Thêm kết quả...

Nam A Bank khởi động cuộc thi sáng tạo công nghệ

Cuộc thi với tổng giá trị giải thưởng gần 1 tỷ đồng nhằm thu hút nhân tài cùng Nam A Bank xây dựng hệ sinh thái tài chính công nghệ hiện đại.

Ngân hàng TMCP Nam Á vừa khởi động cuộc thi “Nam A Bank – Openbanking Innovation”, diễn ra từ nay đến tháng 9/2022. Cuộc thi xoay quanh các chủ đề về công nghệ như: Phát triển hệ sinh thái với ứng dụng Open Banking Nam A Bank; Phát triển tài chính toàn diện, tài chính mở trên mô hình Open Banking, OneBank của Nam A Bank; Phát triển cộng đồng tài chính trên nền tảng Open Banking Nam A Bank; Ứng dụng mô hình Digital Marketing để phát triển hệ sinh thái khách hàng tại Nam A Bank; Ứng dụng công nghệ mới/ chuyển đổi số trong hoạt động vận hành, giám sát tại Nam A Bank.

NamA Bank chuẩn bị gia nhập sàn UPCoM

Với sự hỗ trợ của nhiều cố vấn cùng các chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Nam A Bank kỳ vọng, cuộc thi sẽ mang đến không gian giao lưu, sáng tạo, chia sẻ các xu hướng khoa học, đồng thời, khơi nguồn ý tưởng và phát triển sản phẩm mang hàm lượng công nghệ cao.

Trong khuôn khổ sự kiện, Nam A Bank sẽ thực hiện talkshow lúc 10h ngày 11/12 trên Fanpage Nam A Bank.

Khách hàng trải nghiệm điểm OneBank thuộc hệ sinh thái Ngân hàng số Nam A Bank. Ảnh: Nam A Bank

Đây là lần đầu tiên Nam A Bank tổ chức cuộc thi với quy mô trên toàn quốc cùng sự đồng hành của Hiệp hội công nghệ, Viện công nghệ TP HCM. Ngân hàng mong muốn mang đến sân chơi bổ ích, tạo điều kiện để thế hệ trẻ phát huy khả năng sáng tạo, tư duy, bứt phá giới hạn của bản thân. Hoạt động này cũng hướng đến kỷ niệm 30 năm Nam A Bank xây dựng và phát triển, khẳng định thương hiệu trên thị trường tài chính Việt Nam.

Nam A Bank đang chuyển đổi số mạnh, hướng đến việc cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng số toàn diện cho khách hàng. Ngân hàng cũng ghi dấu ấn trên thị trường tài chính khi đưa robot vào phục vụ giao dịch; triển khai OneBank giúp khách hàng giao dịch 24/7. Nhà băng này cũng liên tục nâng cấp Ngân hàng số Open Banking phiên bản 2.0 với giao diện hiện đại, tăng tính năng, tiện ích, giúp khách hàng thực hiện các giao dịch trực tuyến nhanh chóng, bảo mật mọi lúc, mọi nơi.

Lãi suất ngân hàng Nam A Bank tháng 4/2021 cao nhất là 6,8%/năm

Nam A Bank cũng tiến tới hoàn thiện và nâng cấp hệ sinh thái công nghệ: Open Banking, Robot OPBA và Onebank. Mục tiêu của ngân hàng là tối ưu và mang đến sự trải nghiệm vượt trội cho khách hàng.

Nguồn: vnexpress.vn

2021-12-07 / by / in
Ngân hàng chuyển đổi vận hành để phục vụ khách hàng tốt hơn

Trước những diễn biến phức tạp của dịch bệnh trong thời gian qua, các ngân hàng ở TP. HCM và nhiều tỉnh thành tuân thủ giãn cách vẫn hoạt động thông suốt, hiệu quả, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiếp cận dịch vụ ngân hàng của người dân và doanh nghiệp. Trong đó, công tác vận hành trơn tru đóng một vai trò quan trọng.

Số hóa vận hành

Tại HDBank, thời gian giãn cách xã hội vừa qua cũng là lúc công tác vận hành ngân hàng cải tiến mạnh mẽ, nhờ thế, tuy giảm nhân sự làm việc trực tiếp tại văn phòng và tại quầy theo qui định về giãn cách và phòng chống dịch, nhưng lại tăng năng suất lao động, giảm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ và luôn đảm bảo phục vụ khách hàng một cách tốt nhất.

Đạt được kết quả đó, phải kể đến nền tảng công nghệ hiện đại của ngân hàng. Tại HDBank, từ năm 2020 đến nay, khi dịch bệnh xảy ra, cũng đúng vào thời điểm HDBank đẩy mạnh số hóa trong mọi mặt hoạt động của ngân hàng, từ các quy trình giao dịch, vận hành, nhân sự, đánh giá,… và đến bây giờ thì ngân hàng càng đẩy mạnh số hóa nhanh, và toàn diện hơn nữa.

Theo đó, thời gian qua, HDBank đã tăng tốc triển khai số hóa một cách đồng bộ với các dự án trọng điểm như: số hóa hành trình khách hàng mang đến trải nghiệm mới mẻ và thuận tiện như: mở tài khoản thanh toán, mở sổ tiết kiệm, cho vay trực tuyến thế chấp bằng tải khoản tiền gửi,…; số hoá hành trình khách hàng trực tuyến với các công nghệ tiên phong như định danh khách hàng điện tử (eKYC) , eKYC nâng cao tích hợp xác thực qua video call…; số hóa hệ thống truyền thông và trao đổi nội bộ; thu thập và phân tích dữ liệu lớn; trợ lý tổng đài ảo,… Đặc biệt là tự động hoá quy trình bằng công nghệ tự động hóa RPA, theo đó, sự hỗ trợ của các trợ lý robot đã giúp HDBank giảm hơn 80% thao tác thủ công của nhân sự vận hành, tăng tốc độ xử lý nhanh gấp 30 lần (từ 3 phút xuống chỉ còn 5 giây/giao dịch) với tỷ lệ sai sót gần như bằng 0.

Theo thống kê, sau 5 tháng, số hoá hành trình mở tài khoản thông qua ứng dụng trên máy tính bảng, tỉ lệ bán chéo hiệu quả hơn so với cách làm truyền thống với tỉ lệ đăng ký thêm dịch vụ eBanking đạt 67% so với trước đây chỉ đạt 50%.

Các ứng dụng số và tự động hóa hoạt động của HDBank trong sản phẩm dịch vụ đã giúp nâng cao hiệu quả và đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng trong bối cảnh thực hiện giãn cách và bình thường mới. Nhờ đó, 6 tháng đầu năm, số lượng giao dịch e-banking tăng gấp hai lần cùng kỳ, giá trị giao dịch cao gấp 3 lần, đạt gần 60.000 tỷ đồng.

Hỗ trợ doanh nghiệp những ngày nới lỏng giãn cách và từng bước phục hồi sản xuất kinh doanh trong tâm thế an toàn trước dịch bệnh, không đứt gãy tài chính, HDBank tiếp tục triển khai dịch vụ đi kèm với thúc đẩy tín dụng như quản lý dòng tiền, cấp UPAS L/C thúc đẩy xuất nhập khẩu, thanh toán nhanh trên eBanking với gói giải pháp số toàn diện.v.v.. HDBank tối ưu hóa các dịch vụ trên nền tảng số hóa như: mở tài khoản doanh nghiệp online; cấp tín dụng online 24/7; thực hiện phát hành L/C trực tuyến hoặc chuyển tiền đi quốc tế online… Đây chính là những dịch vụ hỗ trợ giải pháp cho doanh nghiệp, khách hàng vừa thích ứng bối cảnh mới, vừa thích ứng xã hội số.

Cùng với đó, HDBank cũng đã số hoá quy trình vận hành: Ứng dụng robot vào tự động chấm công, hỗ trợ xử lý khiếu nại, duyệt lệnh tự động,…

Ngân hàng chuyển đổi vận hành để phục vụ khách hàng tốt hơn - Ảnh 1.

Trong hoạt động nội bộ, HDBank cũng đã số hóa mạnh mẽ như ứng dụng công nghệ tự động hoá quy trình doanh nghiệp bằng robot (Akabot) vào công việc; thường xuyên đào tạo, hội thảo, workshop trực tuyến; truyền thông mạnh mẽ qua kênh giao tiếp nội bộ Workplace. Hệ thống iPaper được áp dụng hầu hết đối với tất cả các quy trình/quy định nội bộ, tiết kiệm thời gian, chi phí giấy tờ lưu trữ, đặc biệt hiệu quả trong mùa giãn cách. Công tác thẩm định giá, hạch toán tự động, hạch toán tập trung, công tác quản lý chứng từ,… đều được tối ưu hóa trên nền tảng công nghệ.

Khách hàng là trọng tâm

Với sự chuyển đổi vận hành hiệu quả, từ đó giúp Ngân hàng đẩy mạnh hoạt động nội bộ lẫn kinh doanh thông suốt, an toàn, đáp ứng liên tục và hiệu quả cao trong việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ đến Khách hàng. Trên nền tảng số, không cần tiếp xúc trực tiếp, khách hàng vẫn được phục vụ tốt trong thời gian giãn cách xã hội tại các địa phương áp dụng giãn cách xã hội.

Bà Trần Thu Hương- Giám đốc Khối Vận hành HDBank, chia sẻ: “Để đảm bảo quá trình vận hành hoạt động Ngân hàng được thông suốt, an toàn, hiệu quả, Khối Vận hành HDBank đã chủ động và phối hợp rất chặt chẽ cùng các Khối, Phòng ban trong Ngân hàng như một thể thống nhất, cùng chuyển đổi, bắt đầu từ những cải tiến nhỏ nhất. HDBank đã vận hành cách làm việc mới, khoa học, hệ thống hóa, dựa trên nền tảng công nghệ trong mọi mặt hoạt động để hướng đến khách hàng mà phục vụ và hướng đến hiệu quả chung cao nhất”.

