Thêm kết quả...

Lộ diện 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất năm 2020

Ngày 7.12, thông tin từ Tổng cục Thuế cho biết vừa công bố danh sách V1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất trong năm 2020.

Theo Tổng cục Thuế, căn cứ số liệu nộp thuế trên hệ thống thông tin quản lý, Tổng cục Thuế đã thực hiện tổng hợp dữ liệu các doanh nghiệp nằm trong danh sách bảng xếp hạng theo các tiêu chí cụ thể, rõ ràng, minh bạch.

Đứng đầu danh sách V1000 này là Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội. Theo sau là Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam; Công ty Honda Việt Nam; Công ty Cổ phần chăn nuôi C.P. Việt Nam; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam; Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thông Việt Nam; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam…

Theo Tổng cục Thuế, doanh nghiệp được lựa chọn đưa vào danh sách xếp hạng là doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp nước ngoài, các tổ chức khác có hoạt động sản xuất kinh doanh và có thu nhập. Trường hợp doanh nghiệp có các chi nhánh, đơn vị trực thuộc thì số nộp tính cho doanh nghiệp bao gồm số nộp của trụ sở chính và số nộp của các chi nhánh, đơn vị trực thuộc.

Danh sách V1000 năm 2020 cũng được bổ sung 300 doanh nghiệp. Đa phần là các doanh nghiệp có số nộp ngân sách phát sinh từ các hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng vốn, hoặc phải nộp theo quyết định truy thu của các cơ quan có thẩm quyền. Có doanh nghiệp đã hết thời gian hưởng ưu đãi, miễn giảm thuế, thực hiện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trở lại.

Theo thống kê của Tổng cục Thuế, tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp của các doanh nghiệp trong bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (V1000) năm 2020 là 145.934 tỉ đồng, chiếm 62,4% tổng thu ngân sách nhà nước về thuế thu nhập doanh nghiệp, bằng 103,74% so với số đã nộp của các doanh nghiệp trong danh sách V1000 năm 2019.

Đây là năm thứ 5 liên tiếp, Tổng cục Thuế xây dựng danh sách 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất. Qua 5 năm thực hiện công khai V1000 (2016-2020), có 423 doanh nghiệp 5 năm liên tiếp thuộc danh sách V1000 các năm 2020, 2019, 2018, 2017 và 2016.

Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có 180 doanh nghiệp với số nộp thuế thu nhập doanh nghiệp chiếm 32,91% tổng số nộp thu nhập doanh nghiệp năm 2020 của 423 doanh nghiệp.

CAO NGUYÊN – Lao động
2021-12-08 / by / in ,
Doanh nghiệp Việt “gõ cửa” thị trường ASEAN giàu tiềm năng
VOV.VN – Các nước ASEAN đang có nhu cầu lớn trong nhập khẩu hàng hóa sau dịch, đây là cơ hội cho các DN Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá vào khu vực này.

ASEAN là thị trường xuất khẩu đứng thứ 4 của Việt Nam sau Mỹ, Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU). ASEAN có lợi thế là thị trường gần gũi giúp doanh nghiệp (DN) xuất khẩu của Việt Nam tiết kiệm chi phí vận chuyển, lưu kho bãi, đồng thời có nhiều lựa chọn phương thức vận chuyển hàng hóa như vận tải đường biển, đường bộ, hàng không.

Nhiều mặt hàng xuất khẩu tiềm năng

Bước vào giai đoạn phục hồi sau đại dịch Covid-19, các nước ASEAN đang có nhu cầu lớn trong nhập khẩu hàng hóa, là cơ hội cho các DN Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá vào khu vực này. Theo ông Nguyễn Phúc Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Á-châu Phi (Bộ Công Thương), hiện các nước ASEAN đẩy nhanh triển khai các biện pháp phục hồi kinh tế sau đại dịch như các cam kết về mở cửa thị trường, đảm bảo các chuỗi cung ứng. “Thuận lợi hóa thương mại sẽ là điều kiện hết sức thuận lợi để các DN Việt Nam khai thác hơn nữa tiềm năng khu vực thị trường này, trong đó điển hình là các thị trường Thái Lan và Singapore”, ông Nam gợi ý.

Thời gian qua, Thái Lan là đối tác thương mại lới nhất của Việt Nam tại khu vực ASEAN. Bà Trần Thị Thanh Mỹ, Tham tán thương mại Việt Nam tại Thái Lan dẫn số liệu từ Cơ quan Hải quan Thái Lan cho hay, trong 10 tháng năm 2021, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của quốc gia này đạt trên 443 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Thái Lan là nguyên liệu đầu vào, nhiên liệu phục vụ sản xuất trong nước chứng tỏ ngành sản xuất Thái Lan phục hồi mạnh sau ảnh hưởng dịch Covid-19.

“Hiện nay, Việt Nam là đối thác thương mại lớn thứ 2 của Thái Lan trong khu vực ASEAN và thứ 5 trên thế giới. Mặt hàng tăng trưởng cao là dầu thô, xăng dầu, quặng, than đá, kim loại, thuỷ sản… Việt Nam và Thái Lan còn nhiều tiềm năng đẩy mạnh hợp tác thương mại. Mặt hàng có nhiều tiềm năng nhất là thực phẩm, thuỷ sản, một số sản phẩm nông sản thế mạnh của Việt Nam như hạt điều, cà phê, tiêu, rau củ…”, bà Trần Thị Thanh Mỹ nói.

Trong khu vực ASEAN, Singapore cũng là thị trường để hàng hoá Việt Nam có nhiều cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới. Bà Trần Thu Quỳnh, Tham tán thương mại Việt Nam tại Singapore cho biết, Singapore đang có nhu cầu tìm kiếm nhà xuất khẩu mới như Việt Nam. “Hiện nay, Singapore rất quan tâm tới vấn đề hợp tác sản xuất lương thực, thực phẩm tại Việt Nam để xuất khẩu sang Singapore, bởi nước này đặt mục tiêu tự chủ 30% lương thực vào năm 2030”, bà Trần Thu Quỳnh nói.

Thông tin thị trường cần được cập nhật liên tục

Mặc dù được đánh giá là thị trường giàu tiềm năng, song Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Á-châu Phi – ông Nguyễn Phúc Nam cũng cho rằng, đến nay vẫn còn nhiều DN Việt Nam chưa dành sự quan tâm đúng mức cho thị trường này, hoặc chưa nắm bắt được thông tin về thị trường cụ thể, nhất là từ khi dịch Covid-19 bùng phát.

Nhằm ứng phó với dịch bệnh cũng như phục hồi kinh tế, hỗ trợ sản xuất trong nước, các nước ASEAN đã ban hành nhiều chính sách, quy định mới liên quan đến kinh tế thương mại, xuất nhập khẩu, thông quan, phòng dịch, ảnh hưởng đến hàng hóa XK của Việt Nam. Một số quy định về phòng dịch có thể thay đổi rất nhanh, đột ngột, gây khó khăn cho DN nếu như không nắm bắt được thông tin kịp thời, đầy đủ và chính xác… là những điều DN cần đặc biệt lưu ý.

Xuất khẩu vải thiều Việt Nam sang thị trường Singapore. (Ảnh: Báo Công Thương)Xuất khẩu vải thiều Việt Nam sang thị trường Singapore. (Ảnh: Báo Công Thương)

Theo bà Trần Thị Thanh Mỹ, thời gian gần đây, trong bối cảnh dịch bệnh không thể trao đổi trực tiếp với đối tác, Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan nhận được kiến nghị cao gấp 2, 3 lần so với trước dịch liên quan đến tình trạng DN gặp lừa đảo cả 2 chiều xuất và nhập khẩu. Trong đó nhiều hơn là trường hợp DN Việt Nam bị lừa đảo khi ký đơn hàng nhập khẩu nông sản, giấy A4 từ Thái Lan.

“Khi nào DN có các giao dịch cảm giác không thực sự yên tâm, không xác minh được, DN có thể trao đổi với Thương vụ Việt Nam tại các nước để nhận được sự hỗ trợ kịp thời như xác minh DN, tư vấn giảm thiểu tối đa rủi ro DN có thể gặp”, bà Trần Thị Thanh Mỹ khuyến cáo.

Lưu ý đối với thị trường Singapore, Tham tán thương mại Việt Nam tại Singapore Trần Thu Quỳnh cho rằng, sản phẩm của Việt Nam còn rất kém cạnh tranh về giá so với sác sản phẩm cùng loại của Malaysia, Trung Quốc, Indonesia… DN vừa và nhỏ Việt Nam cũng ít quan tâm đến công tác giới thiệu sản phẩm. Bên cạnh đó, các DN Việt chưa dành nhiều quan tâm cũng như nguồn lực thích đáng cho việc nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, xu hướng thị trường, cơ hội ngành hàng.

