Công ty Hải Thuận An Giang cho biết, nhà máy hoàn thành và đưa vào hoạt động từ năm 2015.

Công ty đã quyết định mua thêm đất, xây dựng nhà ở tập thể cho công nhân, nằm trong khuôn viên của công ty, nhưng biệt lập với khu vực chế biến, sản xuất. Ngoài “bao ở”, ông Có còn “bao ăn” cho hàng chục cặp vợ chồng công nhân ở tại khu tập thể, rồi chi trả cả chi phí điện, nước sinh hoạt, hỗ trợ tiền học cho con của công nhân…

Doanh nghiệp chăm lo nơi ăn, chốn ở cho người lao động vượt qua COVID-19 -0

Nhờ có cơ sở lưu trú sẵn có, sự gắn kết giữa công ty và người lao động nên khi dịch COVID-19 bùng phát, Công ty Hải Thuận An Giang vẫn duy trì hoạt động thông suốt với khoảng 60 công nhân lao động theo mô hình “3 tại chỗ”. Ông Có còn quyết định duy trì mức lương ổn định, thấp nhất là 6 triệu đồng/tháng cho công nhân. Công ty đã liên hệ Sở Công thương tỉnh An Giang đăng ký và đã hoàn thành việc tiêm mũi 1 vaccine ngừa COVID-19 đối với tất cả nhân viên, công nhân.

“Ngày xưa, tôi cũng từng nghèo khó được giúp đỡ mà có được ngày nay. Vì vậy, giờ tôi luôn xem và ứng xử với công nhân là “người một nhà”. 100% công nhân của công ty là người địa phương. Ngoài duy trì hoạt động của doanh nghiệp, tôi cũng cố gắng đảm bảo đời sống của anh em công nhân. Giờ mình ngưng hoạt động thì anh em cũng gặp khó”. – ông Có chia sẻ.

Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam đặt tại huyện Châu Thành (tỉnh Hậu Giang) là một trong những điển hình tiêu biểu trên vùng “đất lúa” về việc áp dụng thành công mô hình “3 tại chỗ”. Năm 2018, công ty đầu tư hơn 380 tỷ đồng để xây dựng khu nhà ở cho chuyên gia và công, nhân viên với sức chứa lên tới 1.500 người.

Chăm lo trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19

Đặc biệt, khu kí túc xá trang bị đầy đủ tiện nghi với các hạng mục phụ trợ phục vụ cho nhu cầu làm việc, vui chơi giải trí đi kèm như: Sân bóng đá, phòng tập gym, phòng đào tạo, hội trường, nhà ăn… nhân viên được miễn phí tất cả chi phí không có bất kỳ điều kiện ràng buộc nào. Việc sở hữu ký túc xá với quy mô lớn đã giúp Công ty Giấy Lee & Man Việt Nam hoàn toàn chủ động khi thực hiện mô hình “3 tại chỗ” trong đợt dịch bệnh lần này. Từ khi đợt dịch thứ 4 bùng phát, có khoảng 1.100 công, nhân viên của công ty được bố trí ăn, ở trong khu kí túc xá, đảm bảo các công đoạn sản xuất được vận hành trơn tru, đạt hiệu quả.

Ông Chung Wai Fu, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam chia sẻ, hiểu được những khó khăn của người lao động giai đoạn này, công ty chủ trương tăng 20-30% so với mức lương cố định trong vòng 3 tháng cho toàn thể cán bộ, nhân viên lao động theo phương án “3 tại chỗ”. Bên cạnh đó, công ty cũng liên tục cấp phát khẩu trang y tế, nước sát khuẩn… miễn phí để nhân viên tăng cường sức khỏe mỗi ngày. Toàn bộ công nhân của công ty đã được tiêm vaccine mũi 1 và thực hiện xét nghiệm nhanh 2 lần/tuần.

Ngoài việc được phát phiếu mua hàng miễn phí tại siêu thị mini trong khu ký túc xá, nhân viên sử dụng xe gắn máy có thể đến trạm xăng trong công ty để đổ xăng và ăn uống miễn phí 3 lần mỗi ngày. “Chúng tôi quan niệm, con người khoẻ thì công ty mới có thể “khoẻ” và vận hành tốt”, ông Chung Wai Fu cho biết về “chiến thuật” vận hành của công ty.

Doanh nghiệp chăm lo nơi ăn, chốn ở cho người lao động vượt qua COVID-19 -0

Tại huyện đồng bằng ven biển Gò Công Đông (tỉnh Tiền Giang), Công ty TNHH Sản xuất Thương mại và Dịch vụ Kim Tuấn Vàm Láng, với 10 phòng lớn tại khu nhà ở tập thể có sẵn, đã thuận tiện cho việc bố trí hơn 50 công nhân lưu trú, duy trì sản xuất với mô hình “3 tại chỗ”.

Bà Huỳnh Thị Xuân Mai, Giám đốc công ty, cho biết: “Năm 2009 khi công ty thành lập, thấy một số công nhân hàng ngày đi về vất vả, một số khác thì tốn kém chi phí cho việc thuê mướn nhà trọ, lãnh đạo công ty quyết định xây dựng nhà ở tập thể miễn phí cho công nhân”. Lo từ trước, nên khi dịch bệnh bùng phát, Công ty Kim Tuấn Vàm Láng không rơi vào tình thế bị động, vẫn duy trì tốt hoạt động sản xuất …

Theo thống kê của VCCI Cần Thơ, chỉ trong 3 tháng gần đây, toàn vùng ĐBSCL đã có trên 10.000 doanh nghiệp rời thị trường. Nhiều doanh nghiệp không có sở lưu trú cho công nhân, để duy trì sản xuất trong điều kiện dịch bệnh diễn biến phức tạp. Các doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế đã chọn hình thức thuê khách sạn cho công nhân ở, đảm bảo thực hiện quy trình “một cung đường, hai điểm đến”. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, đây là một biện pháp để giải quyết tình huống cấp bách nhưng không thể vận hành lâu dài vì chi phí quá cao sẽ gây khó trong việc ổn định mức giá đầu ra cho sản phẩm.

Mặt khác, công nhân không được ăn, ở tại nơi làm việc nên nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh từ bên ngoài vào nơi sản xuất là rất cao. Chính vì thế, vấn đề nhà lưu trú cho công nhân là vấn đề “sống còn” không chỉ trong thời điểm dịch bệnh, mà còn là “xương sống” gắn kết giữa người lao động và các doanh nghiệp…

Nguồn: cand.com.vn

2021-09-28 / by / in
Hàng loạt doanh nghiệp lãi khủng trong mùa dịch Covid

Không kể nhóm doanh nghiệp tài chính là ngân hàng, chứng khoán thì rất nhiều công ty bán lẻ đến sắt thép, bất động sản… đều công bố lợi nhuận tăng cao trong 6 tháng đầu năm nay.