Đồng thời, với ưu thế số hóa, HDBank tiếp tục thực hiện hiệu quả chủ trương miễn giảm lãi suất cho khách hàng ở một số lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch Covid-19 và cả nhóm khách hàng tại khu vực bị phong tỏa, giãn cách kéo dài theo Chỉ thị 16, với tổng dư nợ gần 42.000 tỷ đồng, tương ứng với số lượng hơn 18.000 khách hàng.

Những kết quả này giúp HDBank thành công trong việc xây dựng được một nền tảng khách hàng lớn, đồng hành và gắn bó.

Đổi mới vận hành và cải tiến dịch vụ trên nền tảng số hoá là một trong nhiều điển hình về cách làm, nỗ lực tạo khác biệt của HDBank trong trong thời gian qua trên cơ sở mục tiêu phục vụ khách hàng tốt nhất, để khách hàng hạnh phúc, thành công và luôn được đảm bảo tài chính an toàn.

Nguồn: cafef.vn

2021-11-04 / by / in
Phát hành thẻ tín dụng ảo tiện lợi, Ngân hàng Bản Việt ghi điểm với người dùng

Thay bằng việc phải đến ngân hàng đăng ký sử dụng thẻ tín dụng vật lý , sự xuất hiện kịp thời của những chiếc thẻ tín dụng ảo là giải pháp ghi điểm nhanh chóng cho người dùng bởi tính tiện dụng của nó.

1. Giao dịch online gia tăng, bài toán nào dành cho ngân hàng?

Trong báo cáo khảo sát người tiêu dùng Việt Nam thực hiện vào tháng 2/2021, Deloitte Đông Nam Á đã dành lời đánh giá chung cho người tiêu dùng Việt là “kiên cường trước khó khăn”. Sự dịch chuyển ưu tiên trong thói quen tiêu dùng sang mặt hàng thiết yếu năm 2020 có thể thấy rõ nét khi việc chi mua thực phẩm đã tăng từ 34% lên 42%, chi phí dành cho nhà ở và tiện ích cũng tăng từ 7% lên 12% so với năm 2019. Không có gì bất ngờ khi nhận thấy rằng Covid-19 đã thúc đẩy sự chuyển đổi thói quen từ kênh mua hàng truyền thống sang các kênh trực tuyến, thương mại điện tử. Người dân có xu hướng dành nhiều ưu tiên hơn cho các mặt hàng trong danh mục nhu yếu phẩm thiết yếu trong ngân sách chi tiêu hàng tháng của gia đình. So với năm 2019, chi mua thực phẩm (bao gồm thực phẩm chế biến sẵn, tươi sống và đồ hộp) tăng từ 34% lên 42%, chi phí nhà ở & tiện ích cũng tăng từ 7% lên 12%.

Nhu cầu giao dịch online gia tăng trên thị trường đang đặt ra bài toán cho các ngân hàng: Làm thế nào để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng không chi tiêu tiền mặt trong bối cảnh bình thường mới? Đặc biệt những khách hàng mong muốn sở hữu thẻ tín dụng dễ dàng để có một khoản chi phí mua sắm phục vụ nhu cầu của cuộc sống.

Ngân hàng Bản Việt: UPCOM và 'bộ mặt' mới

2. Thẻ ảo Bản Việt – giải pháp tức thì, hiệu quả

Trong số những giải pháp đang được các ngân hàng triển khai, việc phát hành thẻ tín dụng ảo đang được xem là giải pháp hiệu quả vừa kích thích nhu cầu giao dịch, vừa đảm bảo an toàn sức khỏe cho người sử dụng. Mới đây thông tin về việc Ngân hàng Bản Việt áp dụng mở thẻ tín dụng ảo đã nhận được sự quan tâm của nhiều khách hàng Bản Việt, đặc biệt là giới văn phòng và các bạn trẻ thuộc thế hệ GenZ vốn yêu thích công nghệ cao.

Không chỉ sở hữu đầy đủ tính năng như một chiếc thẻ tín dụng vật lý thông thường, thẻ tín dụng ảo còn ghi điểm bởi hàng loạt lợi ích tiện dụng. Với chiếc thẻ ảo của Bản Việt khách hàng chỉ mất khoảng thời gian 1 phút thực hiện vài thao tác trên Ngân hàng số digimi là đã có thể mở thẻ thành công và có thể thực hiện giao dịch chỉ sau 2 giờ đăng ký. Không mất thời gian đến phòng giao dịch thực hiện thủ tục, không mất thời gian chuẩn bị hồ sơ, không lo rơi mất thẻ, hạn chế tối đa việc rò rỉ thông tin… là những điểm cộng lớn đối với dịch vụ mở thẻ tín dụng online của Ngân hàng Bản Việt.

Cơ cấu thẻ tín dụng của Bản Việt hiện được thị trường đánh giá là khá đa dạng, đáp ứng nhu cầu của từng nhóm đối tượng khách hàng. Từ các loại thẻ tín dụng phổ thông như thẻ JCB (chia thành các hạng thẻ Standard, Gold, Platinum), thẻ Visa (Classic, Platinum) hay thẻ NAPAS, khách hàng có thể dễ dàng lựa chọn cho mình một loại thẻ phù hợp với nhu cầu tiêu dùng với hạn mức tối đa là 100 triệu đồng. Ngoài ra việc miễn lãi 55 ngày, miễn phí thường niên, hay hoàn tiền,… cũng là những ưu điểm vượt trội của thẻ Bản Việt trên thị trường

Nguồn: cafef.vn

2021-11-04 / by / in
Những ngân hàng có nợ xấu…đẹp trong 9 tháng đầu 2021

Trong bối cảnh dịch Covid-19 lần thứ 4 khiến giãn cách xã hội kéo dài, doanh nghiệp khó khăn, nợ xấu ngân hàng được dự báo có nguy cơ tăng lên. Trên thực tế, bức tranh nợ xấu ngành ở quý III không hoàn toàn u ám.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, trong số các hoạt động, chương trình hỗ trợ người dân và doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi Covid-19, đến 30/9/2021, công tác cơ cấu nợ của các tổ chức tín dụng (TCTD) đã ghi nhận thời hạn trả nợ cho 278.000 khách hàng với dư nợ 238.000 tỷ đồng, lũy kế giá trị nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng từ 23/01/2020 tới hết tháng 9 năm nay vào khoảng 531.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó công tác tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu tiếp tục được đẩy mạnh.

Tuy nhiên, do tác động của dịch Covid-19, nợ xấu nội bảng có xu hướng tăng. Theo báo cáo tài chính quý 3/2021 được công bố, quy mô nợ xấu của nhiều ngân hàng tăng từ 14% – 25% so với cùng kỳ năm trước. Tại một số ngân hàng, tốc độ tăng thậm chí trên 30% dù đây đều là các ngân hàng top đầu về công bố lợi nhuận. Tỷ lệ nợ xấu/tổng cho vay khách hàng tại một số nhà băng do vậy cũng có xu hướng tăng lên.

Trong khi đó, gây bất ngờ là một số ngân hàng như VietinBank, BIDV… đã có tỷ lệ nợ xấu kiểm soát tích cực. Theo BCTC tại 30/9/2021, tỷ lệ nợ xấu của VietinBank và BIDV lần lượt là 1,67% và 1,61%. BIDV thậm chí còn có tỷ lệ nợ xấu tăng trưởng âm so với cùng kỳ -4,9%.

Đáng chú ý, một số ngân hàng hiếm hoi vừa giữ được tăng trưởng vững vàng giữa đại dịch vừa kiểm soát nợ xấu ở mức thấp. Điển hình nhóm này có HDBank với quy mô nợ xấu giảm 11% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ nợ xấu riêng lẻ tiếp tục thấp dưới 1%. Dư nợ cho vay các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, nợ tái cơ cấu cũng được kiểm soát, giúp chi phí dự phòng rủi ro tín dụng không tăng đột biến như ghi nhận tại một số ngân hàng.

Sức khỏe ngân hàng: Lợi nhuận đẹp, nhưng nợ xấu có dấu hiệu tăng

Theo BCTC HDBank vừa công bố, tính đến hết ngày 30/9/2021, nhờ nguồn thu đa dạng và tối ưu chi phí hoạt động, tổng tài sản của HDBank tính đến 30/9 đạt 346.355 tỷ đồng, tăng 26,7% so với cùng kỳ 2020. Với lãi trước thuế đạt hơn 6.084 tỷ đồng, HDBank đang đạt kế hoạch gần 84% và dự báo sẽ tiếp tục tăng thu dịch vụ từ bancassurance lẫn dịch vụ thanh toán, cũng như hiệu quả đến từ chiến lược đầu tư ngân hàng số mạnh mẽ.

Chung nhóm các ngân hàng “hưởng lợi” từ đầu tư chuyển đổi số và có nợ xấu giảm “đẹp” trong 9 tháng 2021, OCB tăng trưởng nợ xấu giảm khi âm tới 13,3% so với cùng kỳ, còn MBB, một ngân hàng cũng có kết quả tích cực, cũng giảm nợ xấu tới 21% và giữ tỷ lệ nợ xấu/ tổng cho vay ở mức khá thấp…

Như vậy, nhìn chung bức tranh trái ngược về tỷ lệ nợ xấu của các nhà băng theo đó đang có sự phân hóa nhất định.

Nguồn: cafef.vn

2021-11-04 / by / in
Vốn huy động của Ngân hàng thương mại là gì? Các nguồn hình thành

Vốn huy động của Ngân hàng thương mại là nguồn vốn chủ yếu của Ngân hàng, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà Ngân hàng tạm thời quản lí, sử dụng và có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời và đầy đủ khi khách hàng có yêu cầu.

Vốn huy động của Ngân hàng thương mại

Khái niệm

Vốn huy động trong tiếng Anh được gọi là Mobilized Capital.

Vốn huy động của Ngân hàng thương mại là nguồn vốn chủ yếu của Ngân hàng, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà Ngân hàng tạm thời quản lí, sử dụng và có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời và đầy đủ khi khách hàng có yêu cầu.