“Để tồn tại được, DN không thể bỏ qua khâu nghiên cứu thị trường. Thương vụ Việt Nam tại Singapore cũng như các thị trường khác sẵn sàng giúp DN nghiên cứu thông tin về đối thủ cạnh tranh cũng như cơ cấu thị trường”, bà Trần Thu Quỳnh khẳng định./.

Năm 2020, do tác động từ dịch Covid-19, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Việt Nam-ASEAN có giảm nhẹ 6,8% so với năm 2019, đạt 53,6 tỷ USD. Tuy nhiên, năm 2021, thương mại Việt Nam-ASEAN đã phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng. Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam-ASEAN trong 10 tháng năm 2021 đạt 56,6 tỷ USD, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2020, cao hơn mức tăng trưởng xuất nhập khẩu trung bình của Việt Nam với thế giới là 22,6%./.

2021-12-08 / by / in ,
Mở cửa du lịch, doanh nghiệp vẫn gặp khó

Việc mở cửa lại bay quốc tế và du lịch tại VN không thể chậm trễ thêm nữa, nếu không sẽ để lỡ cơ hội cạnh tranh điểm đến với các nước trong khu vực…

Mở cửa du lịch, nhưng đường bay quốc tế thương mại chưa mở, một số địa phương áp dụng phần mềm khai báo riêng, chưa có hướng dẫn cho du khách F0, F1… là những vấn đề được các chuyên gia, doanh nghiệp du lịch phản ánh tại tọa đàm “Mở cửa du lịch, phục hồi kinh tế” do Báo Thanh Niên tổ chức sáng qua (7.12).

Được mở đón khách còn khổ hơn

Phát biểu khai mạc tọa đàm, nhà báo Nguyễn Ngọc Toàn, Tổng biên tập Báo Thanh Niên, cho biết thời điểm hiện nay vấn đề được Đảng, Nhà nước quan tâm nhất là phục hồi kinh tế. Với tầm quan trọng, du lịch là ngành được lên kế hoạch mở cửa sớm nhất, ngay từ trong những tháng ngày dịch bệnh diễn biến phức tạp nhất hồi tháng 7.

Từ ngày 10.9, Thủ tướng cơ bản đồng ý với đề xuất của Bộ VH-TT-DL về phương án thí điểm đón khách du lịch quốc tế đến Phú Quốc. Đây được xem là nỗ lực lớn của ngành du lịch VN khi từng bước phục hồi thị trường khách quốc tế, đồng thời khẳng định là một trong những điểm đến an toàn, hấp dẫn trong khu vực Đông Nam Á. Thế nhưng, vì rất nhiều lý do, đến ngày 20.11 vừa qua, Phú Quốc mới đón đoàn khách quốc tế đầu tiên. Và cho đến thời điểm này, VN mới chỉ có 5 địa phương được đón khách quốc tế với số lượng rất hạn chế.

“Năm 2019, doanh thu từ du lịch chiếm gần 10% GDP của nước ta. Năm 2021, GDP của Thái Lan dự kiến tăng trưởng 1,2%, cao hơn nhiều so với các dự đoán trước đó nhờ mở cửa trở lại ngành du lịch. Việc mở cửa lại bay quốc tế và du lịch tại VN không thể chậm trễ thêm nữa, nếu không sẽ để lỡ cơ hội cạnh tranh điểm đến với các nước trong khu vực và ảnh hưởng tới chương trình phục hồi kinh tế mà Đảng và Nhà nước đang quyết liệt thực hiện bằng nhiều giải pháp”, Tổng biên tập Báo Thanh Niên nhấn mạnh.

Là một trong các doanh nghiệp (DN) du lịch hàng đầu, Sun Group thuộc nhóm đầu trong danh sách các DN tham gia thí điểm đón khách quốc tế tới Phú Quốc, chính thức triển khai từ 20.11. Thế nhưng, bà Trần Nguyện, Trưởng ban Kinh doanh Khối Sun World (Tập đoàn Sun Group), cho biết đến giờ này Sun Group vẫn chưa đón được một vị khách nào. Dù DN nóng lòng, sẵn sàng mở cửa ngay sau khi Chính phủ thí điểm đón khách quốc tế sử dụng hộ chiếu vắc xin, nhưng vẫn còn tồn tại rất nhiều yếu tố bất cập, cản trở, khiến công cuộc đón khách chưa thể nào hiệu quả được.

Đơn cử, việc cấp phép bay cho các thị trường quốc tế vẫn đang giới hạn. Đến Phú Quốc tháng 11 vừa qua mới có 1 đoàn khách từ Hàn Quốc, du lịch golf. Một số đoàn khách Nhật Bản, Hàn Quốc tới đây trong tháng 12 cũng là du lịch golf. Trong khi đó, Sun Group hướng đến đối tượng khách Nga, bởi nhu cầu của thị trường này khá phù hợp với các trải nghiệm, dịch vụ mà tập đoàn đang có tại Nam đảo nhưng thị trường Nga vẫn chưa được cấp phép bay đến Phú Quốc. Do đó, dù các cơ sở của Sun Group đã sẵn sàng thì cũng không thể đón khách.

Trong khi đó, các kế hoạch truyền thông quảng bá về du lịch VN tới các thị trường quốc tế trọng điểm như Đông Bắc Á, Đông Nam Á, châu Âu, Nga, Úc… đến nay vẫn chưa thực sự được triển khai sâu rộng, để du khách quốc tế biết được các chính sách sandbox (tạm hiểu là hệ thống đón khách quốc tế khép kín – NV) của VN có gì khác với Thái Lan, Singapore? Hay các điểm đến VN hiện có những dịch vụ trải nghiệm gì mới so với trước? Chưa kể chính sách giá, kích cầu khi mở cửa trở lại chưa thống nhất, chưa có sự can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, nên vẫn mạnh ai nấy làm.

“Đặc biệt, đợt dịch thứ tư, cũng như tình hình các biến chủng mới như Omicron đang ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý của du khách. DN dù rất sẵn sàng nhưng cũng chưa thể mở cửa đồng loạt được, bởi lượng khách không thể đảm bảo chi phí vận hành”, bà Nguyện thông tin.

DN chưa được mở thì trông chờ từng ngày, DN được mở đón khách cũng khổ đủ đường. Là DN được “chọn mặt gửi vàng” đón tiếp đoàn khách đầu tiên “phá băng” du lịch Phú Quốc, Vinpearl đã sớm chủ động kết hợp cùng đối tác chiến lược tìm kiếm nguồn khách hộ chiếu vắc xin tại thị trường Hàn Quốc.

“Dù đón đoàn chỉ hơn 200 khách, nhưng chúng tôi mở cửa gần như toàn bộ hoạt động nghỉ dưỡng – vui chơi giải trí trong quần thể hơn 1.000 ha để đảm bảo phục vụ tốt nhất cho du khách, mang đến cho họ những kỳ nghỉ dưỡng 5 sao với chuỗi hoạt động hấp dẫn, thú vị và an toàn”, bà Nguyễn Thu Phương, Tổng giám đốc Vinpearl Luxury, cho hay.

Đây thật sự là thách thức không hề nhỏ về chi phí bởi siêu quần thể Phú Quốc United Center có hệ thống cơ sở lưu trú lên tới 7 khu nghỉ dưỡng 5 sao biệt lập cùng hàng trăm mini, boutique hotel… có công suất hơn 12.000 phòng khách sạn và biệt thự.

Cũng vì chi phí duy trì quá lớn, nên dù được đánh giá là một trong những sản phẩm giải trí về đêm hấp dẫn nhất của Phú Quốc United Center, nhưng Tổ hợp Chợ đêm Phú Quốc Grand World, Saigon SeaFood Hub Market và NightZone 68 của Công ty Ngôi sao biển Sài Gòn vẫn chưa thể mở lại cùng nhịp. Ông Huỳnh Văn Sơn, Tổng giám đốc Công ty Ngôi sao biển Sài Gòn, nhận định với số lượng 200 khách lọt thỏm như vậy, mở ra rồi gánh chi phí còn khốn khổ hơn.