Nhiều doanh nghiệp sản xuất mì gói, dầu ăn... lãi lớn trong mùa dịch /// M.P

Sản xuất mì ăn liền, dầu ăn, bán lẻ đều lãi khủng

Công ty CP Tập đoàn Masan (MSN) công bố lũy kế 6 tháng đầu năm nay đạt doanh thu 41.898 tỉ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước và lợi nhuận gộp thu về 9.161 tỉ đồng, tăng 17%. Kết quả sau khi khấu trừ chi phí, Masan lãi sau thuế 1.396 tỉ đồng trong khi cùng kỳ năm trước bị lỗ 162 tỉ đồng. Trong đó, tăng trưởng mạnh nhất là mảng thịt MEATLife với doanh thu tăng đến 34% lên 9.635 tỉ đồng. Bên cạnh đó, sản phẩm tiêu dùng có thương hiệu cũng tăng lợi nhuận đáng kể, đặc biệt các dòng sản phẩm mì gói hay snack khác được tiêu thụ mạnh giữa đại dịch. Hay Công ty CP Tập đoàn PAN (PAN) lũy kế 6 tháng đạt doanh thu hợp nhất 3.960 tỉ đồng, tăng 27% và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ 83 tỉ đồng, tăng 65% so với cùng kỳ. PAN cho biết nối tiếp sự phục hồi ổn định từ nửa cuối năm 2020, trong quý này mức tăng doanh thu đạt được phần lớn do sự tăng trưởng trong mảng giống cây trồng, gạo đóng gói, tôm xuất khẩu và bánh kẹo. Còn với Tập đoàn KIDO (KDC), kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2021 ghi nhận doanh thu thuần đạt 4.898 tỉ đồng, tăng 34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu thuần ngành dầu ăn tăng 36% và ngành hàng thực phẩm tăng 22%. Lợi nhuận sau thuế của KDC đạt 351 tỉ đồng, tăng mạnh 163% so với cùng kỳ năm trước. Điều này có được nhờ nhiều đơn vị thành viên của KDC hiện gồm dầu ăn Tường An, dầu Vocarimex, KIDO Nhà Bè đều tăng cao về doanh thu và lợi nhuận.
Masan Group lãi giảm 78% trong năm 2020, vay nợ thêm 32.000 tỷ đồng
Đáng chú ý là Công ty CP Hoàng Anh Gia Lai (HAG) dù báo cáo doanh thu hợp nhất trong 6 tháng đầu năm nay giảm mạnh do không còn hợp nhất với báo cáo tài chính của Công ty CP nông nghiệp quốc tế Hoàng Anh Gia Lai – HAGL Agrico nhưng cũng có lãi ròng gần 28 tỉ đồng trong khi cùng kỳ lỗ hơn 1.155 tỉ đồng. Trong đó, mảng chăn nuôi heo sau 1 năm tuyên bố đầu tư chính thức ghi nhận doanh thu với 190 tỉ đồng, thậm chí cao hơn doanh thu cốt lõi là mảng trái cây và đạt mức lãi gộp với 94 tỉ đồng.
Hoàng Anh Gia Lai "đau đầu" vì nợ vay
Không chỉ có các doanh nghiệp (DN) sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu, một số công ty bán lẻ cũng tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng. Công ty CP bán lẻ FPT (FRT) công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm với doanh thu đạt 9.024 tỉ đồng, tăng 24% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm; lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 76 tỉ đồng, tăng 189% và hoàn thành 63% kế hoạch năm. Chuỗi bán lẻ này nhờ tăng trưởng doanh thu laptop tăng đến 31% và chuỗi nhà thuốc Long Châu tăng doanh số gần gấp 3 lần so với 6 tháng của năm 2020. Thậm chí như Công ty CP vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) cũng báo cáo doanh thu trong 6 tháng đầu năm nay tăng gấp rưỡi lên 11.637 tỉ đồng và lãi sau thuế 736 tỉ đồng, tăng 67% so với 6 tháng năm 2020…
Hàng loạt doanh nghiệp lãi khủng trong mùa dịch1

Đến doanh nghiệp sắt thép, bất động sản…

Ngoài những công ty được chú ý từ mảng tiêu dùng, hàng thiết yếu thì từ đầu năm đến nay, các DN ngành thép cũng luôn có kết quả kinh doanh ấn tượng. Ví dụ như Tập đoàn Hòa Phát (HPG) ghi nhận doanh thu gần 66.900 tỉ đồng, tăng 67% so với cùng kỳ, lợi nhuận sau thuế đạt 16.723 tỉ đồng, gấp 3 lần cùng kỳ 2020. Đại diện Hòa Phát cho biết nửa đầu năm, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, giá nguyên vật liệu đầu vào sản xuất thép như than luyện coke, quặng sắt tăng cao. Tuy nhiên Hòa Phát vẫn duy trì sản lượng sản xuất phục vụ đủ nhu cầu thị trường trong nước và giá bán ra luôn thấp hơn so với giá trên thị trường thế giới. Đồng thời các lĩnh vực nông nghiệp và bất động sản cũng duy trì đà tăng trưởng như sản lượng bò Úc tiếp tục giữ thị phần số 1, tổng đàn chăn nuôi heo an toàn sinh học phát triển tốt, phấn đấu đạt khoảng 450.000 con thương phẩm trong năm nay. Sản lượng trứng gà hiện dẫn đầu miền Bắc và đã vào hàng loạt siêu thị lớn trên toàn quốc với khoảng 730.000 quả/ngày…
Gu' của tỷ phú Trần Đình Long Hòa Phát: Đầu năm khiêm tốn, cuối năm báo lãi  khủng
Có nhiều lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng do đại dịch Covid-19 nhưng Tập đoàn Vingroup vẫn đạt doanh thu thuần hợp nhất trong 6 tháng là 61.770 tỉ đồng, tăng 59% so cùng kỳ năm trước và lợi nhuận trước thuế đạt 6.403 tỉ đồng, tăng 4,6% cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ lũy kế 6 tháng đạt 3.305 tỉ đồng, tăng 33% cùng kỳ 2020.
Trong 6 tháng đầu năm nay, thị trường bất động sản nhà ở được đánh giá gặp nhiều khó khăn, công tác bán hàng ở nhiều dự án bị đình trệ, nhưng hàng loạt công ty cũng báo cáo tăng trưởng về lợi nhuận với nhiều khoản nhờ chuyển nhượng dự án, thu nhập tài chính. Có thể kể đến như Công ty CP TTC Land (SCR) có doanh thu 6 tháng đầu năm đạt 1.199 tỉ đồng, tăng gấp 5 lần so với cùng kỳ 2020. Đồng thời, lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 220 tỉ đồng, tăng 3,5 lần so với cùng kỳ 2020 và thực hiện đến 95% kế hoạch năm. Công ty CP xây dựng Hòa Bình (HBC) đạt doanh thu thuần gần 5.443 tỉ đồng, tăng nhẹ so với cùng kỳ. Tuy nhiên, nhờ thu nhập đột biến từ chuyển nhượng các khoản đầu tư, lãi ròng của HBC ghi nhận hơn 73 tỉ đồng, gấp 5,6 lần 6 tháng năm 2020; Công ty CP Phát Đạt doanh thu thuần đạt 1.124 tỉ đồng, giảm 4,9% nhưng lợi nhuận sau thuế 6 tháng đầu năm đạt 502 tỉ đồng, tăng 80% so với lợi nhuận đạt được nửa đầu năm ngoái nhờ trong quý 2/2021 ghi nhận lợi nhuận từ việc chuyển nhượng và bàn giao một số nền đất tại dự án Phân khu số 2 thuộc khu đô thị sinh thái Nhơn Hội – Bình Định…

Lợi nhuận sẽ chậm lại trong 6 tháng cuối năm?