Trong đó:

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận

Các nguồn vốn huy động

Nguồn vốn huy động gồm có:

– Tiền gửi không kì hạn

– Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn

– Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn

– Tiền gửi phát hành kì phiếu, trái phiếu

– Các khoản tiền gửi khác

Nghiệp vụ ngân hàng thương mại] – Chương 2: Nghiệp vụ huy động vốn | Tài liệu Kết Nối Trẻ

Tiền gửi không kì hạn

Là loại tiền gửi mà người sở hữu nó có thể rút ra để sử dụng bất kì lúc nào. Tiền gửi không kì hạn là tiền gửi tạm thời của các tổ chức kinh tế, dân cư.

Loại này tuy biến động thường xuyên nhưng vẫn có được một số dư ổn định do số tiền gửi vào và rút ra trong một thời kì có thể bù trừ cho nhau, nên ngân hàng ngoài việc sử dụng cho vay ngắn hạn, còn có thể sử dụng cho vay trung và dài hạn đối với số dư nêu trên.

Về nguyên tắc do mục đích người có tiền gửi không kì hạn là nhờ ngân hàng  cung cấp các dịch vụ thanh toán nên đối với loại này. Ngân hàng sẽ không trả lãi hoặc trả lãi thấp.

Tiền gửi có kì hạn

Là loại tiền gửi mà chủ của nó chỉ sử dụng rút ra khi tới hạn hoặc muốn rút ra phải báo trước. Tiền gửi có kì hạn gồm tiền gửi của các tổ chức kinh tế, dân cư… người gửi tiền nhằm mục đích sinh lời.

Do đó, Ngân hàng muốn tăng nguồn vốn này phải trả lại thỏa đáng sao cho người gửi vừa được bảo đảm an toàn về vốn vừa có khoản thu nhập hợp lí từ tiền gửi của mình.

Tiền gửi có kì hạn là nguồn vốn tương đối ổn định nên Ngân hàng có thể sử dụng chúng để cho vay ngắn, trung và dài hạn.

Nguồn: vietnambiz.vn

2021-11-03 / by / in
Ngân hàng kỳ vọng gì từ “khóa” room ngoại

Techcombank sẽ thực hiện “khóa” tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư ngoại ở mức hơn 22,49%. Một số ngân hàng khác cũng thông báo điều chỉnh room ngoại như HDBank, VietCapitalBank… Vì sao các ngân hàng lại có động thái này. Để tìm câu trả lời cho vấn đề trên, phóng viên Thời báo Ngân hàng đã phỏng vấn ông Trần Tánh – Phó phòng Phân tích và Nghiên cứu CTCK Yuanta Việt Nam.

Theo ông đâu là lý do các ngân hàng lại “khoá” room ngoại?

Năm nay là năm các ngân hàng đẩy mạnh hoạt động tăng vốn. Nhưng hiện tại có thể họ đang ưu tiên việc gọi vốn từ nhà đầu tư nội thông qua nhiều hình thức chia cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành riêng lẻ, phát hành trái phiếu chuyển đổi…

Động thái khoá room ngoại hoặc giảm tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, theo tôi tuỳ thuộc kế hoạch của các ngân hàng. Chẳng hạn như HDBank mới phát hành trái phiếu chuyển đổi. Để chuyển đổi từ trái phiếu sang cổ phần cho các nhà đầu tư, bắt buộc họ phải phải khoá room ngoại mới thực hiện được.

Còn trường hợp ngân hàng khác có thể họ chưa tìm được hoặc đang trong quá trình đàm phán chiến lược nên tạm khoá lại. Khi nào tìm được thì họ lại mở room bình thường.

Ngân hàng kỳ vọng gì từ “khóa” room ngoại - Ảnh 1.

Có phải các ngân hàng kỳ vọng giá bán cao hơn nên khoá room ngoại tại thời điểm này, thưa ông?

Đó cũng có thể là một lý do. Hiện tại giá cổ phiếu ngân hàng đang ở mức khá tốt và vẫn giữ vị thế cổ phiếu vua, dẫn dắt thị trường nên có thể các ngân hàng kỳ vọng ở mức giá cao hơn trước khi tìm được nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Xét ở góc độ thị trường, kỳ vọng trên là hợp lý dựa trên tiềm năng thị trường với thanh khoản cao, dư địa tăng giá của ngân hàng vẫn còn. Nhưng các ngân hàng cũng không nên kéo dài việc khoá hay giảm room mà cố gắng tận dụng gọi vốn ngoại trong năm nay để gấp rút hoàn thành kế hoạch tăng vốn. Vì khi giá cổ phiếu ngân hàng tăng quá cao, mức giá sẽ không còn hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nữa, chu kỳ tăng trưởng qua đi việc gọi vốn ngoại lại gặp khó khăn.

Có ý kiến cho rằng, hiện giá cổ phiếu ngân hàng Việt Nam vẫn còn thấp hơn so với thị trường các nước mới nổi. Quan điểm của ông đối với nhận định trên?

Đúng là so với các ngân hàng trong khu vực chỉ số P/E, P/B của các ngân hàng Việt Nam không phải cao. Vì tỷ suất sinh lời của ngân hàng Việt Nam vẫn tốt và khá cao so với các ngân hàng trong khu vực. Xét về mặt bằng chung có thể giá cổ phiếu ngân hàng không đắt, nhưng có một số cổ phiếu ngân hàng giá tăng khá cao so với chuẩn trung bình của Ngành. Do vậy, những cổ phiếu này sẽ không thực sự hấp dẫn đối với nhiều nhà đầu tư ở thời điểm này. Nhất là khi dòng tiền đang luân chuyển hướng tới các nhóm ngành khác.

Theo ông, thời gian tới các ngân hàng cần làm gì để tăng hấp dẫn của nhà đầu tư nước ngoài?

Phải khẳng định, việc các ngân hàng Việt Nam kinh doanh hiệu quả trong giai đoạn vừa qua vẫn tạo sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đánh giá tích cực một số ngân hàng là điểm cộng trong con mắt nhà đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, tốc độ tăng trưởng tài sản của ngân hàng khá cao trong khi tăng trưởng vốn chưa tương xứng. Dù các ngân hàng Việt Nam cũng đã tích cực đẩy mạnh hoạt động tăng vốn, nhưng xét mặt bằng chung, vốn của nhiều ngân hàng vẫn còn mỏng. Trong khi ngân hàng các nước trên thế giới đã áp dụng Basel III, còn tại Việt Nam mới chỉ có một vài ngân hàng đang triển khai Basel III, còn lại chỉ dừng ở Basel II. Mà những tác động của dịch bệnh Covid đối với hoạt động ngân hàng trong thời gian tới là khó tránh khỏi, trong đó có vấn đề nợ xấu. Tuy các ngân hàng cũng đã giải quyết khá tốt nợ xấu, cộng thêm cơ chế chính sách hỗ trợ của NHNN, nhưng nếu các ngân hàng không có bước đệm vốn an toàn để giải quyết vấn đề nợ xấu tiềm ẩn trong tương lai thì sẽ dẫn đến rủi ro.

Với các nhà đầu tư nước ngoài khi xem xét đầu tư lâu dài, bên cạnh tăng trưởng, lợi nhuận, vấn đề an toàn vốn, thanh khoản của hệ thống cũng được họ rất quan tâm.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn: Thời báo ngân hàng

2021-11-03 / by / in
Đề xuất nới “room” ngoại cho các ngân hàng thương mại

Nhiều ngân hàng và chuyên gia đề xuất: Những ngân hàng đã hoàn thành Basel II, đang nâng cao lên Basel III có thể được nâng tỷ lệ góp vốn cổ đông nước ngoài lên cao hơn tỷ lệ 30%.

Mới đây, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) và các chuyên gia của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) đã có buổi làm việc về dự thảo báo cáo “Nghiên cứu tính cần thiết của việc điều chỉnh tăng giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các tổ chức tín dụng”.

Từ năm 2017 đến năm 2020, số lượng cổ đông nước ngoài tại 16 ngân hàng thương mại đã tăng từ 42 tổ chức lên xấp xỉ 90 tổ chức. Họ là những nhà đầu tư lớn, tiềm lực tài chính mạnh, trình độ quản trị mang tầm vóc quốc tế và khu vực; nhờ đó các ngân hàng thương mại tăng qui mô vốn chủ sở hữu, tăng năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh, đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu.

Tuy nhiên. các chuyên gia cho rằng nếu so với con số 31 ngân hàng thương mại đang hiện diện ở nước ta thì số 16 ngân hàng thương mại có cổ đông chiến lược còn rất khiêm tốn. Muốn góp phần tạo động lực phát triển kinh tế xã hội, thì đây là một kênh gọi vốn cực kỳ quan trọng, đặc biệt trong thời kỳ các ngân hàng đang đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng tốc áp dụng tiến bộ công nghệ thanh toán hiện đại, mở rộng dịch vụ tiện ích, phổ cập tài chính toàn diện.

Cùng có quan điểm giống như các chuyên gia Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, nhiều ngân hàng thương mại cho rằng, việc tìm kiếm, lựa chọn các đối tác chiến lược đã khó, nhưng khi đàm phán để đi đến kết quả chung cuộc, thì vướng mắc lớn nhất tập trung vào tỷ lệ vốn chủ sở hữu.

Nghị định số 01/2014/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực từ ngày 20 tháng 02 năm 2014. Cùng với các quy định mang tính mở đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp thì hiện nay các nhà đầu tư nước ngoài cũng rất chú ý đến việc mua cổ phần tại các tổ chức tín dụng Việt Nam.

Ngân hàng thương mại là gì? Phân loại ngân hàng thương mại

Theo quy định của Nghị định này, tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài: Cá nhân nước ngoài: không quá 5% vốn điều lệ; Tổ chức nước ngoài: không quá 15% vốn điều lệ; Nhà đầu tư chiến lược: không quá 20% vốn điều lệ; Nhà đầu tư nước ngoài + Người có liên quan: không quá 20% vốn điều lệ.

Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi của tổ chức tín dụng Việt Nam sang cổ phiếu phải đảm bảo tỷ lệ sở hữu cổ phần như trên.

Chuyên gia của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương và Hiệp hội Ngân hàng cho rằng, dường như tỷ lệ sở hữu vốn trên đang làm khó cơ hội tìm kiếm cổ đông chiến lược của các ngân hàng thương mại. Các chuyên gia đề xuất kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước: Cân nhắc cách tiếp cận mở việc điều chỉnh tăng giới hạn tỷ lệ sở hữu đối với các nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng thương mại, về phát triển fintech; cập nhật quan điểm về mức độ tham gia của nhà đầu tư nước ngoai; cải thiện khung pháp lý để bảo đảm cạnh tranh bình đẳng mọi thành phần kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính; đối thoại cởi mở hơn với cộng đồng doanh nghiệp về các vấn đề liên quan đến cơ cấu sở hữu tại các ngân hàng thương mại.

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng – Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng, bên cạnh các ngân hàng tự chủ động khắc phục khó khăn do nguyên nhân chủ quan như: nâng cao năng lực quản trị rủi ro, đổi mới công nghệ, xử lý nợ xấu… để tiếp cận các nhà đầu tư chiến lược tiềm năng, thì vấn đề hoàn thiện khung pháp lý theo hướng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, ổn định lâu dài, nhất quán là điều rất cần thiết. Việc quy định tỷ lệ ở hữu cổ phần của cổ đông nước ngoài cần được phân loại theo nhóm, đối với nhóm các ngân hàng thương mại có thể nới room tùy theo đánh giá xếp loại của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng thương mại đã hoàn thành Basel II, đang tiếp tục nâng cao Basel III có thể nâng tỷ lệ góp vốn cổ đông nước ngoài lên cao hơn tỷ lệ 30% như đã quy định.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Quốc Hùng cũng nêu rõ, việc xem xét tăng tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là cần thiết, song phải đảm bảo hài hòa lợi ích, nhu cầu của các nhà đầu tư với vai trò quản lý nhà nước. Chính sách rõ ràng, nhất quán ngay từ đầu sẽ hỗ trợ rất nhiều cho các ngân hàng thương mại đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu, hội nhập.

Nguồn: cafef.vn

2021-11-03 / by / in
Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Xét căn cứ đặc thù lịch sử, quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể chia ra thành bốn giai đoạn gồm thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ miền Bắc Việt Nam 1954-1975, thời kỳ miền Nam Việt Nam 1954-1975 và thời kỳ từ sau thống nhất đất nước 1975 đến nay.

1. Hệ thống ngân hàng Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc

Trước khi người Pháp đặt chân đến Việt Nam năm 1858, Việt Nam chưa có tổ chức ngân hàng và tín dụng. Vào cuối thế kỷ thứ 19, khi nền đô hộ đã được thiết lập trên toàn cõi Đông Dương, Việt Nam trở thành một thị trường độc chiếm của Pháp.

Nhiều hoạt động kinh tế của người Pháp ở Đông Dương bành trướng mạnh nên chính phủ buộc phải thành lập các ngân hàng để hỗ trợ các hoạt động đó. Lúc đầu có 2 ngân hàng có trụ sở tại Pháp và các chi nhánh trên toàn Đông Dương là Ngân hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine) thành lập từ 1873 và Pháp-Hoa Ngân hàng (Banque Franco-Chinoise) được thành lập với mục đích hỗ trợ các giao dịch thương mại giữa Pháp, Đông Dương và Trung Hoa cũng như với một vài nước khác ở Á Đông như Nhật, Thái Lan. Hai ngân hàng này ngoài độc quyền phát hành tiền tệ như một Ngân
hàng Trung ương, nó còn là một ngân hàng kinh doanh thương mại, cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế của người Pháp ở Đông Dương. Phải tới năm 1927, một số tư bản người Việt Nam mới thành lập ngân hàng đầu tiên của Việt Nam lấy tên là An Nam ngân hàng (sau đổi tên là Việt Nam ngân hàng) nhằm hỗ trợ vốn cho các hoạt động nông nghiệp. Cho đến năm 1954, người Việt có ngân hàng thứ hai là Việt Nam công thương ngân hàng.

2. Hệ thống ngân hàng Việt Nam ở miền Bắc giai đoạn 1954 đến 1975

Ngày 06/05/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam với nhiệm vụ chính như phát hành tiền tệ, quản lý tiền tệ, và thực hiện chính sách tín dụng nhằm phát triển hoạt động sản xuất. Ngày 21/01/1960, Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam ở Miền Bắc có thể được chia làm hai thời kỳ từ 1951 đến 1954 và thời kỳ từ 1955 đến 1975. Trong thời kỳ đầu, ngân hàng quốc gia Việt Nam hoạt động độc lập trong hệ thống tài chính với chức năng như phát hành tiền tệ, thu hồi tiền tài chính, quản lý Kho bạc Nhà nước nhằm tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân sách và phát triển tín dụng ngân hàng nhằm phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá. Đến thời kỳ tiếp theo 1955 đến 1975, Ngân hàng Quốc gia với nhiệm vụ củng cố thị trường tiền tệ, ổn định tiền tệ nhằm góp phần bình ổn vật giá, tạo thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế.

3. Hệ thống ngân hàng Việt Nam ở miền Nam giai đoạn 1954 đến 1975

Sau Hiệp định Geneve, chính phủ Pháp ký một loạt hiệp định với Nam Việt Nam, Campuchia và Lào, chính thức phá bỏ tình trạng hợp nhất tiền tệ và quan thuế giữa ba nước Đông Dương, khẳng định nguyên tắc mỗi quốc gia được quyền tự do phát hành và kiểm soát tiền tệ.

Từ đó, cùng với chủ quyền về chính trị, người Việt Nam bắt đầu được làm chủ về hoạt động ngân hàng và phát triển trên qui mô nhà nước. Sự phát triển của ngành ngân hàng miền Nam Việt Nam giai đoạn này có thể được chia thành 2 thời kỳ từ 1954 đến 1964 và từ 1965 đến 1975. Thời kỳ 1954 đến 1964, người dân vẫn tiếp tục sử dụng các ngân hàng của người Pháp, Anh, Hong Kong, Đài Loan có chi nhánh tại Việt Nam. Thời kỳ từ 1965 đến 1975 là giai đoạn chuyển biến của hoạt động ngân hàng Việt Nam, tạo tiền đề và điều kiện cho một thời kỳ phát triển rầm rộ từ năm 1965 đến năm 1972. Trong 7 năm đầu của thời kỳ này, 18 ngân hàng mới được thành lập, nâng tổng số lên đến 31 ngân hàng với 178 chi nhánh ở các tỉnh vào năm 1972. Đến thời kỳ trước 04/1975, hệ thống ngân hàng ở Miền Nam gồm 1 ngân hàng trung ương, 32 ngân hàng thương mại với 180 chi nhánh, 2 ngân
hàng phát triển và 60 ngân hàng nông thôn.

4. Hệ thống ngân hàng Việt Nam từ năm 1975 đến nay

Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ năm 1975 đến nay có thể chia thành có thể chia thành 3 thời kỳ từ 1975 đến 1985, 1986 đến 1990, và 1991 đến nay. Thời kỳ 1975-1985, sau 1975, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ở miền Nam được quốc hữu hoá và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước. Thời kỳ 1986 -1990 là giai đoạn manh nha của các cải cách bước đầu, làm tiền đề cho việc hình thành và phát triển một hệ thống Ngân hàng Việt Nam một cách căn bản và toàn diện hơn.

Với những yêu cầu về đổi mới hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam, tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơ chế Hệ thống tài chính Việt Nam hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp. Trong đó, cấp 1 là Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng. Và cấp 2 là các ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các Định chế tài chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện như ngân hàng cổ phần, liên doanh, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài, Hợp tác xã tín dụng, Quỹ tín dụng nhân dân và công ty tài chính.

Thời kỳ 1991 đến nay là giai đoạn hệ thống ngân hàng Việt Nam có rất nhiều chuyển biến dần theo hướng một hệ thống ngân hàng hai cấp hiện đại. Luật NHNN 2010 đã có một số thay đổi quan trọng so với Luật NHNN 1997, làm rõ hơn địa vị pháp lý của NHNN, đồng thời xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của NHNN với tư cách là ngân hàng trung ương, thực hiện các chức năng về quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa hai chức năng quan trọng của một ngân hàng trung ương là thực thi chính sách tiền tệ và giám sát an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Nguồn: Luanvanaz