“Chúng tôi khảo sát 500 tiểu thương ở Phú Quốc tại 2 khu chợ đêm, nhưng chỉ có khoảng 10% tiểu thương muốn mở lại. Mỗi ngày trôi qua là mỗi ngày chi phí đè nặng, bòn rút chút sức lực cuối cùng của DN. Chúng tôi tha thiết kỳ vọng cơ quan quản lý làm càng sớm càng tốt, mở cửa du lịch đúng nghĩa. Khó ở đâu, DN sẵn sàng đồng hành gỡ tới đó. Mở cửa, hoặc là chết”, “ông trùm” chợ đêm nhấn mạnh.

Mở cửa du lịch, doanh nghiệp vẫn gặp khó - ảnh 2Một đoàn khách quốc tế đến Việt Nam và tham quan phố cổ Hội An theo dạng hộ chiếu vắc xin

Nguồn: thanh niên

2021-12-08 / by / in ,
Bàn luận về vốn hoá và quỹ đất của các doanh nghiệp lớn ngành bất động sản

Doanh nghiệp bất động sản tích luỹ được nhiều quỹ đất có nhiều lợi thế cạnh tranh càng có lợi bởi giá đất gia tăng theo thời gian, đặc biệt trong bối cảnh nguồn cung dần hồi phục nhờ nới lỏng pháp lý, trong khi nguồn cầu được thúc đẩy mạnh mẽ nhờ mặt bằng lãi suất thấp và đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông.

Đà tăng ấn tượng từ cổ phiếu bất động sản

Xu hướng thực tế cho thấy, trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài, Chính phủ vẫn đang tiếp tục thực hiện các chính sách nới lỏng dòng tiền. Bên cạnh việc kích cầu kinh tế, môi trường lãi suất thấp và lạm phát cao đã khiến dòng tiền chảy vào các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản (BĐS).

Diễn biến nổi bật gần đây là các cổ phiếu bất động sản có đà tăng rất ấn tượng, kỳ vọng chính đến từ việc sẽ có thêm các gói kích thích kinh tế (nhờ môi trường lãi suất thấp, lạm phát trong tầm kiểm soát tốt), tập trung tăng chi tiêu đầu tư công vào phát triển cơ sở hạ tầng giao thông – có tác động trực tiếp tới thị trường BĐS, sẽ trở thành động lực tăng trưởng chính của BĐS trong các năm tới. Bởi vậy, dòng tiền thông minh ngay lập tức lùng sục các doanh nghiệp có quỹ đất lớn, có vị trí đẹp, giá cổ phiếu của những doanh nghiệp (DN) này lập tức có sự tăng giá ấn tượng.

Ở các DN có tên tuổi hàng đầu trên thị trường bất động sản, đã minh chứng về quỹ đất sạch hiện hữu, có thương hiệu về dự án và có các đối tác song hành, tiềm lực vốn tốt… cũng ghi nhận sự tăng giá cổ phiếu rất tốt – trong đó góp phần không nhỏ là dòng tiền dồi dào của các nhà đầu tư cá nhân gia nhập thị trường chứng khoán.

Điển hình có thể kể đến như DIG, đã tăng từ 18.900/cổ phiếu từ tháng 2/2020 lên mức 68.300đ/cổ phiếu tại ngày 02/12/2021, tương ứng với mức tăng 361% – đây là doanh nghiệp bất động sản có quỹ đất lớn hàng đầu, trải dài nhiều tỉnh thành, vị trí rất tiềm năng và quan trọng hơn là giá vốn rẻ khi DN này đã tích luỹ quỹ đất hàng chục năm nay.

Cổ phiếu NLG cũng đã tăng từ vùng giá 29.750đ từ đầu năm 2021 lên mức 57.400đ/cổ phiếu tại ngày 24/11 nhờ tình hình kinh doanh tăng trưởng tốt qua các năm, liên tục nhiều thông tin gia tăng quỹ đất sạch và hợp tác cùng đối tác ngoại để thực hiện các dự án khu đô thị.

Hay như cổ phiếu PDR cũng đã tăng từ mức 32.200đ/cổ phiếu lên 94.800đ/cổ phiếu trong từ ngày 4/1/2021 tới ngày 26/11/2021. Phát Đạt được biết đến với thương hiệu dự án căn hộ The Everich và các dự án ngoài khu vực Hồ Chí Minh, cụ thể là phát triển các dự án ở Nhơn Hội, Bình Định; các dự án ở Bình Dương…

Giá trị cổ phiếu bất động sản – định giá như thế nào cho đúng?

Trong khi đó, cũng được biết đến là đơn vị có tên tuổi hàng đầu trong ngành, cổ phiếu DXG của Tập đoàn Đất Xanh lại có thị giá thấp hơn hẳn, chỉ bằng 1/3 – 1/2, thậm chí thấp hơn vài lần thị giá của các cổ phiếu kể trên, hiện chỉ đang ở mức thị giá 31.000 đồng/cp. Nếu so sánh với DIG – cổ phiếu thu hút dòng tiền rất lớn với câu chuyện quỹ đất, thì DXG cũng đang vẫn có một số điểm có lợi thế hơn. Chẳng hạn tồn kho DXG hiện gấp 3 lần DIG, tiền mặt cuối kỳ cũng gấp 3 lần nhưng vốn hoá DXG chỉ bằng khoảng 40% so với DIG.

Bất cập trong giá cổ phiếu

Bàn luận về vốn hoá và quỹ đất của các doanh nghiệp lớn ngành bất động sản - Ảnh 1.

Giá một số cổ phiếu Bất động sản tại ngày 02/12/2021

Bàn luận về vốn hoá và quỹ đất của các doanh nghiệp lớn ngành bất động sản - Ảnh 2.

Giá cổ phiếu và quỹ đất của một số doanh nghiệp

Như đã nói ở trên, bên cạnh thị trường bất động sản có những yếu tố tác động tích cực trong trung và dài hạn, qua đó các DN trong ngành cũng hưởng lợi, giá cổ phiếu cũng phản ánh các kì vọng này, thì dòng tiền dồi dào trên thị trường chứng khoán cũng là một yếu tố quan trọng thúc đẩy giá cổ phiếu nhóm này tăng mạnh mẽ. Nhưng sự hưng phấn của dòng tiền cũng có nhược điểm là có tính đầu cơ cao hơn, chưa có sự tìm hiểu kỹ lưỡng về DN mà mua theo “phím hàng”, bởi vậy không hiểu rõ tính chất của DN, chẳng hạn DN có quỹ đất lớn nhưng pháp lý chưa ổn khiến dự án kéo dài cả thập kỷ, hay DN có quỹ đất nhưng chưa chắc có năng lực triển khai, bán hàng,… nên cũng chưa chắc đã có thể biến “đất” thành “vàng”. Vì vậy, nhiều nhà đầu tư đang có những “trả giá” chưa đúng ở nhiều cổ phiếu.

Chẳng hạn với QCG, có lợi thế quỹ đất, nhưng nhiều dự án lại chưa “thông thoáng pháp lý”, điển hình là chiếm tỷ trọng lớn nhất ở các dự án tại Phước Kiển, Nhà Bè (gồm dự án 91,6 ha và dự án 32ha) đã kéo dài nhiều năm, sức khoẻ tài chính của QCG ngày càng giảm sút… nhưng cổ phiếu vẫn có những đà tăng phi mã

Trái ngược lại, nhiều doanh nghiệp bất động sản niêm yết, có quỹ đất lớn nhưng bị định giá thấp. Thông thường, để định giá giá trị của cổ phiếu bất động sản, phương pháp RNAV để đánh giá lại các tài sản công ty đang nắm giữ được sử dụng thường xuyên. Như vậy, với phương pháp trên, doanh nghiệp càng có quỹ đất lớn thì giá cổ phiếu sẽ càng cao, ngược lại, công ty nào càng có ít quỹ đất thì giá trị vốn hóa càng thấp.

Ví dụ như DXG, với thị giá 31.000 đồng/cp, là hấp dẫn so với mặt bằng chung trên thị trường. Mới đây, trong buổi gặp gỡ các chuyên viên phân tích, quỹ đầu tư và nhà đầu tư của DXG, khi được hỏi về vấn đề vốn hoá công ty, lãnh đạo doanh nghiệp này cho biết, năm 2022 kỳ vọng, giá trị thực của DXG sẽ được phản ánh đúng đắn hơn vào thị giá cổ phiếu, hướng đến vốn hoá ít nhất ngưỡng 2 tỷ USD.

Ánh Dương – Theo Nhịp sống kinh tế

2021-12-08 / by / in ,
Doanh nghiệp hàng không lại tiếp tục kêu cứu

 Trong văn bản gửi Bộ Giao thông vận tải (GTVT), Hiệp hội doanh nghiệp hàng không (VABA) đề nghị Bộ này kiến nghị Chính phủ cho các hãng hàng không vay ưu đãi 4.000 – 6.000 tỷ đồng với lãi suất 0%.