Theo thống kê của FiinGroup, tính đến ngày 20.7 đã có 213/1.759 DN niêm yết trên thị trường công bố báo cáo tài chính hoặc ước tính kết quả kinh doanh cho quý 2/2021. Trong đó có 11 ngân hàng (chiếm 39,3% vốn hóa ngành) và 198 DN (chiếm 15% vốn hóa khối phi tài chính). Doanh thu thuần của 198 DN phi tài chính ước tăng 35,3% so với cùng kỳ năm trước và 19,5% so với quý 1/2021. Trong khi đó, lợi nhuận sau thuế tăng lần lượt là 75,3% so với cùng kỳ 2020 và 22,6% so với quý đầu năm nay. Mức tăng chung chủ yếu đến từ ngành tiện ích, dầu khí và thép, phần lớn nhờ giá hàng hóa (dầu, và thép) tăng mạnh. Tuy nhiên, FiinGroup nhận định tăng trưởng trong quý 3/2021 của các ngành này đang đối mặt với thách thức lớn là dịch Covid-19 bùng phát trên diện rộng làm giảm nhu cầu tiêu thụ xăng dầu, nhu cầu tiêu thụ khí của các nhà máy điện khí thường thiếu ổn định vào mùa mưa; quý 3 thường là thấp điểm tiêu thụ thép và giá thép trong nước đang hạ nhiệt. Đáng chú ý, doanh thu quý 2/2021 của các DN này tăng tốc so với quý 1/2021 nhưng tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế đã chậm lại dù vẫn duy trì ở mức cao. Riêng nhóm ngành bất động sản, xây dựng và vật liệu, hóa chất, công nghệ thông tin là những nhóm ngành có lợi nhuận sau thuế tăng chậm lại trong quý 2 vừa qua.
Hòa Phát báo lãi quí III cao kỉ lục, gấp đôi cùng kì
Chuyên gia kinh tế, TS Đinh Thế Hiển cũng nhận định hàng loạt DN báo lãi 6 tháng đầu năm nay tăng cao là do nhiều hoạt động thương mại, sản xuất kinh doanh đã tăng trưởng mạnh trong quý đầu năm, nhất là so với mức sụt giảm sâu của quý đầu năm trước. Riêng nhóm ngành bất động sản dù nguồn thu chính sụt giảm nhưng vẫn có những đơn vị tăng mạnh lãi từ chuyển nhượng dự án, đầu tư tài chính… Trong khi đó, dịch Covid-19 diễn ra tại VN từ cuối tháng 5 đến nay chủ yếu ảnh hưởng mạnh đến những công ty trong ngành F&B như nhà hàng, khách sạn và một số DN nhỏ. Vấn đề lo ngại là 6 tháng cuối năm nay nếu dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp và kéo dài hơn thì nhiều DN sẽ bắt đầu bị ngấm thiệt hại, từ đó mới bộc lộ trong báo cáo từ quý 3/2021.
Nguồn: thanhnien.vn
2021-09-28 / by / in
Cứ 10 doanh nghiệp thì đến 9 nơi phải cho lao động nghỉ việc

Theo khảo sát do Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI) thực hiện trong tháng 9/2021 trên gần 3.000 doanh nghiệp, xấp xỉ 94% xác nhận, dịch Covid-19 gây tác động tiêu cực.

Đáng nói, theo VCCI, các doanh nghiệp cho biết, vấn đề sử dụng, quản lý lao động, trung bình có 90,8% doanh nghiệp được hỏi đã giảm quy mô lao động trong thời kỳ diễn ra dịch bệnh.

“Cứ khoảng 10 doanh nghiệp thì có xấp xỉ 9 doanh nghiệp chấp nhận cho người lao động thôi việc do hoạt động sản xuất kinh doanh kém khả quan trong thời gian dịch bệnh bùng phát”, báo cáo của VCCI cho hay.

Cứ 10 doanh nghiệp thì đến 9 nơi phải cho lao động nghỉ việc - 1

Theo phân tích của VCCI, tình trạng doanh nghiệp buộc phải cho lao động nghỉ việc tương đối giống nhau ở tất cả các nhóm quy mô doanh nghiệp, trong đó khoảng 92% doanh nghiệp quy mô lớn. trong khi đó, doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa là từ 81-90%.

Tình trạng người lao động mất việc làm diễn ra phổ biến nhất ở các ngành dịch vụ. Trên 97% doanh nghiệp ở các ngành giáo dục và đào tạo, hoạt động hành chính và dịch vụ, và dịch vụ lưu trú và ăn uống trả lời khảo sát đã phải giảm số lao động trong thời gian dịch bệnh.

Tình trạng người lao động mất việc làm do ảnh hưởng từ dịch bệnh phổ biến nhất ở các tỉnh Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh duyên hải miền Trung với lần lượt 95%, 93% và 92% doanh nghiệp đang hoạt động ở các vùng này báo cáo việc cho người lao động thôi việc.

Tỷ lệ tương ứng ở các khu vực khác thấp hơn 90% nhưng cũng tương đối cao; nơi ít nhất là Đồng bằng sông Hồng, nhưng cũng có 78% doanh nghiệp phải giảm số lao động.

Chính sách đối với người lao động nghỉ việc vì ảnh hưởng bởi dịch Covid-19  - VietNamNet

Theo VCCI, lao động đang là vấn đề lớn của các doanh nghiệp trong việc duy trì, khôi phục sản xuất kinh doanh. Sau thực hiện giãn cách xã hội, giảm năng lực sản xuất, rất nhiều lao động của các doanh nghiệp đã trở về địa phương và nơi cư trú.

Và mặc dù tại các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM, người dân đã được tiêm vắc xin chiếm tỷ lệ rất cao, tuy nhiên việc đi lại của người dân, người lao động đang gặp khó khăn, cản trở, nhất là đi lại giữa các địa phương dẫn tới tình trạng doanh nghiệp thiếu nghiêm trọng lực lượng lao động.