2021-10-29 / by / in
Cạnh tranh và ổn định hệ thống ngân hàng tại Việt Nam
Ảnh hưởng của cạnh tranh đến ổn định hệ thống ngân hàng là chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà hoạch định chính sách trong hơn hai thập kỷ vừa qua, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 – 2008.
Hiện nay, trong giới học thuật nổi lên hai quan điểm chính: (i) quan điểm cạnh tranh có ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định hệ thống ngân hàng (cạnh tranh – bất ổn), và (ii) quan điểm cạnh tranh có ảnh hưởng tích cực đến ổn định hệ thống ngân hàng (cạnh tranh – ổn định). Nhiều học giả đã kiểm định mối liên hệ này tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tuy nhiên, kết quả thu được lại rất khác nhau. Mục tiêu của bài nghiên cứu này là xem xét mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định hệ thống ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 – 2017. Sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính GMM (Generalised Methods of Moments) để ước lượng mối quan hệ giữa các biến về ổn định hệ thống ngân hàng (chỉ số Z-score, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản) và cạnh tranh (chỉ số Lerner, HHI tiền gửi và HHI cho vay), kết quả thực nghiệm cho thấy, cạnh tranh có thể dẫn đến bất ổn. Đây là một kết quả phù hợp với điều kiện của Việt Nam cũng như một số nước có hệ thống tài chính ngân hàng đang phát triển. Cạnh tranh quá mức trong khi luật pháp chưa đủ chặt chẽ để kiểm soát, điều chỉnh sẽ dễ dẫn đến các vấn đề cạnh tranh không lành mạnh, làm suy giảm sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
1. Đặt vấn đề
Hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực tài chính một cách hiệu quả tới các đối tượng có nhu cầu. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng cũng chính là kênh truyền dẫn bất ổn đến các khu vực khác của nền kinh tế qua sự sụp đổ của thị trường liên ngân hàng và các cơ chế thanh toán cũng như sự sụt giảm nguồn cung tín dụng và tình trạng đóng băng tiền gửi (Berger và các cộng sự, 2009), từ đó gây ra các tác động tiêu cực kéo dài đối với nền kinh tế thực và chi phí tốn kém cho việc khắc phục khủng hoảng tài chính. Đây là một trong những lý do khiến các nhà hoạch định chính sách đặc biệt chú trọng đến việc thiết lập các quy định, chính sách nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của khu vực ngân hàng.
Một trong những yếu tố quan trọng có thể gây ra rủi ro cho khu vực ngân hàng là sự cạnh tranh giữa các ngân hàng. Làm thế nào để quản lý, giám sát ngân hàng theo hướng vừa đảm bảo cạnh tranh lành mạnh vừa duy trì ổn định hệ thống ngân hàng là vấn đề được quan tâm hơn bao giờ hết. Theo Beck (2008), cần phải có sự phát triển hài hòa mối quan hệ giữa cạnh tranh và quản lý, giám sát ngân hàng nhằm ổn định hệ thống ngân hàng. Nếu cạnh tranh đi đôi với các quy định, chính sách không phù hợp thì sẽ tạo nên một sự kết hợp rất nguy hại cho nền kinh tế. Tuy nhiên, việc xác định vấn đề cạnh tranh ngân hàng ảnh hưởng như thế nào đến ổn định hệ thống ngân hàng nhằm đưa ra các chính sách thoả đáng đến nay vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Về vấn đề này, hiện nay, trong giới học thuật, nổi lên hai quan điểm chính: (i) quan điểm cạnh tranh có ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định hệ thống ngân hàng (cạnh tranh – bất ổn); và (ii) quan điểm cạnh tranh có ảnh hưởng tích cực đến ổn định hệ thống ngân hàng (cạnh tranh – ổn định). Nhiều học giả đã kiểm định mối liên hệ này tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tuy nhiên kết quả thu được lại rất khác nhau. Các kết quả trái ngược này gây khó khăn cho việc đưa ra chính sách về cạnh tranh phù hợp và tác động đến việc thiết kế hệ thống quản lý, giám sát ngân hàng hiệu quả. Nhận thấy sự cần thiết và vai trò quan trọng trong việc cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định hệ thống ngân hàng Việt Nam làm thông tin tham khảo cho các cơ quan quản lý có thẩm quyền, bài viết này nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố cạnh tranh và tính ổn định của hệ thống ngân hàng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa cạnh tranh và ổn định hệ thống ngân hàng.
2. Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
2.1. Cơ sở lý thuyết
Quan điểm cạnh tranh – bất ổn theo mô hình của Keeley (1990) và Marcus (1984) cho rằng, cạnh tranh làm suy yếu ổn định hệ thống ngân hàng. Mối quan hệ này được thể hiện thông qua kênh truyền dẫn về giá trị thương hiệu [1] (franchise value). Mức độ cạnh tranh tăng lên sẽ làm quyền lực ảnh hưởng thị trường của ngân hàng giảm đi (Berger, Klapper and Turk-Ariss, 2008), qua đó làm giảm giá trị thương hiệu của ngân hàng (Keeley, 1990). Giá trị thương hiệu của ngân hàng càng thấp thì chi phí phá sản của ngân hàng càng thấp. Do đó, các ngân hàng có động cơ chấp nhận rủi ro cao hơn, qua đó tăng nguy cơ phá sản. Ngoài kênh truyền dẫn giá trị điều lệ, Allen và Gale (2000) phát hiện ra rằng, cạnh tranh với sự tham gia của nhiều ngân hàng là điều kiện lý tưởng cho sự lan truyền các cú sốc tài chính. Bên cạnh những ảnh hưởng trực tiếp, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và cấu trúc thị trường còn có thể gián tiếp gia tăng hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. Cạnh tranh ngân hàng có thể tạo ra bất ổn và hệ quả là sự tháo chạy của người gửi tiền/nhà đầu tư. Tự do hóa tài chính dưới hình thức chuyển đổi dần từ trạng thái độc quyền sang cạnh tranh có thể gia tăng tổn thương (Chang và Velasco, 2001). Khi cạnh tranh trở nên gay gắt, các ngân hàng chạy đua về lãi suất. Điều này có thể mang lại lợi ích cho khách hàng, tuy nhiên, lại khiến các ngân hàng đối mặt với nguy cơ rủi ro.
Tuy nhiên, theo quan điểm cạnh tranh – ổn định, cạnh tranh không phải là yếu tố gây tổn thương (về mặt cấu trúc) cho hệ thống ngân hàng. Xét về một khía cạnh nào đó, nếu ngân hàng gặp phải những vấn đề liên quan đến rủi ro đạo đức dẫn tới phải đối mặt với rủi ro về thanh khoản thì việc ngân hàng đó đứng trước nguy cơ phá sản trong một môi trường đầy tính cạnh tranh là cần thiết để ngân hàng điều chỉnh hành vi và cách thức hoạt động phù hợp hơn. Cạnh tranh là cần thiết để tăng cường ổn định tài chính do khắc phục được những hạn chế của thị trường độc quyền (Caminal and Matute, 2002). Hệ thống ngân hàng có mức độ tập trung thấp hạn chế nguy cơ khủng hoảng tài chính. Theo Boyd và Runkle (1993) và Mishkin (1999), quan điểm này dựa trên hai lập luận chính – vấn đề quá lớn để sụp đổ và vấn đề quá lớn để giám sát. Lập luận đầu tiên bắt nguồn từ thực tế các ngân hàng hoạt động trong một thị trường quá tập trung có thể trở nên quá lớn, quá trọng yếu đối với nền kinh tế và quá liên kết với nhau đến nỗi sự sụp đổ của các ngân hàng này có khuynh hướng gây ra tác động kéo dài đối với nền kinh tế thực và chi phí xã hội tốn kém, do đó buộc chính phủ phải cứu trợ khi các ngân hàng này đối mặt với nguy cơ phá sản. Khả năng các ngân hàng lớn sẽ được cứu trợ có thể tạo ra vấn đề rủi ro đạo đức vì các ngân hàng này sẵn sàng chấp nhận rủi ro quá mức khi biết rằng sẽ được chính phủ cứu trợ nếu thất bại. Điều này có thể khiến cho sự ổn định của hệ thống trở nên mong manh. Lập luận thứ hai cho rằng, quy mô của một ngân hàng tỷ lệ thuận với mức độ phức tạp, do đó, các ngân hàng nhỏ sẽ dễ quản lý và giám sát hơn là các ngân hàng lớn. Các ngân hàng lớn cũng thường đi liền với vấn đề quá lớn để giám sát. Thực tế này có thể khuyến khích các ngân hàng chấp nhận rủi ro quá mức vì họ biết rằng các cơ quan quản lý có thể không phát hiện được rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải. Như vậy, sự tập trung, độc quyền trong ngành Ngân hàng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng, hay cạnh tranh sẽ giúp tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
2.2. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm
Nhiều nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng ủng hộ cho quan điểm cạnh tranh – bất ổn. Keeley (1990) sử dụng số liệu của hệ thống ngân hàng Mỹ giai đoạn 1970 – 1986 để nghiên cứu mối quan hệ giữa cạnh tranh và giá trị điều lệ và phát hiện ra rằng, mức độ tập trung tỷ lệ thuận với mức độ ổn định. Saunders và Wilson (1996) cũng sử dụng dữ liệu của hệ thống ngân hàng Mỹ nhưng trong khoảng thời gian dài hơn và tìm thấy bằng chứng làm vững thêm lập luận của Keeley. Hellman và các cộng sự (2000) cho rằng, mức độ cạnh tranh ngày càng tăng của khu vực tài chính Nhật Bản (chủ yếu do quá trình tự do hóa tài chính vào những năm 1990) là nhân tố đã khiến cho ổn định hệ thống ngân hàng suy yếu và có thể góp phần gây ra khủng hoảng tài chính Đông Á (Jimenez và các cộng sự, 2010). Allen và Gale (2000) tìm được nhiều kết quả cho thấy hệ thống ngân hàng tập trung nhiều khả năng có tính ổn định cao hơn do các ngân hàng thu được nhiều lợi nhuận hơn, đa dạng hơn và dễ kiểm soát hơn. Nghiên cứu của Besanko và Thakor (2004) ủng hộ quan điểm cho rằng, cạnh tranh gay gắt hơn khiến cho các ngân hàng lựa chọn các chiến lược rủi ro hơn. Edwards và Miskin (1995) cũng lập luận rằng, cạnh tranh có khuynh hướng giảm lợi thế chi phí khi huy động vốn và làm suy yếu vị thế của ngân hàng trên thị trường cho vay. Carletti và Vives (2009) kết luận rằng quyền lực ảnh hưởng thị trường tiết chế hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. Sau khi phân tích mẫu gồm 821 ngân hàng đến từ 60 quốc gia đang phát triển, Turk-Ariss (2010) tìm thấy mối tương quan thuận giữa quyền lực ảnh hưởng thị trường và ổn định hệ thống ngân hàng, điều này ngụ ý quyền lực ảnh hưởng thị trường tăng có thể tăng cường an toàn hoạt động ngân hàng và góp phần ổn định kinh tế.
Cần phải có sự phát triển hài hoà mối quan hệ giữa cạnh tranh và quản lý, giám
sát ngân hàng nhằm ổn định hệ thống ngân hàng
Trong khi đó, nghiên cứu của các tác giả như Boyd và các cộng sự (2006), De Nicolo và Loukoianova (2007), và Uhde và Heimeshoff (2009) tìm thấy bằng chứng ủng hộ cho quan điểm cạnh tranh – ổn định. Boyd và các cộng sự (2006) đã sử dụng hai hệ thống dữ liệu độc lập (bao gồm một hệ thống dữ liệu về các ngân hàng tại Mỹ và một hệ thống dữ liệu về các ngân hàng tại hơn 100 quốc gia) để nghiên cứu mối liên hệ giữa ổn định hệ thống ngân hàng và cấu trúc thị trường và phát hiện thấy mối quan hệ ngược chiều giữa Z-score (thước đo về ổn định hệ thống ngân hàng) và HHI (thước đo về quyền lực ảnh hưởng thị trường), điều này có nghĩa là quyền lực ảnh hưởng thị trường tăng có khuynh hướng khiến cho ổn định khu vực tài chính giảm. Nhận định này tiếp tục nhận được sự ủng hộ từ Uhde và Heimishoff (2009) sau khi phân tích 2600 ngân hàng hoạt động tại khu vực đồng euro trong giai đoạn 1997 – 2005. De Nicolo và các cộng sự cũng tìm thấy các kết luận tương tự. De Nicolo và các cộng sự (2004) sử dụng dữ liệu từ 500 tổ chức tài chính lớn nhất trong giai đoạn 1993 – 2000 để nghiên cứu tác động của việc củng cố ngân hàng đối với ổn định hệ thống ngân hàng và phát hiện ra rằng, các hệ thống ngân hàng tập trung hơn thường có mức độ rủi ro hệ thống cao hơn các hệ thống ngân hàng ít tập trung hơn. De Nicolo và Loakoianova (2007) sử dụng dữ liệu ngân hàng từ 133 quốc gia chưa công nghiệp hoá trong giai đoạn 1993 – 2004 để nghiên cứu mối quan hệ giữa phá sản ngân hàng và cấu trúc thị trường. Họ đã tìm thấy mối tương quan cùng chiều giữa tập trung và phá sản ngân hàng.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Mô tả dữ liệu
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ số liệu thống kê của các tổ chức trong nước (như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM và Hà Nội, các NHTM) và quốc tế (như IMF, Worldbank, Heritage Foundation) trong giai đoạn từ năm 2006 – 2017. Các ngân hàng trong mẫu bao gồm 7 ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, 32 ngân hàng thương mại cổ phần và 6 ngân hàng có 100% vốn nước ngoài. Dữ liệu có cấu trúc dữ liệu bảng không cân bằng.
3.2. Mô hình nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sẽ sử dụng mô hình định lượng để tìm hiểu tác động của cạnh tranh lên hệ thống ngân hàng tại Việt Nam. Về mô hình nghiên cứu định lượng, đã có khá nhiều nghiên cứu học thuật sử dụng mô hình hồi quy GMM để nghiên cứu sự tác động này như Berger và cộng sự (2009), Liu và Wilson (2011), Liu và cộng sự (2013), Hope và cộng sự (2013), Iskenderoglu và Tomak (2013), Tomaliwan (2013), Maghyereh và Awartani (2015), Kim (2017) với kết quả có độ tin cậy cao. Tại Việt Nam, Hoàng Thị Phương Anh và cộng sự (2018) đã sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với hiệu ứng cố định chuẩn với kết quả là cạnh tranh có thể ảnh hưởng không tốt tới sự ổn định hệ thống ngân hàng.
Để kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu trên, nghiên cứu này kế thừa phương pháp của Berger và cộng sự (2009) và áp dụng mô hình hồi quy System GMM đối với dữ liệu bảng gồm 45 ngân hàng trong giai đoạn 12 năm từ 2006 đến 2017. Phương pháp System GMM kết hợp phương pháp difference GMM của Arellano and Bond (1991) và phương pháp level GMM của Blundell and Bond (1998) với một lợi thế là có thể tìm các biến công cụ ngay trong bảng dữ liệu bằng cách lấy các biến trễ của các biến liên quan. Đây là phương pháp rất phổ biến trong xử lý dữ liệu bảng, đặc biệt là những dữ liệu bảng có tính động, nghi ngờ có mối quan hệ nội sinh. Phương pháp này rất phù hợp với trường hợp có nhiều đối tượng quan sát nhưng quãng thời gian quan sát lại ngắn, biến phụ thuộc có thể có hiện tượng tự tương quan, các biến độc lập cũng không phải hoàn toàn có tính chất ngoại sinh.
Về định tính, mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định được thể hiện bởi hàm số sau:
Ổn định hệ thống = f(Các biến cấu trúc thị trường, Các biến kiểm soát hệ thống ngân hàng, Các biến về môi trường kinh doanh).
Để ước lượng hàm trên, nghiên cứu sẽ tiến hành ba bước tính toán gồm (i) lượng hóa tính ổn định của hệ thống ngân hàng; (ii) lượng hóa cạnh tranh; và (iii) ước lượng hồi quy mối quan hệ giữa các biến về ổn định hệ thống ngân hàng và cạnh tranh sử dụng phương pháp system GMM.
Về ước lượng các biến về ổn định hệ thống ngân hàng, nghiên cứu sẽ sử dụng Z-index, tỷ lệ nợ xấu (NPL) và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EA). Cụ thể, chỉ số Z-index là thước đo kết hợp về khả năng sinh lời, tỷ số vốn vay và biến động lợi nhuận. Chỉ số này được tính toán như sau:
Theo đó, Zit là biến đảo nghịch xác xuất phá sản của ngân hàng i, ROAi là hệ số thu nhập trên tài sản trung bình kỳ của ngân hàng i, EAi là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản của Ngân hàng i và là độ lệch chuẩn trung bình kỳ của tỷ lệ ROA của ngân hàng i. Chỉ số Z-index tăng khi khả năng sinh lời và mức độ vốn hoá tăng; chỉ số này giảm khi lợi nhuận không ổn định (phản ánh độ lệch chuẩn của ROA tăng).
Ngoài ra, tỷ lệ nợ xấu cũng được sử dụng để ước lượng chất lượng tín dụng và rủi ro của danh mục cho vay. Tỷ lệ này càng cao có nghĩa là rủi ro ngày càng tăng lên.
Về chỉ số cạnh tranh, nghiên cứu sẽ ước lượng hệ số Lerner Index là hệ số đại diện cho chi phí giá vốn cộng lãi đối với chi phí biên và là một chỉ số đại diện cho sức mạnh cạnh tranh độc quyền trên thị trường:
Theo hàm trên, Lernerit là Lerner Index của Ngân hàng i tại thời điểm t, Pit là tỷ lệ giữa tổng doanh thu và tổng tài sản của ngân hàng i, do đó, đại diện cho giá bán, và MCit là chi phí biên của tổng tài sản của ngân hàng i tại thời điểm t. Khi cạnh tranh hoàn hảo thì Pit bằng MCit và Lernerit = 0. Khi giá cả lớn hơn chi phí biên thì Lernerit tăng lên cho thấy mức độ độc quyền của ngân hàng i tại thời điểm t.
Để tính chi phí biên, bài nghiên cứu tiếp tục áp dụng phương pháp Berger và cộng sự (2009) và Beck và cộng sự (2012) đã sử dụng. Phương pháp này giả định một ngân hàng tạo ra tổng tài sản Qit từ ba yếu tố đầu vào là giá vốn tiền  gửi w1it, giá vốn vật chất w2it, và giá lao động w3it. Theo phương pháp ước lượng của Berger và cộng sự (2009) và Beck và cộng sự (2012), chi phí cận biên MC được tính như sau:

Trong đó, các hệ số được ước lượng từ hàm sau:

Sau khi ước lượng các biến đại diện cho tính ổn định và tính cạnh tranh của hệ thống ngân hàng, bước tiếp theo, bài nghiên cứu sẽ xem xét mối quan hệ giữa các biến này. Hàm số sẽ được ước lượng có dạng như sau:

Trong đó:
– Sit là chỉ số ổn định hệ thống gồm chỉ số Z-index, Nợ xấu (NPL) và Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên Tổng tài sản (EA);
– MPit là chỉ số về tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng bao gồm Lerner Index, HHI Cho vay (là tỷ lệ giữa lượng cho vay của ngân hàng và tổng cho vay toàn thị trường) và HHI Tiền gửi (là tổng tiền gửi tại ngân hàng trên tổng tiền gửi toàn thị trường), đại diện cho sức mạnh thị phần của mỗi ngân hàng;
– Xit là ma trận các biến kiểm soát gồm LnQit, LTAit, FATit, State_own_bank và Foreign_bank lần lượt là Logarit của Tổng tài sản ngân hàng, Tỷ lệ cho vay trên Tổng tài sản, Tỷ lệ tài sản cố định trên Tổng tài sản, Tỷ lệ các ngân hàng có vốn của nhà nước và của nước ngoài trên tổng số các ngân hàng trong nghiên cứu. Các biến này thể hiện thành phần cấu thành tài sản mỗi ngân hàng, quy mô của ngân hàng cũng như đặc điểm cạnh tranh qua công nghệ mới của nước ngoài.
Lưu ý là so với mô hình của Berger và cộng sự (2009), mô hình trong bài nghiên cứu loại bỏ biến GDP trên đầu người do tác động đa cộng tuyến. Trong điều kiện thông thường, mỗi cá nhân có thu nhập hàng năm ổn định và được sử dụng cho các khoản chi tiêu cố định như tiền thuê nhà, tiền học, tiền sinh hoạt, điện, nước… nên có một tỷ lệ tiết kiệm ổn định. Với dịch vụ tài chính ngân hàng tại Việt Nam chủ yếu vẫn là các dịch vụ ngân hàng truyền thống, người dân thường lựa chọn gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng. Ngân hàng lại sử dụng một phần số tiền trên để cho vay sau khi để lại dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, có thể thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa GDP trên đầu người và tài sản ngân hàng tại Việt Nam. Trong nghiên cứu của Berger và cộng sự (2009) với trên 7.500 ngân hàng, việc đưa cả hai biến là tài sản ngân hàng và GDP trên đầu người vào mô hình có thể không phải là vấn đề do luật số lớn trong xác suất thống kê, tuy nhiên, trong nghiên cứu về Việt Nam với các sản phẩm ngân hàng truyền thống và chỉ có 45 ngân hàng thì phải cân nhắc tác động đa cộng tuyến.
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Kết quả hồi quy giữa biến phụ thuộc là tính ổn định hệ thống với biến độc lập là tính cạnh tranh của hệ thống