Theo VABA, từ khi bùng phát dịch lần thứ 4 ở Việt Nam tới nay các hãng hàng không lâm vào tình trạng nguy hiểm, doanh thu giảm 80-90%; dòng tiền thiếu hụt nghiêm trọng. Các nguồn lực về tài sản, tài chính tích lũy của các hãng bị cạn kiệt. Báo cáo của các hãng hàng không Việt Nam đều cho thấy nhu cầu cần được hỗ trợ tháo gỡ khó khăn về vốn là cấp bách và quan trọng nhất.

VABA đề nghị Bộ GTVT xem xét, chấp thuận và có văn bản kiến nghị Chính phủ và Quốc hội và các Bộ, ngành liên quan cho các hãng hàng không khác vay gói tái cấp vốn 4.000 – 6.000 tỷ đồng, lãi suất 0% như đã thực hiện với Vietnam Airlines (gói 4.000 tỷ vay tối đa 3 năm). Số vay cụ thể căn cứ vào nhu cầu của từng hãng, vào quy mô, thị phần, đóng góp cho ngân sách trong thời gian qua và khả năng đáp ứng của ngân sách.

Hiệp hội này cũng đề nghị cho các hãng hàng không được vay gói 25.000-30.000 tỷ đồng ưu đãi lãi suất (nhà nước cấp bù lãi suất 4-5%) nhằm giúp các hãng chi thường xuyên, mua sắm vật tư thiết bị, thực hiện các chương trình dự án, bảo trì, duy trì hoạt động và phát triển trong và sau dịch.

Đối với vấn đề thuế, VABA đề nghị điều chỉnh mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay về mức tối thiểu trong biểu thuế bảo vệ môi trường được quy định tại Luật Thuế bảo vệ môi trường hiện hành tức là về mức 1.000 đồng/lít.

Về mức phí, khung giá hỗ trợ theo Thông tư của Bộ GTVT Quy định mức giá, khung giá một số dịch vụ chuyên ngành hàng không tại cảng hàng không, sân bay Việt Nam, VABA đề nghị Bộ GTVT cho phép áp dụng mức hỗ trợ theo hướng: Từ ngày 1/1/2022 đến hết ngày 31/12/2022, áp dụng khung giá với mức tối thiểu bằng 50% mức tối thiểu, mức tối đa bằng 50% mức tối đa quy định tại Thông tư số 53/2019 của Bộ GTVT; giảm 50% phí dịch vụ tại nhà ga trong năm 2022 đối với khách bay nội địa để góp phần kích cầu du lịch.

Theo hiệp hội này, hàng không là ngành có tính lan tỏa rộng, là động lực phát triển của nền kinh tế đất nước. Dịch Covid-19 khiến nguồn thu sụt giảm mạnh đã đẩy nhiều hãng hàng không vào tình thế khó khăn, kiệt quệ về tài chính. Nguồn thu giảm mạnh nhưng chi thường xuyên của các hãng vẫn rất lớn, như chi trả tiền thuê, mua tàu bay; trả nợ, lãi ngân hàng; chi bảo hiểm; bảo dưỡng; chi trả lương….

Theo đánh giá của VABA, hàng không có triển vọng bùng nổ phát triển sau dịch rất cao, đặc biệt là hàng không tư nhân. Ở Thái Lan, dân số tương đương 75% Việt Nam, nhưng có đến 15 hãng hàng không. Tỷ lệ người dân Việt Nam sử dụng máy bay để di chuyển vẫn còn thấp, dự địa phát triển của thị trường hàng không Việt Nam còn rất lớn, triển vọng đóng góp, hỗ trợ trở lại cho ngân sách, cho nền kinh tế của các hãng hàng không còn nhiều.

Các chuyên gia quốc tế tính toán, hàng không tăng trưởng 2,5% sẽ góp phần kích thích tăng trưởng 1% GDP. Hàng không phát triển sẽ duy trì sức lan tỏa kinh tế tới các ngành khác; kết nối các chuỗi cung cấp, chuỗi hàng hóa, chuỗi giá trị; và góp phần tích cực trong việc phục hồi, phát triển kinh tế nước ta sau dịch.

Châu Như Quỳnh – Dân trí

2021-12-07 / by / in ,
Xóa bỏ khoảng cách năng lực kỹ thuật số cho nữ giới

Vừa qua, quỹ ASEAN và Huawei đã ký kết Biên bản ghi nhớ về nỗ lực chung cùng rút ngắn khoảng cách năng lực kỹ thuật số tại sự kiện Ngày hội Đổi mới sáng tạo châu Á – Thái Bình Dương: Hội nghị Tài năng kỹ thuật số 2021.

Sự kiện hội nghị trực tuyến đã quy tụ sự tham gia của các chính trị gia, các nhà nghiên cứu và chuyên gia trong lĩnh vực để cùng chia sẻ giải pháp và thực thi tốt nhất trong việc xây dựng hệ sinh thái bền vững giúp nuôi dưỡng các tài năng kỹ thuật số ở châu Á – Thái Bình Dương.

Cam kết thu hẹp khoảng cách giữa các nhân tài kỹ thuật số ở châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là ở ASEAN, đã được củng cố hơn nữa với lễ ký kết Biên bản ghi nhớ giữa Quỹ ASEAN và Học viện Huawei ASEAN Academy. Thỏa thuận nêu bật sự sẵn sàng của cả hai bên trong việc triển khai chương trình Hạt giống cho tương lai ASEAN, đây là phiên bản mở rộng của chương trình “Hạt giống cho tương lai”, sáng kiến hàng đầu về CSR toàn cầu của Huawei đã cung cấp các chương trình đào tạo kỹ năng kỹ thuật số đẳng cấp thế giới cho thế hệ trẻ trên toàn cầu kể từ năm 2008. Thông qua chương trình Hạt giống cho tương lai ASEAN, Quỹ ASEAN và Học viện Huawei ASEAN Academy nỗ lực xây dựng năng lực kỹ thuật số của thế hệ trẻ ở mười Quốc gia thành viên ASEAN để họ có thể phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên kinh tế kỹ thuật số

Đặc biệt, Tiến sĩ Tiến sĩ Yang Mee Eng – Giám đốc Điều hành Quỹ ASEAN đã đưa ra phát biểu gây được thiện cảm và sự chú ý tại hội nghị: “Chương trình Hạt giống cho tương lai sẽ được triển khai ít nhất 40% học viên là phụ nữ, có nghĩa là chúng tôi rất là minh bạch, cũng như là muốn triển khai trực tuyến, thông qua quảng cáo, khuyến khích phụ nữ tham gia vào các chương trình của chúng tôi và hy vọng những chương trình này giúp xóa bỏ khoảng cách”.

Phát biểu trên được kỳ vọng có thể giúp lấp đầy những khoảng trống trong lĩnh vực ICT một cách kịp thời. Điều này hoàn toàn phù hợp với bối cảnh tại Việt Nam khi, đặc biệt trong ngành CNTT, sự mất cân bằng giới tính được thể hiện từ các chế độ đãi ngộ, lương thưởng cho đến toàn bộ các vấn đề khác có sự hiện diện của phụ nữ trong ngành.

Xóa bỏ khoảng cách năng lực kỹ thuật số cho nữ giới - 2

Tiến sĩ Tiến sĩ Yang Mee Eng – Giám đốc Điều hành Quỹ ASEAN đã đưa ra phát biểu
gây được thiện cảm và sự chú ý tại hội nghị.

Theo kết quả nghiên cứu về “Mục tiêu cân bằng giới tính: Góc nhìn từ ngành CNTT” được thực hiện tại 7 quốc gia nhằm thu thập ý kiến của hơn 2.000 phụ nữ trên toàn thế giới công bố năm 2019, việc thiếu các hình mẫu phụ nữ thành công trong ngành CNTT được coi là một trong những nguyên nhân chính của sự mất cân bằng giới tính tại nơi làm việc. 90% người Việt Nam được hỏi tin rằng cần thu hút thêm nhiều phụ nữ gia nhập ngành CNTT, nhằm tạo ra sự đa dạng về giới, tính cách, cách tiếp cận và giải quyết vấn đề.