VCCI đề nghị các Bộ Y tế, Bộ Thông tin & Truyền thông khẩn trương hoàn thiện hệ thống “Thẻ xanh Covid-19”, thống nhất sử dụng 1 nền tảng/ứng dụng, liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành liên quan để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân sử dụng, trong đó, lưu ý tích hợp/liên thông dữ liệu giữa hệ thống quản lý thẻ xanh trong nước với “hộ chiếu vắc-xin”, tạo thuận lợi cho đối tượng chuyên gia, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Các địa phương cần chủ động hỗ trợ cho các doanh nghiệp tại địa phương thu hút lực lượng lao động quay trở lại làm việc; chủ động xây dựng phương án hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động từ các địa phương khác trở về.

Tạm nghỉ việc vì dịch Covid-19, người lao động được hưởng những quyền lợi  gì? - Hànộimới

“Chính quyền địa phương có phương án hỗ trợ (địa điểm hoặc một phần chi phí) để các nhà máy, cụm nhà máy, khu công nghiệp, khu chế xuất lập các cơ sở lưu trú, lập các trạm y tế tại chỗ hoặc lưu động để triển khai công tác phòng chống dịch”, VCCI đề xuất.

Theo VCCI, các địa phương cần có phương án hỗ trợ đào tạo lao động phù hợp và hỗ trợ người lao động bị thôi việc, mất việc làm do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Triển khai các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề cho người lao động.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-09-28 / by / in
Xem xét điều chỉnh tăng giờ làm thêm, cả năm không vượt quá 300 giờ

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đang tiến hành tổng hợp ý kiến với đề xuất cho phép điều chỉnh tăng thời gian làm thêm giờ/tháng với một số ngành nghề lĩnh vực.

Điều này nhằm nhanh chóng ổn định sản xuất kinh doanh, chống đứt gãy chuỗi cung ứng, nhưng không quá 300 giờ/năm.

Khẳng định trên được Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung nêu ra tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp năm 2021, sáng ngày 26/9.

Theo Bộ trưởng, trong Nghị quyết 105/NQ-CP ngày 09/9/2021 của Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch Covid-19, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được giao 5 nhiệm vụ. Tới thời điểm này, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã hoàn thành các nhiệm vụ.

Xem xét điều chỉnh tăng giờ làm thêm, cả năm không vượt quá 300 giờ - 1

Cụ thể, ngày 23/9, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có Tờ trình gửi Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 1/7/2021 của Chính phủ. Theo đó, Bộ đã đề xuất sửa đổi một cách căn cơ những vấn đề vướng mắc, đơn giản hóa thủ tục hồ sơ, tiếp tục rút ngắn thời gian giải quyết, bổ sung một số nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách.

Đặc biệt sửa đổi 2 chính sách liên quan đến người sử dụng lao động là lược bỏ điều kiện quyết toán thuế và những vướng mắc liên quan đến chính sách cho vay trả lương cho người lao động, phục hồi sản xuất và đơn giản hóa điều kiện, thủ tục đối với chính sách hỗ trợ đào tạo từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn nhiều nhất, thuận tiện và nhanh nhất.

Thông tin tới hội nghị, chỉ trong vòng 4 tháng với tinh thần làm ngày làm đêm, Bộ đã phối hợp với các cơ quan bộ, ngành tham mưu ban hành 2 Nghị quyết về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid. Đặc biệt, Bộ đã phối hợp với Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bộ Tài chính tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cho Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp bất thường ban hành Nghị quyết số 03/NQ-UBTVQH15 và Chính phủ ban hành Nghị quyết số 116/NQ-CP về hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Xem xét điều chỉnh tăng giờ làm thêm, cả năm không vượt quá 300 giờ - 2

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, tổng kinh phí hỗ trợ từ chính sách này là 38 nghìn tỷ đồng, trong đó khoảng 30 nghìn tỷ đồng từ kết dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, có khoảng hơn 12,8 triệu lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp được thụ hưởng, giảm mức đóng từ 1% xuống 0% quỹ tiền lương tháng của những người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Qua đó, có 386.000 người sử dụng lao động sẽ được giảm đóng với số tiền là trên 8.000 tỷ đồng, bắt đầu triển khai thực hiện từ 1/10/2021. “Phấn đấu trong khoảng một tuần sẽ hoàn thành việc hỗ trợ người sử dụng lao động”, Bộ trưởng khẳng định.

Trước đó tại Nghị quyết số 68/NQ-CP, Bộ Lao động đã đề xuất thực hiện giảm mức đóng từ 0,5% xuống 0% về đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người sử dụng lao động. Đây là những chính sách chưa từng có tiền lệ, đáp ứng yêu cầu cấp bách và là giải pháp tình thế trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, tác động nặng nề lên mọi mặt của đời sống xã hội.

Vướng mắc thứ ba về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam theo Nghị định số 58/NĐ-CP của Chính phủ, Bộ Lao động đã ban hành Công văn số 3246/LĐTBXH-VL hướng dẫn với các địa phương để tháo gỡ khó khăn. Đến nay 4 nhóm nội dung có liên quan như cấp phép, thu hồi giấy phép; việc xác nhận trình độ, rút ngắn thời gian xử lý, tiếp nhận chuyên gia và người quản lý và lao động kỹ thuật đều đã được giải quyết.

Đề xuất giờ làm việc đã được điều chỉnh có tính linh hoạt hơn | Báo dân sinh

Riêng việc tiếp nhận trở lại chuyên gia, nhà quản lý, người có trình độ cao cần vào Việt Nam trong thời gian tới, sẽ được xem xét giải quyết một cách phù hợp. Tuy nhiên, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, việc tiếp nhận phải đảm bảo trên cơ sở yêu cầu cao và nhất thiết đáp ứng quy định về phòng chống dịch của Chính phủ.

Về đề xuất tăng giờ làm vượt quy định trong tháng, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, phía Bộ đang tiến hành tổng hợp ý kiến của đối tượng tác động, nhất là các hiệp hội, doanh nghiệp để từ đó nghiên cứu, đề xuất theo hướng xem xét, xử lý cá biệt, chỉ nên áp dụng những lĩnh vực, ngành nghề, thực sự cần thiết trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, không áp dụng trên phạm vi tất cả các ngành nghề, lĩnh vực và phạm vi cả nước.

Đồng thời, Bộ trưởng cũng nêu rõ, vấn đề này thuộc thẩm quyền của Quốc hội, do vậy cần phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến. Ngoài ra, việc điều chỉnh tăng thời gian làm thêm giờ/tháng không vượt quá 300 giờ/năm.

Nhiệm vụ cuối cùng trong Nghị quyết 105/NQ-CP của Chính phủ giao cho Bộ Lao động hướng dẫn Bảo hiểm xã hội đề xuất vấn đề không phạt chậm nộp bảo hiểm xã hội, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nhận định, số tiền dự kiến miễn tiền phạt chậm nộp khoảng 564 tỷ đồng, con số khá thấp, phạm vi tác động chưa thực sự sâu rộng để có thể nghiên cứu, đề xuất và báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi chính sách.