Kết quả hồi quy system GMM cho thấy, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam có thể hướng theo luồng quan điểm cạnh tranh quá gay gắt sẽ dẫn tới bất ổn hệ thống, đúng như kết quả bài nghiên cứu của Berger và cộng sự (2009) và Hoàng Thị Phương Anh và cộng sự (2018) đã tìm ra. Theo kết quả hồi quy tại cột (1) Bảng 1, biến Lerner Index có hệ số tương quan dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 10% cho thấy chỉ số Lerner Index càng cao, tức là càng ít cạnh tranh thì hệ thống càng vững mạnh. Kết quả tại Bảng 2 cũng cho hệ số tương quan dương với ý nghĩa thống kê có ý nghĩa rất cao ở mức 1% giữa biến EA đại diện cho tính lành mạnh của các ngân hàng và các biến Lerner Index đại diện cho tính cạnh tranh hệ thống, HHI_deposit đại diện cho thị phần huy động tiền gửi, HHI_loan đại diện cho thị phần cho vay. Điều này cho thấy, các ngân hàng càng ít cạnh tranh, có thị phần lớn thì có tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản càng cao và càng lành mạnh. Theo kết quả tại cột (2) và (3) Bảng 3, tỷ lệ nợ xấu có hệ số tương quan âm với ý nghĩa thống kê ở mức 10% đối với biến HHI_deposit và ở mức 5% đối với biến HHI_loan. Điều này cho thấy, các ngân hàng có thị phần lớn hơn thì có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn. Kết quả này phù hợp với kết quả hồi quy tại Bảng 1 và Bảng 2 là các ngân hàng ít bị cạnh tranh hơn và có thị phần lớn hơn thì có hoạt động ngân hàng lành mạnh hơn.

Có một lưu ý là phương pháp lấy mẫu để tiến hành nghiên cứu ở Bảng 3 khác với Bảng 1 và Bảng 2. Nếu như ở Bảng 1 và Bảng 2 chúng tôi áp dụng phương pháp hồi quy system GMM với toàn bộ 45 ngân hàng trong giai đoạn 2006 đến 2017 thì tại Bảng 3, chúng tôi chỉ sử dụng số liệu từ 2013 đến 2017. Nguyên nhân của sự thay đổi này là sự thành lập của VAMC năm 2013 để xử lý các khoản nợ xấu bằng cách phát hành trái phiếu đặc biệt của VAMC. Với việc thành lập của VAMC, nợ xấu của hệ thống đang ở mức khá cao được xử lý tương đối hiệu quả và giảm xuống dẫn đến kết quả nghiên cứu không phản ánh đúng tác động của nợ xấu đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Bài nghiên cứu đã áp dụng phương pháp hồi quy system GMM đối với biến Nợ xấu (NPL) cho toàn bộ giai đoạn 2006-2017 nhưng không tìm được bất cứ kết quả có ý nghĩa nào (Kết quả thể hiện tại cột (4), (5), (6)). Tuy nhiên, khi áp dụng số liệu giai đoạn 2013-2017 sau khi hệ thống “reset” thì kết quả khá khả quan (Cột (1), (2), (3)).

4.2. Kết quả hồi quy giữa biến phụ thuộc là tính ổn định hệ thống với biến độc lập là các biến khác.
Về tác động của Tài sản ngân hàng (lnQ) và Tỷ lệ cho vay trên Tổng tài sản (LTA) đối với sự ổn định hệ thống, Berger và cộng sự (2009) đã khẳng định đây là mối tương quan nghịch. Điều này cho thấy ở một thị trường tài chính ngân hàng đã bão hòa, cạnh tranh khốc liệt và tồn tại thông tin bất cân xứng, sự cố gắng quá mức của các ngân hàng trong việc đẩy mạnh các khoản cho vay hay tăng tài sản bằng mọi giá có thể để lọt những dự án rủi ro cao làm ảnh hưởng sự lành mạnh của ngân hàng. Tương tự kết quả nghiên cứu của Berger và cộng sự (2009), kết quả nghiên cứu của chúng tôi tại cột (3) Bảng 1 cho thấy quan hệ tương quan nghịch với độ tin cậy 10% giữa Tổng tài sản ngân hàng (lnQ) và và Z_index. Tương tự Bảng 1, kết quả hồi quy tại Bảng 2 cũng chỉ ra quan hệ tương quan trái chiều với độ tin cậy rất cao ở mức 1% giữa Tổng tài sản ngân hàng (lnQ) và hệ số Vốn chủ sở hữu trên Tổng tài sản (EA). Kết quả trên tiếp tục được khẳng định tại Bảng 3 khi hai biến lnQ và NPL có hệ số tương quan dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%.
Về quan hệ giữa Tỷ lệ cho vay trên Tổng tài sản với Z_index và Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên Tổng tài sản, nghiên cứu không mang lại kết quả có ý nghĩa thống kê cao như nghiên cứu của Berger và cộng sự (2009), tuy nhiên kết quả hồi quy tại cột (2) và (3) Bảng 3 lại khẳng định trong bối cảnh thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam thời gian qua, tăng Tỷ lệ cho vay trên Tổng tài sản sẽ dẫn đến Tỷ lệ nợ xấu cao hơn. Kết quả này có ý nghĩa thống kê ở mức rất cao 1%.
Về việc sự có mặt của các ngân hàng có yếu tố nước ngoài tác động như thế nào đối với sự ổn định hệ thống, đáng tiếc là cả nghiên cứu của Berge và cộng sự (2009) và của nhóm nghiên cứu đều không thể đưa ra một kết luận thống nhất. Nếu như sự tham gia của các ngân hàng có yếu tố nước ngoài làm giảm Z_index tại Bảng 1 thì lại làm tăng Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên Tổng tài sản tại Bảng 2 và giảm tỷ lệ nợ xấu tại Bảng 3. Đây là hai luồng tác động ngược chiều nhau chứ không thống nhất như tác động của các biến đại diện cho cạnh tranh, Tổng tài sản, Tỷ lệ cho vay trên Tổng tài sản đối với sự ổn định hệ thống.
Về tác động của các ngân hàng có vốn nhà nước lên sự ổn định hệ thống, kết quả hồi quy tại Bảng 1 cho thấy, sự tác động này có ý nghĩa thống kê và tác động là trái chiều.
5. Kết luận và khuyến nghị chính sách
Cạnh tranh là động lực để các ngân hàng Việt Nam nâng cao năng suất lao động cũng như hiệu quả hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận tài chính cho người dân, góp phần tích cực cho quá trình đổi mới và phát triển kinh tế của nước ta trong thời gian vừa qua. Cạnh tranh không phải là nguồn gốc gây ra tính dễ tổn thương của ngân hàng, nhưng thực tế cho thấy, có sự đánh đổi đánh đổi giữa cạnh tranh và ổn định hệ thống ngân hàng trên một số khía cạnh. Kết quả thực nghiệm 45 NHTM ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2006 – 2017 cho thấy, mức độ cạnh tranh cao giữa các ngân hàng trong hệ thống trong bối cảnh luật pháp và khuôn khổ quản lý, giám sát còn chưa đầy đủ gây ra sự phát triển thiếu bền vững của hệ thống. Về nguyên tắc, sự đánh đổi này có thể được điều tiết bằng các quy định pháp lý, tuy nhiên trong thực tiễn cuộc sống, luật pháp lại không hoàn hảo. Điều này dẫn đến hai hệ quả quan trọng sau đây: Thứ nhất, chính sách cạnh tranh là cần thiết đối với sự phát triển của ngành Ngân hàng, tuy nhiên, cần tính đến những đặc thù của Ngành và các điều kiện lịch sử thực tiễn của Việt Nam; Thứ hai, cần có sự phối hợp giữa chính sách cạnh tranh và chính sách an toàn hoạt động ngân hàng. Do đó, thay vì hạn chế cạnh tranh để tăng cường ổn định, Chính phủ nên xây dựng và thực thi các quy định, chính sách hướng tới các động cơ đúng đắn nhằm đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng, đồng thời khuyến khích cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngành.
Về chính sách cạnh tranh
Để có một môi trường cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền có hiệu quả với thực trạng hiện nay của nước ta, có thể xem xét một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất, rà soát, giảm thiểu các rào cản thể chế đối với việc gia nhập thị trường theo hướng đơn giản hóa tối đa, cắt giảm các chi phí không cần thiết và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng chuyển đổi ngân hàng như từng bước nâng cao hiểu biết về tài chính, đặc biệt là kiến thức về những phương án tài chính thay thế cho người dân và hỗ trợ phát triển các “gói chuyển đổi” để đơn giản hoá các thủ tục hành chính khi chuyển đổi ngân hàng.
Thứ hai, duy trì hoạt động của thị trường và theo dõi, giám sát chặt chẽ những méo mó thị trường do các biện pháp can thiệp, điều tiết của Chính phủ gây ra trong giai đoạn tái cấu trúc và ổn định hệ thống, xúc tiến việc xử lý các ngân hàng yếu kém gắn với xử lý nợ xấu.
Về quản lý, giám sát ngân hàng
NHNN cần xây dựng và thực thi một khuôn khổ quản lý, giám sát ngân hàng phù hợp và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo sân chơi bình đẳng cho tất cả các ngân hàng. Để thực hiện mục tiêu này, NHNN cần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế nhằm đảm bảo các ngân hàng tham gia thị trường tuân thủ “luật chơi” đã quy định. Đây là nền tảng quan trọng, đảm bảo cho nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển ổn định, cạnh tranh lành mạnh và hội nhập hiệu quả. Các quy định về quản lý, giám sát ngân hàng trong dài hạn cần có sự kết hợp giữa việc áp dụng hình thức bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở rủi ro [2] và tăng cường các yêu cầu về vốn (các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng có tầm quan trọng hệ thống phải đảm bảo duy trì tỷ lệ các mức vốn mang tính hệ thống – là mức vốn có tính đến chi phí xã hội khi ngân hàng đổ vỡ và cường độ cạnh tranh về huy động vốn trên thị trường). Bên cạnh đó, NHNN nên tăng cường áp dụng các biện pháp an toàn vĩ mô để hạn chế việc chuyển đổi kỳ hạn các khoản vay, ngăn ngừa rủi ro tập trung tín dụng vào một lĩnh vực nhất định và kiểm soát tình trạng bùng nổ tín dụng.
Về các giải pháp hỗ trợ khác
Thứ nhất, Bộ Tài chính tiếp tục đẩy mạnh rà soát, bổ sung, hoàn thiện đồng bộ các văn bản hướng dẫn chế độ kế toán nhà nước, doanh nghiệp, bao gồm cả kế toán TCTD, doanh nghiệp bảo hiểm, các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, các quỹ tài chính nhà nước, các tổ chức tài chính có hoạt động đặc thù; tiếp tục xây dựng ban hành đầy đủ các chuẩn mực kế toán (tiệm cận đến IAS/IFRS), đồng thời xem xét hướng dẫn việc áp dụng chuẩn mực đối với các doanh nghiệp hoạt động đặc thù; thực thi đầy đủ, giám sát thực hiện Nghị định số 105/2013/NĐ-CP xử lý vi phạm hành chính đối với lĩnh vực kế toán và kiểm toán để tăng cường kỷ luật thị trường đối với lĩnh vực này.
Thứ hai, Bộ Công thương tăng cường phối hợp với NHNN trong việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Cạnh tranh năm 2018 nhằm đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách cạnh tranh và các quy định an toàn hoạt động ngân hàng, hướng đến phát huy hiệu quả cao nhất của cạnh tranh trong khi tính đến những đặc thù của hoạt động ngân hàng.
Thứ ba, các TCTD hoàn thiện, và áp dụng các quy định về quản trị ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế; phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh ngân hàng có trình độ chuyên môn cao, ý thức tuân thủ pháp luật, có đạo đức và tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp tốt; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào điều hành và quản lý, phân tích và phòng ngừa rủi ro, tạo tiền đề cho việc xây dựng ngân hàng hoạt động hiệu quả và có khả năng cạnh tranh tốt với các ngân hàng trong khu vực.
 [1] Giá trị thương hiệu là tài sản vô hình mà một ngân hàng có thể mất đi nếu bị phá sản hoặc bị cơ quan giám sát ra quyết định đóng cửa” (Acharya, 1996). Giá trị điều lệ còn được hiểu là giá trị thu nhập ròng hiện tại hay giá trị chiết khấu của thu nhập tương lai kỳ vọng của một ngân hàng, dựa trên uy tín, thị phần và thông tin khách hàng của ngân hàng đó (Guttentag và Herring, 1983).
[2] Phí bảo hiểm được quyết định trên cơ sở mức lãi suất chào bán và mức độ rủi ro của các tài sản của ngân hàng để loại bỏ hoặc giảm đặc điểm trách nhiệm hữu hạn của các ngân hàng.
Tài liệu tham khảo:
1. Acharya (1996). Charter value, minimum bank capital requirement and deposit insurance pricing in equilibrium. Journal of Banking and Finance 20, 351^375.
2. Allen, F., & Gale, D. (2000). Comparing financial systems. Cambridge, MA and London: MIT Press Books, 1.
3. Arellano, M., and S. Bond. 1991. Some tests of specification for panel data: Monte Carlo evidence and an application to employment equations. Review of Economic Studies 58: 277–297.
4. Beck, T. (2008). Bank Competition and Financial Stability: Friends or Foes? Policy Research Working Paper Series 4656, The World Bank.
5. Beck, T., De Jonghe, O. and Schepens, G. (2012). Bank competition and stability: cross-country heterogeneity. Journal of Financial Intermediation.
6. Berger, A. N., Klapper, L. F., & Turk-Ariss, R. (2009). Bank Competition and Financial Stability. Journal of Financial Services Research, 35(2), 99–118.