You Lim Hour – một cựu nữ học viên chia sẻ trải nghiệm khi tham gia chương trình Chương trình Hạt giống cho tương lai”: Chúng tôi không chỉ học từ các giảng viên đại học mà còn từ các doanh nghiệp, phòng lab, văn phòng của Huawei và từ chương trình này, nó đã giúp tôi mở rộng phạm vi kiến thức của tôi về công nghệ, mở rộng tầm nhìn về cuộc sống và kiến thức ICT. Sau khi tham gia chương trình này, tôi cũng đã nhận ra công nghệ đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng, xã hội. Tôi làm việc cho bộ phận quan hệ công chúng của Huawei tại Campuchia, nó cũng cho phép chúng tôi áp dụng những kiến thức đã học được trong công việc, ví dụ là những trang bị kiến thức công nghệ cơ bản. Sau chương trình Hạt giống cho tương lai, tôi có thể truyền tải các thông điệp một cách thú vị, rõ ràng hơn thông qua sử dụng công nghệ để kể chuyện.

Chương trình Hạt giống cho tương lai ASEAN cũng sẽ góp phần đạt được các mục tiêu của Kế hoạch tổng thể về kỹ thuật số ASEAN 2025, đó là nâng cao năng lực của thế hệ trẻ trong khu vực tham gia vào nền kinh tế kỹ thuật số và tạo ra một xã hội kỹ thuật số tại ASEAN. Chương trình Hạt giống cho tương lai ASEAN dự kiến ra mắt vào đầu năm 2022, mời gọi các bạn trẻ từ 15-30 tuổi ở ASEAN tham gia vào hành trình đào tạo ảo nâng cao năng lực về kỹ năng lãnh đạo và kỹ thuật số.

Trường Thịnh – Dân trí

2021-12-06 / by / in ,
Ngành nào vẫn “hốt bạc” khi 106.500 doanh nghiệp “chết lâm sàng”?

Kinh tế tăng trưởng chậm nhất 35 năm qua, bình quân mỗi tháng phải chứng kiến gần 9.700 doanh nghiệp rời bỏ thị trường. Thế nhưng, trong bối cảnh đó vẫn có những ngành nghề rất “khỏe”.

Kinh tế “đi lùi”, nông nghiệp trở thành bệ đỡ

Nêu đánh giá tại báo cáo xếp hạng Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2021 vừa công bố, Vietnam Report cho biết, trải qua gần 2 năm kể từ khi đại dịch Covid-19 bắt đầu bùng phát, kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn.

Nhìn chung, các chỉ số kinh tế vĩ mô đều cho thấy nền kinh tế đã bị tổn thương trên nhiều phương diện và cần nhiều nỗ lực để hướng đến một giai đoạn hồi phục và tiếp tục tăng trưởng.

Năm 2020, mặc dù thành công trong việc duy trì mức tăng trưởng dương nhưng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã giảm xuống mức 2,9%. Với những giải pháp giãn cách xã hội nghiêm ngặt để phòng chống dịch thì đến quý III, tăng trưởng kinh tế suy giảm kỷ lục với mức -6,17% so với cùng kỳ năm 2020.

Tính chung trong 9 tháng đầu năm nay, tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế chỉ đạt 1,42%. Đây là mức tăng trưởng chậm nhất kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi mới (năm 1986) cho đến nay.

Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế 9 tháng chỉ tăng 1,42% so với cùng kỳ năm trước cho thấy hậu quả của đợt bùng phát đại dịch Covid-19 gần đây nhất tại Việt Nam. Đợt bùng phát trên diện rộng tại nhiều tỉnh, thành phố đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài để phòng chống dịch bệnh.

Trong bức tranh ảm đạm của nền kinh tế 9 tháng qua thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn là “bệ đỡ” vững chắc cho an ninh lương thực quốc gia khi có mức tăng 2,74%, bên cạnh đó là khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,57% nhưng khu vực dịch vụ lại giảm 0,69%.

Số liệu nghiên cứu từ bảng xếp hạng VNR500 năm 2021 so với bảng xếp hạng VNR500 năm 2020 cũng cho thấy tổng doanh thu của nhóm ngành nông lâm thủy sản có mức tăng đáng kể 25,7%, trong khi khu vực công nghiệp – xây dựng và khu vực dịch vụ tương ứng giảm 14,8% và 5,9% so với năm ngoái.

Xét về các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của toàn bộ doanh nghiệp trong bảng xếp hạng VNR500 năm nay, tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) bình quân và tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) bình quân của các doanh nghiệp bị giảm so với bảng xếp hạng VNR500 năm ngoái.

Cụ thể, ROA bình quân của các doanh nghiệp VNR500 năm nay đạt 5,31% – giảm 0,42 điểm phần trăm so với bảng xếp hạng VNR500 năm 2020. Chỉ số ROS bình quân cũng giảm xuống 6,15% so với mức 6,58% của năm ngoái. Ở chiều ngược lại, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân tăng nhẹ từ 16,24% trong bảng xếp hạng VNR500 năm 2020 lên 16,42% trong năm nay.

106.500 doanh nghiệp phải rút khỏi thị trường

Từ thống kê của bảng xếp hạng VNR500 năm 2021 cho thấy hầu hết các ngành đều có sự sụt giảm về tổng doanh thu so với bảng xếp hạng năm ngoái. Các ngành bán lẻ, thép, tài chính và điện ghi nhận tổng doanh thu tăng trưởng dương trong bảng xếp hạng năm 2021 so với năm 2020.

Ngành nào vẫn hốt bạc khi 106.500 doanh nghiệp chết lâm sàng? - 2

Các nhóm ngành còn lại chứng kiến sự sụt giảm đáng kể về tổng doanh thu trong năm qua. Những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch là vận tải – logistics, khoáng sản – xăng dầu, cơ khí và thực phẩm – đồ uống.

Như vậy, đợt bùng phát đại dịch Covid-19 mới nhất đã đẩy cộng đồng doanh nghiệp vào những khó khăn, thách thức to lớn. Nhiều doanh nghiệp bị đóng cửa hoặc giảm công suất hoạt động và đối mặt với nguy cơ phá sản khi nguồn lực bị hao hụt. Chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế bị gián đoạn thậm chí “đứt gãy” do các đợt giãn cách xã hội liên tiếp.

Đặc biệt lưu ý là tình trạng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tính chung 11 tháng qua đang lan rộng với 106.500 doanh nghiệp, đồng nghĩa với bình quân mỗi tháng có gần 9.700 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Số liệu thống kê từ bảng xếp hạng VNR500 năm nay đối với 270 doanh nghiệp niêm yết đã công bố báo cáo tài chính quý III cho thấy có 40,4% doanh nghiệp vẫn giữ vững được đà tăng trưởng doanh thu trong suốt giai đoạn 2019 – 2020 và 9 tháng đầu năm. Bên cạnh đó, 23,3% doanh nghiệp đã bắt đầu phục hồi và lấy lại được đà tăng trưởng doanh thu trong 9 tháng đầu năm nay.

Ngành nào vẫn hốt bạc khi 106.500 doanh nghiệp chết lâm sàng? - 3

Như vậy, có tới 63,7% doanh nghiệp ghi nhận doanh thu 9 tháng đầu năm tăng lên so với cùng kỳ năm trước. Đây là dấu hiệu tích cực minh chứng cho những nỗ lực và khả năng thích ứng của các doanh nghiệp.

Ngoài ra, 15,2% doanh nghiệp trong số này bị tăng trưởng chậm lại và ghi nhận mức doanh thu 9 tháng giảm so với cùng kỳ năm 2020. Còn lại, 21,1% doanh nghiệp thuộc nhóm phục hồi chậm với doanh thu giảm 2 kỳ liên tiếp – doanh thu năm 2020 giảm so với năm 2019 và 9 tháng đầu năm 2021 giảm so với cùng kỳ năm trước.

Trong khảo sát của Vietnam Report đối với Top 500 doanh nghiệp lớn Việt Nam cũng cho thấy những đánh giá tổng quan của cộng đồng doanh nghiệp VNR500 đối với tác động tiêu cực của đại dịch.

Cụ thể, 48,7% số doanh nghiệp phải cắt giảm nhân sự, cùng với đó có tới 48% số doanh nghiệp bị giảm năng suất lao động và lượng khách hàng cũng bị giảm 47,4% so với khi dịch chưa bùng phát. Do vậy, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm xuống đáng kể theo đánh giá của 57,9% doanh nghiệp VNR500; đi cùng với đó là 67,1% doanh nghiệp cho biết mức chi phí của họ tăng lên trong thời gian này.

Mai Chi – Dân trí

2021-12-06 / by / in ,
Doanh nghiệp ứng phó với cuộc khủng hoảng container như thế nào?