Về đề xuất của một số Hiệp hội, doanh nghiệp xin tiếp tục cho giảm đóng bảo hiểm xã hội hưu trí, tử tuất, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung đã nêu rõ: Đây là Quỹ tài chính lớn thứ 2 của đất nước, là quỹ dài hạn liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm xã hội, liên quan đến đời sống, lương hưu của hàng chục triệu người đang hưởng và tương lai khi về nghỉ hưu. Bộ trưởng nêu rõ, nhất thiết sẽ nói không.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-09-27 / by / in
Người lao động hóng lương mùa Covid: “Em ơi, đừng giảm nữa!”

“Lương ơi, đừng giảm nữa/Em có còn nhiêu đâu/ Dạ anh giờ đói lắm/Đầu tháng đã hết tiền!”, Minh Sơn chế thơ kèm bức hình “nhịn đói” chờ 25/9 này đến ngày lĩnh lương…

Minh Sơn, 26 tuổi, nhân viên kinh doanh tại một công ty nhôm kính ở Quận 11, TPHCM chế theo bài thơ “Mưa” mình hay được nghe hồi nhỏ để nói về nỗi lòng của trong những ngày khó khăn, dịch bệnh khiến lương thưởng, thu nhập “down” mạnh: Mong lương đừng giảm và đừng chậm nữa!

Người lao động hóng lương: Em ơi, đừng rơi nữa! - 1

“4 tháng qua, lương mình giảm lần lượt từ 10% đến 15% và bây giờ là 25%, đến này còn tầm hơn 8 triệu đồng. Chưa hết, trước đây công ty trả lương đầu tháng, mấy nay đến giữa tháng cũng chưa thấy động tĩnh gì”, Minh Sơn cho biết.

Kế toán mới thông báo tháng này 25/9 mới có lương, cậu đang nhấp nhổm đếm từng ngày, chỉ mong lương đừng lùi xa thêm nữa.

Người lao động hóng lương: Em ơi, đừng rơi nữa! - 2

Chờ lương là tâm trạng khó diễn đạt bằng lời đối với người lao động, còn việc chậm lương thực sự là nỗi ám ảnh với bất cứ ai.

Bình thường, chờ lương mỗi tháng đã đủ thấp thỏm, nhấp nhổm, sốt ruột… còn trong bối cảnh khó khăn vì dịch bệnh với rất nhiều xáo trộn, trạng thái chờ lương lại càng trở nên căng thẳng, khắc khoải hơn.

Người lao động hóng lương: Em ơi, đừng rơi nữa! - 3

Lúc này, không chỉ là đến tháng tiền vào tài khoản mà tiền lương muôn màu muôn vẻ với từng hoàn cảnh. Có người bị giảm thu nhập, bị nợ lương, chậm lương hoặc có người mất việc, đã nhiều tháng rồi không biết mùi “ting ting”.

Trong khi có vô số khoản chi tiêu vẫn luôn thúc sát người lao động như tiền ăn, tiền nhà, lãi ngân hàng…

Những “ảnh chế” về tâm trạng chờ lương, hóng lương được chia sẻ, lan truyền trên các trang mạng xã hội là một cách để mỗi người gửi gắm tâm trạng, cũng để tự trào phúng, hài hước đôi chút trong những ngày dài ở nhà giãn cách, chống dịch. Mỗi dòng trạng thái với những “ảnh chế” vui thường nhận được nhiều bình luận sôi nổi, hào hứng.

Trên mạng xã hội, đặc biệt tại các diễn đàn nhân sự, công sở, công nhân… chuyện “hóng lương” càng thu hút mọi người với rất nhiều biểu cảm, trạng thái.

Người lao động hóng lương: Em ơi, đừng rơi nữa! - 5

Nhiều khái niệm quanh vấn đề lương trong hoàn cảnh mới càng trở nên da diết hơn bất cứ lúc nào như: Tiếng yêu tha thiết không bằng hai tiếng “ting ting”; 3 tiếng cao cả hơn cả “Anh yêu em!” là “Lương đã về!”; Âm thanh có sức sống nhất là tít tít từ ngân hàng; Món ăn thèm nhất trong mùa dịch là lương đúng ngày; Cứu trợ lớn nhất là còn có việc để làm, còn có lương để nhận…

Người lao động hóng lương: Em ơi, đừng rơi nữa! - 6

Hay như một bạn gái ở Bình Dương mất việc làm đăng bức ảnh chế “Tôi thấy lương về trong giấc mơ” kèm trạng thái: “Chia tay bạn trai 3 năm nay vẫn sống khỏe, chia tay “anh lương” mới 3 tháng, em sắp…. cạn hơi thở!”

Người lao động hóng lương: Em ơi, đừng rơi nữa! - 7

ừ khát khao về lương, nhiều người cũng động viên nhau chăm chỉ làm việc để giữ việc, giữ lương, tránh rơi cảnh thất nghiệp.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-09-27 / by / in
Người chưa tiêm vaccine vẫn được đi máy bay, tàu xe bình thường sau giãn cách?
VOV.VN – Để mở cửa trở lại các dịch vụ, hoạt động kinh tế, thì phải sớm khôi phục lại các hoạt động vận tải, phải có quy định cụ thể để người dân được đi lại bình thường.

Bộ GTVT đang lấy kiến các địa phương về kế hoạch đi lại trong bối cảnh bình thường mới khi người dân đã được tiêm vaccine phòng dịch COVID-19. Khi các địa phương vẫn “ngăn sông cấm chợ” thì vận tải rất khó bình thường mới trở lại, ảnh hưởng tiêu cực tới kế hoạch mở cửa dần nền kinh tế.

Bộ GTVT bỏ đề xuất hành khách tiêm vaccine, hoặc F0 khỏi bệnh được đi lại “bình thường mới”.

So với Dự thảo lần 1, Dự thảo mới nhất về kế hoạch vận tải của Bộ GTVT đã bỏ quy định hành khách phải là người đã tiêm 2 mũi vaccine hoặc F0 khỏi bệnh, các điều kiện áp dụng thông thoáng hơn. Việc sớm khôi phục lại các hoạt động vận tải, người dân được tự do ra đường khi miễn dịch cộng đồng đang được nhiều người chờ đợi.

Người chưa tiêm vaccine vẫn được đi máy bay, tàu xe bình thường

Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các địa phương, Bộ GTVT đã hoàn tất dự thảo lần 2 kế hoạch tổ chức vận tải khách của 5 lĩnh vực (hàng không, đường bộ, đường sắt, hàng hải và đường thuỷ) trong thời gian các địa phương nới lỏng giãn cách.

Trong dự thảo lần 2 của Bộ GTVT đề xuất phương án tổ chức vận tải hành khách tại các địa phương hoặc địa bàn đang thực hiện giãn cách theo Chỉ thị số 16 không tổ chức hoạt động vận tải hành khách phục vụ nhu cầu đi lại của người dân đang cư trú tại địa phương, hoặc địa bàn đang thực hiện Chỉ thị số 16 (trừ các trường hợp được cấp có thẩm cho phép);

Các sân bay, ga đường sắt trên địa bàn địa phương đang thực hiện Chỉ thị số 16 được hoạt động và tiếp nhận hành khách để đi, đến các địa phương khác không áp dụng Chỉ thị số 16.