7. Hoàng Thị Phương Anh và cộng sự (2018). Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế: Những thay đổi trong khung chính sách tiền tệ. Nhà xuất bản Lao động, trang 399-412.

TS. Nguyễn Đức Trường

ThS. Hà Tú Anh
ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

Nguồn: TCNH số 23/2018

2021-10-29 / by / in
Tổng quan về hệ thống ngân hàng tại Việt Nam

Sự phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam có thể được đánh dấu từ sự ra đời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vào ngày 06/05/1951. Tuy nhiên, trước 1990, hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ thống một cấp, không có sự tách biệt giữa chức năng quản lý và chức năng kinh doanh. NHNN vừa đóng vai trò Ngân hàng Trung ương vừa là Ngân hàng thương mại. Đến năm 1990, do nhu cầu chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh doanh xã hội chủ nghĩa sang cơ chế thị trường có sựđiều tiết của nhà nước trong chủ trương phát triển nền kinh tếđa thành phần, ngày 23/05/1990, Hội đồng Nhà Nước ban hành pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và pháp lệnh về các tổ chức tín dụng.

Hai pháp lệnh này đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ hệ thống một cấp sang hệ thống hai cấp. Từ đó, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được tổ chức tương tự như hệ thống ngân hàng các nước có nền kinh tế thị trường: chức năng của NHNN được thu hẹp lại, chỉ còn giám sát chính sách tiền tệ, phát hành tiền, quản lý hệ thống tín dụng, giám sát các ngân hàng thương mại, quản lý dự trữ ngoại hối với mục tiêu hàng đầu là bình ổn tiền tệ và kiểm soát lạm phát, trong khi chức năng trung gian tài chính (huy động và phân bổ vốn) được chuyển sang cho các ngân hàng thương mại.

Cải cách hệ thống ngân hàng năm 1990 đã xoá bỏ được tính chất độc quyền nhà nước, góp phần đa dạng hoá hoạt động ngân hàng về mặt hình thức sở hữu cũng như về số lượng ngân hàng. Cụ thể, số lượng ngân hàng TMCP (NHTMCP) đã tăng lên nhanh chóng. Từ năm 1991-1993, số lượng NHTMCP nhảy vọt từ 4 ngân hàng lên đến 41 ngân hàng và đạt đỉnh điểm là 51 ngân hàng vào năm 1997. Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997, một số NHTMCP do kinh doanh không hiệu quả, bị phá sản hoặc rút giấy phép hoạt động nên con số này đã giảm.

Giai đoạn 2000 – 2007, là giai đoạn đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu lại toàn diện hệ thống ngân hàng nhằm củng cố và phát triển theo hướng tăng cường năng lực quản lý về tài chính, đồng thời giải thể, sáp nhập, hợp nhất hoặc bán lại các NHTMCP yếu kém về hiệu quả kinh doanh. Do đó, thời kỳ này số lượng các ngân hàng TMCP đã giảm xuống đôi chút so với những năm cuối của thập kỷ 1990. Ngoài ra, số lượng các chi nhánh và đại diện của các ngân hàng nước ngoài có xu hướng gia tăng theo các cam kết đã ký, trước hết là hiệp định thương mại Việt-Mỹ, hiệp định khung về thương mại dịch vụ (AFAS) của ASEAN. Kết quả là, tỷ trọng về số lượng NHTMCP giảm xuống so với toàn hệ thống ngân hàng thương mại, từ đỉnh cao 73% ở năm 1993 xuống còn 40% vào năm 2007. Đến năm 2008 và 2009, do hai ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) là ngân hàng Ngoại thương và ngân hàng Công thương lần lượt chuyển đổi sang hình thức cổ phần nên tỷ lệ này đã tăng lên chiếm khoảng 42% năm 2008 và 43% năm 2009 so với toàn ngành.

Số lượng các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn tương đối ổn định, từ bốn NHTMNN được thành lập ban đầu tăng lên 7 ngân hàng trong năm 2015. Trong số các NHTMNN, có bốn ngân hàng lớn nhất hệ thống: NHTMCP Ngoại thương (VCB), NHTMCP Công thương (CTG), NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank). Các ngân hàng còn lại bao gồm Ngân hàng TNHH MTV Dầu khí toàn cầu (GP Bank), Ngân hàng TNHH MTV Đại Dương và Ngân hàng TNHH MTV Xây dựng. Số lượng các ngân hàng được chia thành các nhóm ngân hàng nhà nước (NHNN), ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), chi nhánh ngân hàng nước ngoài (CNNHNN) và ngân hàng liên doanh được thể hiện cụ thể tại bảng cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại giai đoạn 2009-2015 dưới đây:

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2009-2015

Nguồn: Thống kê của NHNN

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Thu Nga (2017). Phân tích mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng với hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam. Luận án tiến sĩ kinh tế. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
  2. Berger, A. N., De Young, R. (1997), ‘Problem loans and cost efficiency in commercial Banks’, Journal of Banking And Finance, (21) 6, pp. 849-870.
  3. Williams, J., ( 2004), ‘Determining management behaviour in European Banking’ Journal of Banking and Finance 28, pp. 2427-2460.
  4. Rossi, S., Schwaiger, M., and Winkler, G. (2005), ‘Managerial Behaviour and Cost/Profit Efficiency in the Banking Sectors of Central and Eastern European Countries’, Working Paper, No. 96, Austrian National Bank.

Nguồn: ditiep.com

2021-10-29 / by / in