Tình trạng thiếu hụt nguồn cung container đẩy giá cước vận tải tăng vọt, khiến các nhà bán lẻ và doanh nghiệp Mỹ đã phải “đau đầu” tính toán sao cho những mặt hàng được bày bán có chi phí hợp lý nhất.

Thế giới đang chứng kiến “cơn khát” container – những hộp thép khổng lồ đóng vai trò là một “mắt xích” trong chuỗi cung ứng hàng hóa toàn cầu. Tình trạng thiếu hụt nguồn cung container trầm trọng đã đẩy giá cước vận tải tăng vọt, do đó các nhà bán lẻ và doanh nghiệp Mỹ đã phải “đau đầu” tính toán sao cho những mặt hàng được bày bán có chi phí hợp lý nhất.
Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng container
Doanh nhân người Mỹ Malcolm McLean đã sáng chế ra container vận chuyển cách đây 65 năm để dễ dàng chuyển hàng hóa từ xe tải lên tàu và ngược lại. Theo ông Willy Shih, Giáo sư ngành Quản trị chuỗi cung ứng tại Trường Kinh doanh Harvard (thuộc Đại học Harvard), trước khi container ra đời, những người bốc vác hàng phải xếp từng kiện hàng lên tàu, việc này vừa mất thời gian và vừa tốn kém. Vận chuyển bằng container là một cuộc cách mạng đối với thương mại toàn cầu, và trở thành một trụ cột của nền kinh tế Mỹ.
Tuy nhiên, ông Willy Shih chỉ ra rằng, sự mất cân bằng thương mại ngày càng nới rộng, với khối lượng hàng hóa mà Mỹ nhập khẩu từ châu Á nhiều hơn xuất khẩu. Tàu chở hàng đến Mỹ thường bị mắc kẹt tại các cảng biển trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng, do hoạt động bốc dỡ hàng mất rất nhiều thời gian.
Đặc biệt, từ đầu năm 2020 đến nay, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, nhiều bến cảng bị đóng cửa và tình trạng thiếu nhân viên khiến hoạt động vận chuyển hàng hóa bị gián đoạn. Trong khi đó, nhu cầu đối với hàng tiêu dùng lại tăng mạnh.
Giáo sư kinh tế tại Đại học Bang California, ông Seiji Steimetz, chỉ ra rằng đại dịch đã khiến nhiều người thay đổi cách mua sắm. Ngày càng nhiều người mua hàng trực tuyến từ các nhà bán lẻ như Amazon, Walmart và Target – những công ty chủ yếu dựa vào hàng nhập khẩu.

Khi các biện pháp giãn cách xã hội nhằm hạn chế lây lan dịch COVID-19 được triển khai, nhiều người ở nhà hơn, dẫn đến nhu cầu mua hàng hóa tăng lên và chi tiêu cho dịch vụ giảm đi. Doanh số bán nhà, ô tô và đồ chơi đều tăng trong thời kỳ đại dịch khi người tiêu dùng không chi tiền cho khách sạn, nhà hàng hay các quán bar.
Ông Seiji Steimetz nói thêm: “Nền kinh tế thế giới đang hồi phục sau giai đoạn ‘đóng băng’ do đại dịch. Ngày càng nhiều mặt hàng được nhập khẩu (vào Mỹ) hơn, điều này cũng tạo gánh nặng lên toàn bộ chuỗi cung ứng”.
Theo dữ liệu của Bộ Thương mại Mỹ, chỉ trong tháng 9/2021, Mỹ đã nhập khẩu số lượng hàng hóa trị giá 47,4 tỷ USD từ Trung Quốc, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2020, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc giảm xuống mức thấp nhất trong 7 tháng trở lại đây.
Niels Larsen, Chủ tịch phụ trách vận tải hàng không và đường biển khu vực Bắc Mỹ tại công ty vận tải và hậu cần DSV, nhấn mạnh đến một lý do khác, đó là tình trạng khan hiếm nhân viên bốc xếp tại các cảng, kho hàng và thiếu tài xế xe tải. Đây là nguyên nhân khiến khoảng 3 triệu container trên thế giới đang bị tắc nghẽn.
Các chuyên gia vận tải cho biết, cách khắc phục không chỉ đơn giản là tăng thêm số lượng container vì nguyên nhân thiếu hụt container có liên quan chặt chẽ đến chính sách đóng cửa biên giới của các nước, hoạt động kinh doanh trì trệ của doanh nghiệp, cũng như tình trạng thiếu lao động và những thay đổi cơ bản trong nền kinh tế.
Theo công ty tư vấn Drewry Shipping Consultants, các nhà sản xuất container – chủ yếu tập trung ở Trung Quốc – dự kiến sẽ tăng sản lượng lên 6,4 triệu container trong năm nay, cao gấp đôi so với mức trước đại dịch. Tuy nhiên, những nỗ lực đó đang bị cản trở bởi tình trạng thiếu nguyên liệu thô như thép và gỗ xẻ, và khan hiếm thợ hàn.
Nỗ lực ứng phó từ phía doanh nghiệp
Giá một container vận chuyển dài 40 feet (tương đương hơn 12 m) đã tăng từ 1.700 USD vào cuối năm 2019 lên 6.000 USD vào cuối năm 2020 và gần 11.000 USD vào giữa năm 2021. Trước tình hình đó, Chính phủ Mỹ mới đây đã công bố các biện pháp nhằm tăng cường công suất tại các cảng của Mỹ, như Long Beach và Los Angeles. Tuy nhiên, các nhà bán lẻ không đặt nhiều kỳ vọng vào những nỗ lực này, đặc biệt là khi mùa mua sắm dịp lễ hội cuối năm đang cận kề.

Container hàng hóa được bốc dỡ tại Liên Vân Cảng, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Ảnh: THX/TTXVN

Một số “người khổng lồ” bán lẻ như hãng sản xuất đồ nội thất Ikea đã sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để mua container chuyên chở hàng của riêng họ. Nhiều công ty khác, như Walmart, Target, Home Depot và Costco, thì lựa chọn thuê bao cả tàu để vận chuyển những mặt hàng có nhu cầu cao trong dịp cuối năm.
Nhằm khai thác tối đa không gian chứa hàng của container, các nhà bán lẻ phải tính toán kỹ lưỡng tất cả các yếu tố, từ kích thước, nhu cầu và giá thành của sản phẩm để tiết kiệm chi phí tối đa.
Magi Raible, chủ sở hữu của hãng sản xuất túi du lịch LiteGear Bags ở California (Mỹ), đã dành hàng tuần, thậm chí hàng tháng để tìm kiếm các container vận chuyển hàng hóa của hãng từ các nhà máy ở Trung Quốc đến Mỹ. Cô Magi Raible cho biết: “Khi giá cước vận tải tăng chóng mặt, bài toán này không phù hợp với những mặt hàng lớn và cồng kềnh nữa”. Cô đã ưu tiên nhập khẩu những mặt hàng nhẹ và nhỏ gọn để bán trước, và tạm thời để lại một số sản phẩm dù đang bán chạy nhưng có cước phí quá đắt.
Một số cửa hàng quyết định nhập khẩu số lượng lớn các đồ trang trí và quà tặng cho mùa Giáng Sinh vì nếu không bán hết họ có thể để đến năm sau. Các nhà phân tích cho biết nhiều nhà sản xuất đồ điện tử đang cố gắng tích trữ nhiều món đồ kích thước nhỏ như máy tính bảng và tai nghe.
Theo Bà Nora O’Leary, Chủ tịch công ty đồ chơi Manhattan Toy Co., các mặt hàng bán chạy và có lãi nhất sẽ được ưu tiên, nhưng kể cả như vậy, công ty vẫn gặp nhiều rắc rối trong khâu vận chuyển. Bà Nora cho biết ít nhất 1 container hàng của công ty vẫn nằm ở cảng Los Angeles từ tháng Chín đến nay. Bà Nora chia sẻ: “Chúng tôi chỉ ưu tiên những mặt hàng mà chúng tôi biết chắc chắn sẽ bán được. Khi chi phí vận chuyển cao gấp 6-7 lần so với năm ngoái, chúng tôi không dám chấp nhận rủi ro với các sản phẩm mới.”
Chủ tịch công ty đồ chơi Sky Castle Toys, Joshua Loerzel, cho biết các nhà bán lẻ đã yêu cầu công ty thu nhỏ kích cỡ vỏ hộp đồ chơi để giảm chi phí vận chuyển. Do đó, gần đây công ty đã thu nhỏ 20% hộp bộ đồ chơi LetsGlow Studio. Với kích thước mới, một container 40 feet có thể xếp được 11.900 hộp, so với 8.700 hộp như trước.
Theo ông Joshua, việc “thu nhỏ” kích cỡ vỏ hộp này đã đi ngược lại các tiêu chí truyền thống trong ngành công nghiệp sản xuất đồ chơi. Nhưng giờ đây, thay vì cố gắng thu hút sự chú ý của người tiêu dùng bằng bao bì lớn và hào nhoáng, trước hết các sản phẩm phải được chọn để bày lên kệ đã.