Các địa phương đang giãn cách theo Chỉ thị 15, Chỉ thị 19: Được tổ chức vận tải hành khách theo mức độ hạn chế tỷ lệ phần trăm phương tiện kinh doanh vận tải, hành khách của từng phương thức vận tải.

Các địa phương đang bình thường mới: Tổ chức vận tải hành khách hoạt động bình thường.

Việc sớm khôi phục lại các hoạt động vận tải, người dân được tự do ra đường khi miễn dịch cộng đồng đang được nhiều người chờ đợi.

Đáng chú ý, Bộ GTVT điều chỉnh quy định với hành khách theo hướng:

Hành khách khi đi trên phương tiện vận tải (đi, đến địa phương hoặc địa bàn đang thực hiện giãn cách theo Chỉ thị số 15, Chị thị số 19) phải thực hiện nghiêm 5K, các quy định về phòng chống dịch, khai báo y tế theo quy định của Bộ Y tế, đồng thời khai báo trên địa chỉ suckhoe.dancuquocgia.gov.vn.

Trước đó, tại dự thảo cũ, Bộ GTVT đề xuất 2 phương án: Hành khách đáp ứng quy định 5K, hoặc đáp ứng một trong các điều kiện (tiêm 2 mũi vaccine trong đó mũi 1 ít nhất 14 ngày, hoặc F0 đã khỏi COVID-19, hoặc xét nghiệm âm tính trong 72 giờ).

Vận tải đường bộ: Tổ chức xét nghiệm SARS-CoV-2 định kỳ 14 ngày/lần cho lái xe và nhân viên phục vụ trên xe. Ngoài ra, lái xe, nhân viên phục vụ phải đáp ứng một trong các điều kiện (tiêm 2 mũi vaccine trong đó mũi 1 ít nhất 14 ngày, hoặc F0 đã khỏi COVID-19, hoặc xét nghiệm âm tính trong 72 giờ).

Tần suất khai thác với xe khách tuyến cố định liên tỉnh theo 4 giai đoạn (cách nhau 10 ngày), lần lượt theo tỷ lệ không vượt quá 40% số chuyến trong 10 ngày của đơn vị được phê duyệt, có giãn cách chỗ ngồi – 60%, có giãn cách ghế – 80%, bình thường trở lại.

Hàng không: Tổ bay và nhân viên hàng không phải được tiêm tối thiểu 1 mũi vắc xin ít nhất sau 14 ngày, có xét nghiệm âm tính.

Tần suất khai thác theo 4 giai đoạn (cách nhau 10 ngày): không vượt quá 50% so với trung bình 10 ngày đầu tiên tháng 4.2021, có giãn cách ghế – 70% – bằng tần suất trung bình 10 ngày đầu tháng 4.2021 – bình thường.

Đường sắt: Lái tàu và nhân viên phục vụ phải đáp ứng một trong các điều kiện (tiêm 2 mũi vắc xin trong đó mũi 1 ít nhất 14 ngày, hoặc F0 đã khỏi COVID-19, hoặc xét nghiệm âm tính trong 72 giờ. Xét nghiệm Covid-19 định kỳ 14 ngày/lần.

Tần suất khai thác cũng chia 4 giai đoạn (cách nhau 10 ngày), số lượng đôi tàu khai thác trên từng tuyến đường sắt không vượt quá 50% biểu đồ chạy tàu trước dịch và có giãn cách chỗ trên tàu – 70% có giãn cách ghế – 70% không giãn cách ghế – bình thường.

Các quy định tương tự cũng được áp dụng với vận tải hàng hải và đường thuỷ nội địa.

Phương án “riêng biệt” kết nối sân bay, nhà ga tại nơi  đang áp dụng Chỉ thị 16

Đáng chú ý, Bộ GTVT xây dựng phương án “riêng biệt” kết nối vận chuyển hành khách đến/đi tại sân bay, ga đường sắt thuộc khu vực đang áp dụng Chỉ thị 16 đảm bảo an toàn phòng chống dịch COVID-19.

Cụ thể, tại sân bay, ga đường sắt sẽ bố trí vị trí, khu vực trong sân bay, ga đường sắt dành riêng cho phương tiện vận tải đường bộ đón, trả khách; hướng dẫn phương tiện vận tải đường bộ ra, vào sân bay, ga đường sắt theo đúng vị trí, khu vực đã quy định.

Đồng thời, quy định khu vực dành riêng cho khách chờ để đi lên tàu; hướng dẫn, giám sát hành khách trong việc tuân thủ công tác phòng, chống dịch tại sân bay, ga đường sắt; Phối hợp với Sở GTVT (địa phương có sân bay, ga đường sắt) để tổ chức việc đưa, đón hành khách thông qua sân bay, ga đường sắt.

Lực lượng chức năng điều tiết giao thông trong ngày đầu TP.Hà Nội nới lỏng giãn cách

Sở GTVT (địa phương có sân bay, ga đường sắt) chủ trì, phối hợp với Sở ban ngành, chính quyền địa phương và đơn vị quản lý sân bay, ga đường sắt, đơn vị kinh doanh vận tải bằng xe ô tô tổ chức hoạt động vận tải hành khách kết nối giữa vận tải đường bộ với sân bay, ga đường sắt.

Đơn vị vận tải kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, lái xe sẽ vận chuyển hành khách đi, đến sân bay, ga đường sắt theo nguyên tắc “một cung đường hai điểm đến”; không được phép dừng đỗ trên hành trình (trừ trường hợp khẩn cấp).

Cùng với đó, phải chấp hành hướng dẫn của Sở GTVT, đơn vị quản lý sân bay, ga đường sắt khi vận chuyển hành khách đi/đến sân bay, ga đường sắt. Hành khách chấp hành nghiêm hướng dẫn của sân bay, ga đường sắt trong công tác phòng, chống dịch COVID-19.

Đang chờ thêm ý kiến từ Bộ Y tế

Theo Thứ trưởng Bộ GTVT Lê Đình Thọ, đến nay Bộ GTVT mới chỉ nhận được 17 ý kiến góp ý của 1 Hiệp hội vận tải, 15 địa phương và Tổng công ty Đường sắt Việt Nam về việc mở lại hoạt động vận tải hành khác. Ngoài ra, Bộ GTVT chưa nhận được ý kiến của Bộ, ngành nào khác.

“Vì nhu cầu hoàn thiện và triển khai kế hoạch là rất cấp bách, Bộ GTVT đã tổ chức tiếp thu, hoàn thiện dự thảo (lần 2) và chính thức có văn bản đề nghị Bộ Y tế có ý kiến”,  Thứ trưởng Thọ cho hay.