Nguồn: Bnews
2021-12-06 / by / in ,
Doanh nghiệp ưu tiên điều gì trong thời kỳ “bình thường mới”?

Theo khảo sát, bên cạnh việc ủng hộ Chính phủ đẩy mạnh tiêm chủng vaccine phòng COVID-19, các doanh nghiệp còn mong muốn Chính phủ hỗ trợ lãi suất, kiểm soát lạm phát và ổn định vĩ mô.
Theo tin từ Công ty cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report), trong bối cảnh toàn cầu và nền kinh tế trong nước vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức của đại dịch COVID-19, với tâm thế “sống chung cùng dịch bệnh” nhưng chủ động phòng ngừa an toàn để tránh dịch, kết quả khảo sát của Vietnam Report về chiến lược ưu tiên trong thời kỳ bình thường tiếp theo của các doanh nghiệp hiện nay cho thấy 76,3% doanh nghiệp quyết định tăng cường sử dụng công nghệ mới, đầu tư vào đổi mới sáng tạo và R&D; 71,1% doanh nghiệp lựa chọn bảo vệ hoạt động kinh doanh cốt lõi; 65,8% doanh nghiệp sẽ mở rộng sang các thị trường hoặc phân khúc mới; 64,5% doanh nghiệp thực hiện cải thiện năng lực kỹ thuật số của doanh nghiệp và 50% doanh nghiệp quan tâm tới việc nâng cao trách nhiệm xã hội.

Nhìn chung, trong thời gian tới, các doanh nghiệp VNR500 vẫn sẽ tập trung chú trọng tới ứng dụng công nghệ số một cách toàn diện, kiên định bảo vệ hoạt động kinh doanh cốt lõi và từng bước mở rộng phạm vi kinh doanh tới các thị trường tiềm năng.

56% doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh

Ông Vũ Đăng Vinh, Tổng Giám đốc Vietnam Report cho biết, có 56% doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý 4/2021; trong đó, gần 40% doanh nghiệp đánh giá tình hình kinh doanh sẽ dần đi vào ổn định và diễn biến thị trường sẽ tốt hơn. Đối với từng nhóm ngành chính trong nền kinh tế, cũng cho thấy một tỷ lệ nhất định doanh nghiệp lạc quan về cơ hội trong thời kỳ bình thường tiếp theo.

Khoảng 10% doanh nghiệp ngành bán lẻ nhận định thị trường sẽ nhanh chóng hồi phục và kết quả kinh doanh sẽ khởi sắc; hơn 20% doanh nghiệp ngành thực phẩm đồ uống cho rằng đã chuẩn bị cho sự hồi phục trở lại của thị trường; 58% doanh nghiệp ngành ngân hàng tài chính vẫn đảm bảo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và tin tưởng vào khả năng phục hồi kinh tế cuối năm.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức khi dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp với những biến chủng virus mới có nhiều nguy cơ tác động tiêu cực tới nền kinh tế Việt Nam nói chung và cộng đồng doanh nghiệp nói riêng, Vietnam Report nhận định sẽ có một số cơ hội trong những tháng cuối năm 2021 và đầu năm 2022.

Tỷ lệ tiêm vaccine trong cộng đồng tăng lên nhanh chóng khi mà tính đến đầu tháng 11/2021 đã có trên 83% người từ 18 trở lên đã được tiêm ngừa ít nhất 1 liều vaccine phòng COVID-19 tại Việt Nam. Các khu vực là trung tâm sản xuất vùng đều có tỷ lệ che phủ vaccine ở mức cao, trên 95% dân số trưởng thành.

Như vậy, tốc độ tiêm chủng và độ che phủ vaccine tăng lên nhanh chóng cho thấy các cơ hội lớn cho việc tái khởi động lại hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong quý quan trọng nhất của năm.

Tình hình thị trường quốc tế có nhiều chuyển biến tích cực do ngày càng nhiều quốc gia chuyển sang giai đoạn “bình thường mới” và hướng đến “sống chung an toàn với dịch.” Trong bối cảnh một số quốc gia lân cận theo đuổi chiến lược “Zero COVID,” nền kinh tế Việt Nam đang dần chuyển hướng sang tiếp cận chiến lược “sống chung an toàn với dịch.”

Do đặc thù của nền kinh tế, nếu tiếp tục chiến lược “Zero COVID,” chậm mở cửa, cơ hội đầu tư sẽ không quay lại Việt Nam và có nguy cơ tụt hậu trong quá trình phục hồi kinh tế. Thêm vào đó, các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, như Bắc Mỹ, EU và Đông Á cũng đang có sự hồi phục tốt về nhu cầu tiêu dùng.

Doanh nghiep uu tien dieu gi trong thoi ky Công nhân Công ty cổ phần càphê hòa tan Trung Nguyên tại Bắc Giang. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

Đây là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam có thể vượt qua được giai đoạn khó khăn này khi mà thị trường quốc tế đang vào giai đoạn cuối năm với sức tiêu thụ tăng mạnh phục vụ các kỳ nghỉ dài vào cuối năm 2021.

Các chính sách hỗ trợ mạnh mẽ đã được thực hiện và chuẩn bị được thực hiện. Cụ thể là các chính sách giãn, giảm thuế cho doanh nghiệp và các gói hỗ trợ cho dân cư tại các thành phố lớn. Các doanh nghiệp được gia hạn, miễn giảm tiền thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất đã cho thấy sự chung tay giúp sức của cả cộng đồng trong việc thúc đẩy các doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh.

[Tạo động lực tăng trưởng cho vùng, “cởi trói” cho doanh nghiệp]

Nhìn chung, các chính sách này đã giúp giảm áp lực thanh toán của các doanh nghiệp trong điều kiện lực cầu của thị trường đang còn khá yếu như hiện nay. Đây cũng là kỳ vọng lớn nhất của 82,9% doanh nghiệp trả lời khảo sát mong muốn Chính phủ tiếp tục thực hiện để hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian tới.

Đó là nguồn tài chính giúp doanh nghiệp có thể quay vòng vốn, cũng như thanh toán một phần công nợ, giúp doanh nghiệp có thêm nguồn lực tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt hiệu quả tốt hơn. Các địa phương có những chính sách hỗ trợ người dân về nguồn chi phí sinh hoạt cũng giúp hồi phục phần nào lực cầu của thị trường.

Trong khảo sát doanh nghiệp VNR500 của Vietnam Report, bên cạnh việc ủng hộ Chính phủ ưu tiên đẩy mạnh tốc độ và mở rộng quy mô tiêm chủng vaccine phòng COVID-19; chuẩn bị sẵn các kịch bản ứng phó nếu dịch tái bùng phát; các doanh nghiệp còn mong muốn Chính phủ thực hiện các gói hỗ trợ lãi suất để giảm chi phí vay nợ; kiểm soát lạm phát và ổn định vĩ mô; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.

Đây là những vấn đề chính sách cốt yếu đề xuất với Chính phủ để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trong thời kỳ bình thường tiếp theo.

Các gói kích thích đầu tư công cũng như giảm lãi suất đang được triển khai hoặc dự kiến được triển khai trong thời gian tới đã hỗ trợ tích cực cho việc giúp hồi phục lại lực cầu của nền kinh tế. Nhiều dự án hạ tầng kinh tế-xã hội được triển khai và tăng tốc đã giúp kích hoạt các hoạt động kinh tế-xã hội tại nhiều địa phương.

Với vai trò quan trọng của việc tăng mạnh chi tiêu công như “vốn mồi,” các hoạt động kinh tế xã hội được kỳ vọng sẽ hồi phục nhanh hơn trong thời gian tới. Các gói kích thích kinh tế lớn đang được bàn thảo cũng sẽ mở ra những cơ hội lớn cho cộng đồng doanh nghiệp trong năm 2022.

Mở cửa hoàn toàn nền kinh tế có thể được triển khai trong thời gian tới

Việc mở cửa hoàn toàn nền kinh tế đang được đưa ra thảo luận và có thể được triển khai trong thời gian tới sẽ là “cú hích” lớn cho việc phục hồi các ngành dịch vụ như du lịch, hàng không cũng như hoạt động dịch vụ tại nhiều địa phương. Việc mở cửa đối với khách du lịch sẽ là cú hích giúp thị trường trong nước có thêm nguồn lực để chính thức bước vào giai đoạn tái thiết, phục hồi và phát triển.

Song song với những cơ hội ấy, cũng đặt ra nhiều thách thức khi đại dịch COVID-19 vẫn diễn biến rất phức tạp và khó lường. Theo ông Vinh, các biến thể mới của virus vẫn đang đe dọa nghiêm trọng thành quả chống dịch của nhân loại trong gần 2 năm qua.

Tình trạng thiếu hụt vaccine ngừa COVID-19 cũng như thời gian hiệu lực của vaccine trong sử dụng cũng đang là thách thức cho nhiều quốc gia trong việc hướng đến một giai đoạn “bình thường mới.”

Bên cạnh năng lực sản xuất bị giảm, nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với tình trạng đơn hàng bị huỷ do nhu cầu của khách hàng giảm mạnh. Việc tăng giá các mặt hàng như xăng, dầu, gas, than… sẽ đẩy giá thành lên cao, chi phí sản xuất cũng tăng lên, khiến giá hàng tiêu dùng trong nước tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế.

Trả lời khảo sát của Vietnam Report, các doanh nghiệp VNR500 cho biết có 3 tác động và thách thức đáng kể nhất ảnh hưởng tới tăng trưởng của doanh nghiệp trong 11 tháng năm nay, đó là khó khăn do thị trường trong và ngoài nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng, khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới và khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu đầu vào.

Doanh nghiep uu tien dieu gi trong thoi ky Dây chuyền sản xuất linh kiện điện tử tại Công ty TNHH Bokwang Vina. (Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN)

Chỉ xét riêng các tác động tiêu cực trong đợt bùng phát dịch lần thứ tư vừa qua, theo kết quả khảo sát được Vietnam Report tiến hành trong tháng 11/2021 cho thấy, 92% doanh nghiệp bị gián đoạn quy trình làm việc do nhân sự tuân thủ giãn cách xã hội; 89,2% doanh nghiệp có chi phí sản xuất tăng vọt do phương án 3 tại chỗ, cước vận chuyển, bị phạt vì vi phạm hợp đồng; 81,9% doanh nghiệp bị giảm sản lượng do gián đoạn sản xuất; 77,8% doanh nghiệp gặp ách tắc trong hoạt động mua nguyên vật liệu đầu vào.

Tình trạng lạm phát gia tăng trên toàn thế giới trong bối cảnh giá cả năng lượng, nhiên liệu, vận tải trên toàn cầu được dự báo tiếp tục tăng. Hoạt động xuất nhập khẩu nguyên vật liệu vẫn bị tác động tiêu cực do tình trạng ách tắc trong vận tải quốc tế và phí vận tải tăng cao.

Mặc dù quá trình mở cửa kinh tế đang được thúc đẩy nhưng bối cảnh hiện nay đang làm dấy lên lo ngại về sự kết hợp giữa tăng trưởng giảm sút nhưng mặt bằng lạm phát lại tăng cao. Đây là vấn đề có nguy cơ ảnh hưởng tới nỗ lực kích thích nền kinh tế của các ngân hàng trung ương để thoát khỏi khủng hoảng trong thời gian tới.

Cùng với đó là tình trạng thiếu hụt lao động tiếp tục lan rộng đang ảnh hưởng tiêu cực khi các doanh nghiệp tái sản xuất, kinh doanh trở lại. Sau thời gian dài bị gián đoạn sản xuất kinh doanh thì thiếu hụt lao động và chi phí lao động tăng cao tiếp tục là các ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch COVID-19.

Các chi phí y tế phát sinh từ việc phòng chống dịch bệnh cho đội ngũ công nhân cũng đe dọa hoạt động của doanh nghiệp vì chi phí tăng làm giá thành sản xuất bị “đội lên” và giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp./.

Ngọc Quỳnh (TTXVN/Vietnam+)
2021-12-06 / by / in ,
Doanh nghiệp xoay xở kiếm tiền, giữ người bằng thưởng Tết “như năm trước”

Còn 2 tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán nhưng nhiều doanh nghiệp đã lên phương án thưởng Tết cho nhân viên với tiêu chí “thưởng bằng năm trước”.

“Không phải bây giờ mà ngay từ đầu năm chúng tôi đã đề ra mục tiêu thưởng Tết nên cuối năm cứ thế triển khai”, ông N.M, giám đốc một công ty dược ở Hà Nội chia sẻ với Dân trí.

Theo ông M., từ đầu năm, công ty ông đã đề ra mục tiêu thưởng Tết kèm theo tiêu chí rõ ràng cho từng phòng ban, từng nhân viên. Theo thống kê sơ bộ, những nhân viên xuất sắc của công ty sẽ được hưởng mức thưởng Tết từ 40 đến 50 triệu đồng/người.

Ông M. cho biết, để có được mức thưởng Tết như trên, đa số nhân viên công ty đã đi làm không có ngày nghỉ trong năm nay. Hơn nữa, việc nhân viên đăng ký đi làm thêm ở công ty là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc. “Đó cũng chính là lý do, công ty tôi vẫn giữ mức thưởng Tết cao, không cắt giảm tiền lương, không sa thải nhân sự trong suốt mùa dịch Covid-19 vì mọi người đã cố gắng rất nhiều”, vị giám đốc nói.

Tuy nhiên, ông M. cũng thừa nhận, dịch Covid-19 bùng phát khiến lợi nhuận của doanh nghiệp giảm sút nhưng để giữ chân người lao động, ông vẫn phải làm mọi cách, xoay xở kiếm tiền thưởng Tết cho anh em.

Cùng chung quan điểm, ông N.H, chủ một doanh nghiệp sản xuất nước mắm ở Thanh Hóa cũng quyết định giữ nguyên mức thưởng Tết cho nhân viên bằng năm ngoái. Theo đó, người lao động sẽ được thưởng thêm một tháng lương thứ 13 và một phần quà của công ty. Đặc biệt, với những người có hoàn cảnh khó khăn, ông sẽ có chính sách hỗ trợ thêm.

“Mọi người đi làm cả năm, cống hiến cả năm nên chuyện mong, ngóng, chờ thưởng Tết là thường tình. Tuy nhiên, thưởng Tết cao hay thấp còn phụ thuộc lớn vào việc làm ăn của công ty. Nếu công ty không khó khăn quá thì nên có phần quà nho nhỏ động viên mọi người”, ông H. bày tỏ.

Theo ông H., việc thưởng Tết không chỉ là phần thưởng động viên công nhân mà còn là cách giữ nguồn lao động ổn định sau Tết. Thế nên, công ty ông thường phải trích lập quỹ thưởng Tết từ đầu năm để có khoản lớn chi trả vào cuối năm.

Trong khi đó, ông L.P, giám đốc một công ty du lịch ở Hà Nội cho biết, “thưởng Tết 2021 chỉ mang tính tượng trưng”. Do bởi, ngành du lịch gần như bị đóng băng, tê liệt từ khi có dịch Covid-19 nên doanh nghiệp không doanh thu trong năm qua.

“Công ty tôi sống sót đến bây giờ đã là một kỳ tích. Chúng tôi đã phải thay đổi, chuyển đổi mô hình liên tục để không bị phá sản. Điều này, anh em trong công ty cũng hiểu và thông cảm với ban lãnh đạo sau khi nghe phương án thưởng Tết năm 2021”, ông P. kể.

Theo đó, vào Tết dương lịch, người lao động công ty ông P. sẽ được thưởng 500.000 đồng/người, Tết âm lịch là 2 triệu đồng/người.

Nói với Dân trí, chị O.P, nhân viên một công ty sách ở Hà Nội cho biết, năm nay công ty nơi chị làm gặp khá nhiều khó khăn từ khi dịch Covid-19 bùng phát. Vào thời điểm giãn cách xã hội, toàn bộ nhân viên ở công ty đã bị cắt giảm 10 – 15% tiền lương mỗi tháng.

“Nên bây giờ, chúng tôi chỉ mong lương hàng tháng không bị cắt giảm, chứ đừng nói đến câu chuyện xa xôi là có thưởng Tết hay không. Nhưng tôi nghĩ vẫn có, chẳng qua là ít hay nhiều thôi, vì cuối năm, các nhà sách thường tổ chức hội chợ và đây sẽ là nguồn thu lớn của doanh nghiệp”, chị P. chia sẻ.

An Chi – Dân trí

2021-12-06 / by / in ,