Thứ trưởng Bộ GTVT Lê Đình Thọ cho biết, trong bối cảnh các địa phương đang chuẩn bị kịch bản nới lỏng giãn cách và các quy định phòng chống dịch, Bộ GTVT đã giao các cơ quan trực thuộc xây dựng kịch bản, phương án tổ chức giao thông, tổ chức vận tải trên cả 5 lĩnh vực GTVT.

“Việc này để hướng dẫn triển khai thực hiện trong tình hình mới với tinh thần khẩn trương, nghiên cứu kỹ lưỡng mọi mặt, đánh giá kỹ mọi tác động”, ông Thọ nói.

Theo ông Thọ: “Phương án tổ chức giao thông sẽ lấy ý kiến của các Bộ, ngành và các địa phương. Sau khi thống nhất, Bộ GTVT đề nghị các Bộ, ngành, địa phương nghiêm túc triển khai theo nguyên tắc chung, không gây bức xúc đối với người dân và doanh nghiệp trong giai đoạn phục hồi kinh tế sau đại dịch”.

Thứ Bộ GTVT cho rằng, các Sở GTVT địa phương cần nắm bắt tình hình, nhu cầu địa phương để góp ý vào kế hoạch vận tải chung của Bộ GTVT sau khi nới lỏng giãn cách. Trong đó, chú trọng xây dựng phương án tổ chức giao thông kết nối với các ga, bến cảng, bến xe và cảng hàng không, tổ chức giao thông đối với các phương tiện cá nhân.

Được biết, Bộ GTVT vừa có văn bản gửi tới Bộ Y tế về việc góp ý kiến dự thảo kế hoạch tổ chức hoạt động vận tải hành khách của 5 lĩnh vực trong thời gian các địa phương nới lỏng biện pháp phòng, chống dịch COVID-19./.

2021-09-27 / by / in
Nhiều doanh nghiệp phía Nam tạm ngưng hoạt động, lượng điện tiêu thụ giảm mạnh
(PLO)- Các tỉnh thành phía Nam thực hiện giãn cách xã hội nên hầu hết các doanh nghiệp đều ngừng hoạt động sản xuất, dẫn tới mức tiêu thụ điện năng thương phẩm khu vực miền Nam liên tục giảm sâu.

Các tỉnh thành phía Nam thực hiện giãn cách xã hội nên hầu hết các doanh nghiệp đều ngừng hoạt động sản xuất, dẫn tới mức tiêu thụ điện năng thương phẩm khu vực miền Nam liên tục giảm sâu. Từ đó, kéo theo thừa nguồn điện cục bộ, nguy cơ ảnh hưởng đến công tác an toàn hệ thống lưới điện và cung cấp điện.

Điện thương phẩm liên tục giảm sâu

Do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, tình hình sản xuất đình trệ, hầu hết các doanh nghiệp (DN) tại các tỉnh thành phía Nam đều ngừng sản xuất. Điển hình là ngành chế biến thủy sản.

Theo khảo sát của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) tại 19 tỉnh thành phía Nam, đặc biệt tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) từ tháng 6-2021 tới nay có đến 60-70% DN tạm ngưng hoàn toàn hoạt động vì không đáp ứng được phương án sản xuất. Số DN còn lại hoạt động chỉ 30-40% nhưng công suất chỉ được 30% bởi phải áp dụng quy định giãn cách, đảm bảo an toàn phòng chống dịch…

Dịch COVID-19 ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.

Tương tự, ngành dệt may tại các tỉnh thành phía Nam cũng có đến 90% DN tạm ngưng hoạt động.

Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) cho biết dịch COVID-19 đã làm ảnh hưởng tiêu cực tới tất cả các hoạt động của EVNSPC. Đặc biệt là thành phần công nghiệp, xây dựng… khi nhiều tỉnh, TP phía Nam thực hiện theo Chỉ thị 16, kéo theo điện thương phẩm các tháng liên tục giảm sâu.

Chỉ tính riêng tháng 8-2021, tổng sản lượng điện thực hiện của EVNSPC chỉ đạt hơn 5,4 tỉ kWh, giảm 17% so với tháng 7 và giảm 16,09% so với cùng kỳ 2020. Trong đó, lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng giảm 26,3% (khoảng hơn 1 tỷ kWh) và lĩnh vực dịch vụ khách sạn, nhà hàng giảm 19,9% (giảm 37,2 triệu kWh)…

Để đảm bảo vận hành an toàn hệ thống điện quốc gia

Đến tháng 8-2021, miền Nam còn ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19, mức tiêu thụ điện năng khu vực miền Nam vẫn đang suy giảm mạnh, dẫn đến tình trạng thừa nguồn điện cục bộ trên địa bàn tiếp tục tăng cao; nguy cơ ảnh hưởng đến công tác an toàn hệ thống lưới điện và cung cấp điện.

Theo đó, buộc ngành điện đang phải cân đối việc huy động nguồn cung điện tại chỗ. Đặc biệt là nguồn năng lượng tái tạo phù hợp với nhu cầu sản lượng, phụ tải tại từng địa phương trong khu vực. Từ đó, nhằm góp phần bảo đảm an toàn cung cấp điện phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh và đời sống, sinh hoạt của người dân trên toàn miền Nam.

Mặt khác, mức độ tiêu thụ điện thương phẩm giảm sâu đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện miền Nam, công tác vận hành hệ thống lưới điện cũng gặp nhiều thách thức và tiềm ẩn thêm nhiều rủi ro; có khả năng ảnh hưởng đến việc đảm bảo an toàn, an ninh hệ thống lưới điện quốc gia.

Do đó, ngành điện phải tính toán tối ưu việc huy động sản lượng điện mua của các loại hình nguồn điện phù hợp với nhu cầu thực tế. Trong đó, mức suy giảm của sử dụng điện từ nay cho đến cuối năm, bao gồm nguồn năng lương mặt trời mái nhà (NLMTMN).

Theo số liệu từ Trung tâm điều độ hệ thống điện Quốc gia (A0), tiêu thụ điện toàn quốc và miền Nam tiếp tục giảm thấp trong 2 tuần đầu của tháng 9-2021. Căn cứ với số liệu thống kê thì mức tiêu thụ điện toàn quốc trong 2 tuần đầu tháng 9 vừa qua đã thấp hơn 24% so với trước khi bắt đầu thực hiện giãn cách xã hội diện rộng từ giữa tháng 7; đồng thời cũng thấp hơn 15% so với cùng kỳ năm 2020.

Nhiều doanh nghiệp phía Nam tạm ngưng hoạt động, lượng điện tiêu thụ giảm mạnh - ảnh 2

Biểu đồ so sánh.

Đối với riêng khu vực miền Nam, các địa phương vẫn đang thực hiện giãn cách xã hội. Theo đó, phụ tải hệ thống điện vẫn tiếp tục ở mức rất thấp và vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục.

Để đảm bảo vận hành an toàn hệ thống điện quốc gia khi tiêu thụ điện xuống thấp, A0 và các trung tâm điều độ miền đã và đang huy động các nguồn điện bám sát nhu cầu tiêu thụ điện của toàn quốc và từng khu vực. Đồng thời, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật để đảm bảo vận hành an toàn, ổn định hệ thống điện.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng tiếp tục đề nghị chủ đầu tư các đơn vị phát điện duy trì việc phối hợp chặt chẽ với A0 và các cấp điều độ trong việc thực hiện nghiêm các mệnh lệnh điều độ. Từ đó, để đảm bảo vận hành an toàn hệ thống điện quốc gia, nhất là khi mức độ tiêu thụ điện giảm thấp do tác động của dịch bệnh COVID-19.

Nguồn: plo.vn (Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh)

2021-09-27 / by / in
Top những nghề nghiệp đang “hái ra tiền” đột ngột “chết cứng” vì Covid-19

Phi công, tiếp viên hàng không, quản lý tour, nhà hàng khách sạn, DJ… vốn là những ngành hái ra tiền, niềm mơ ước của không ít người. Tuy nhiên, đại dịch Covid-19 đã thay đổi tất cả.

1. Thu nhập về “mo” khi lương tháng đang hàng trăm triệu 

Theo báo cáo của một số hãng hàng không tại Việt Nam, số chuyến bay quốc tế, trong nước bị cắt giảm mạnh trong thời gian xảy ra đại dịch, từ đầu năm 2020 đến nay, nhiều lao động trong ngành này trở nên khốn khó.

Trong báo cáo đại hội cổ đông tháng 7/2021, Vietnam Airlines thông tin việc điều chỉnh công tác lao động tiền lương, trong đó đã linh hoạt điều hành nguồn lực và các chính sách tiền lương nhân sự để người lao động và Tổng công ty cùng chia sẻ khó khăn trong từng giai đoạn diễn biến của dịch.

Giải pháp của hãng hàng không này là điều chỉnh giảm ngày công làm việc trong tháng, tạm hoãn hợp đồng lao động, làm việc thời vụ phù hợp với nhu cầu sử dụng nguồn lực và tình hình ảnh hưởng của dịch.

Cần bao nhiêu tiền để học nghề phi công ở Việt Nam? - Hàng không

Hãng này đã tạm dừng toàn bộ lực lượng phi công nước ngoài giai đoạn tháng 4 đến tháng 7, sử dụng nhân viên chi nhánh địa phương nước ngoài mức tối thiểu.

Theo Vietnam Airlines, việc điều hành nguồn lực linh hoạt, lao động sử dụng bình quân 2021 bằng 92% so với kế hoạch, quỹ tiền lương cắt giảm 49% so với năm 2020.

Việc cắt giảm quỹ tiền lương 49% của Vietnam Airlines tác động trực tiếp đến lương của phi công, tiếp viên hàng không và tiếp viên mặt đất của hãng bay.

Thực tế, lương lao động trong ngành hàng không có lẽ giảm mạnh nhất ở đội ngũ phi công, tiếp viên hàng không và chuyên viên mặt đất. Nhiều phi công người nước ngoài của các hãng bay tại Việt Nam đã về nước do thời gian dài không được bay hoặc nghỉ giãn cách. Hiện tượng tiếp viên hàng không tranh thủ thời gian rảnh bán hàng online như mỹ phẩm, chạy Grabcar là không hiếm.

Điều kiện làm tiếp viên hàng không

2. Hai năm dịch bệnh, ngành du lịch khủng hoảng nhân sự

Nếu như nhân viên hàng không vẫn gắng gượng được nhờ làm việc bán thời gian hoặc kinh doanh tay trái, thì các hướng dẫn viên du lịch, quản lý tour, nhà hàng, khách sạn hay DJ (Disc Jockey) tại các quán bar bị ảnh hưởng nặng nề hơn rất nhiều.

Anh Vũ Anh Quốc, từng là quản lý tour của hãng du lịch tại Việt Nam liên kết với Trung Quốc. Gần 2 năm nay, công việc đã “đóng băng”, anh phải chuyển nghề tay trái là dạy online tiếng Trung kiếm tiền nuôi gia đình, tạm gác công việc ưa thích hàng ngày.

Học nghề du lịch - khách sạn được giới thiệu việc làm

“Mức lương quản lý tour và hướng dẫn viên có thâm niên khoảng 30-40 triệu đồng/tháng, nhưng khi nghỉ dịch, chỉ được hưởng lương cơ bản do không có khách. Hầu hết các hãng lữ hành chỉ giữ chân nhân sự chủ chốt, các nhân viên hợp đồng đều bị cắt giảm, nhiều người phải nghỉ không lương, phải chuyển nghề khác kiếm sống qua ngày”, anh Quốc nói.

Giống như anh Quốc, những quản lý nhà hàng, khách sạn tại các thành phố lớn, trung tâm du lịch, lữ hành cũng bị ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch.

Theo Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch), năm 2020, ngành du lịch Việt Nam chịu ảnh hưởng hết sức trầm trọng. Năm 2020, lượng khách du lịch quốc tế giảm 79,5%, khách nội địa giảm 34%, tổng thu du lịch giảm 58,7%; gần 60% lao động mất việc làm hoặc cắt giảm lao động, công suất buồng phòng các khách sạn chỉ đạt 10-15%; gần 90% doanh nghiệp lữ hành quốc tế đóng cửa.

Theo Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), lao động trong một số ngành dịch vụ như lưu trú và ăn uống, nghệ thuật, vui chơi giải trí bị ảnh hưởng mạnh bởi dịch Covid-19.

Top những nghề đang hái ra tiền đột ngột chết cứng vì Covid-19 - 4

“Một phần ba doanh nghiệp tham gia khảo sát nhanh cho biết phải thực hiện các biện pháp cắt giảm lao động; các doanh nghiệp du lịch và dịch vụ lưu trú có tỷ lệ lao động bị cắt giảm cao nhất”, báo cáo về tình hình lao động 6 tháng đầu năm 2021 của Tổng cục Thống kê cho biết.

Mới đây, tại diễn đàn “Tác động đại dịch Covid-19 – Hành động quyết liệt của ngành Văn hóa-Thể thao-Du lịch” tổ chức tại Hà Nội, ông Nguyễn Trùng Khánh, Tổng cục trưởng, Tổng cục Du lịch cho biết, 8 tháng đầu năm 2021, khách du lịch nội địa tiếp tục giảm 5,5% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 31,2 triệu lượt khách và tổng thu từ khách du lịch giảm 37% so với cùng kỳ năm 2020.

Theo đó, 95% cơ sở lưu trú chỉ hoạt động cầm chừng, 80% lao động trong lĩnh vực du lịch phải tạm nghỉ việc hay chuyển đổi ngành nghề khác để kiếm sống, dẫn đến nguy cơ thiếu hụt nhân lực khi ngành du lịch khôi phục trở lại.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-09-26 / by / in