Thêm kết quả...

Cảnh báo sớm để giúp doanh nghiệp bớt rủi ro

Theo Bộ Công thương, các doanh nghiệp (DN), hiệp hội ngành hàng nên thường xuyên theo dõi danh sách cảnh báo sản phẩm có nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại (PVTM) được công bố để chủ động trong sản xuất, kinh doanh, giảm bớt rủi ro. Về phía các DN, hiệp hội cũng mong ngành Công thương có cảnh báo sớm, hỗ trợ DN bảo vệ quyền lợi.

 

Đầu năm 2020, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 316/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống cảnh báo sớm về PVTM. Mục tiêu của đề án là xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống cảnh báo sớm để theo dõi, cảnh báo và hỗ trợ cơ quan điều tra về PVTM và các cơ quan liên quan trong việc điều tra, xử lý các vụ việc PVTM trong và ngoài nước.

* Biết sớm, tránh nhiều rủi ro

Trong giai đoạn 2016-2020, nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU) tăng nhanh, gấp 3-5 lần so với giai đoạn trước. Trong đó, có những mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu giá rẻ vì có ưu thế về lao động, nguyên liệu, ưu đãi về thuế quan. Do đó, nhiều quốc gia đã dựng lên hàng rào kỹ thuật, các biện pháp PVTM để bảo vệ sản xuất trong nước. Đây là việc các DN, hiệp hội ngành hàng ở Việt Nam phải làm quen để chủ động phòng ngừa và ứng phó với các vụ kiện về PVTM của nước ngoài. Tuy nhiên, các DN, hiệp hội cũng cần các tham tán thương mại Việt Nam ở các nước sớm nắm bắt những nguy cơ về những mặt hàng sẽ bị điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM thông báo nhanh cho DN trong nước để chuẩn bị.

Ông Ngô Chung Khanh, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên lưu ý: “Việt Nam đã ký kết 13 hiệp định thương mại với các nước, thị trường xuất khẩu mở rộng, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng tăng cao. Bên cạnh những cơ hội mang lại cũng đi kèm nhiều thách thức DN phải nắm rõ thị trường, mặt hàng mình xuất khẩu vào. EU, Hoa Kỳ là những thị trường đòi hỏi rất khắt khe về nguồn gốc xuất xứ, chất lượng hàng hóa. DN phải nâng cấp sản phẩm, đáp ứng đầy đủ, rõ ràng những tiêu chuẩn về hàng hóa, như vậy sẽ tránh rủi ro khi bị điều tra, áp dụng PVTM”.

Cũng theo ông Khanh, các DN thường xuyên liên hệ với tham tán thương mại các quốc gia mình đang xuất khẩu hàng hóa qua để kịp thời nắm rõ những thay đổi về chính sách, có sự chuẩn bị trước, điều chỉnh sản xuất cho phù hợp với yêu cầu của thị trường.

Hiện nay, EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Đồng Nai cũng như cả nước. Đồng Nai có trên 3,5 ngàn DN tham gia xuất khẩu hàng hóa với hơn 50 mặt hàng xuất khẩu chính, trong đó có 7-8 mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD/năm, DN rất cần những thông tin về thị trường các nước trên thế giới để xây dựng kế hoạch sản xuất cho phù hợp.

Theo ông Lục Văn Thủy, Trưởng phòng Quản lý thương mại Sở Công thương, khi Bộ Công thương có những cảnh báo về danh mục các mặt hàng có nguy cơ điều tra về PVTM, Sở đều kịp thời thông báo cho DN trên địa bàn tỉnh nắm bắt để chủ động phòng tránh, giảm bớt nguy cơ thiệt hại. Tuy nhiên, tỉnh cũng chưa có nhiều chương trình tọa đàm, tuyên truyền sâu về PVTM cho DN vì phải đợi các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn từ Chính phủ, Bộ Công thương.

Quản chặt xuất xứ hàng hóa

Khi tham gia vào thương mại với quốc tế, DN sản xuất, xuất khẩu cần xác định việc gặp phải những vụ điều tra PVTM của nước ngoài sẽ diễn ra nhiều và thường xuyên hơn. Vì thế, từ khâu lựa chọn nguyên liệu, sản xuất, xuất khẩu, DN phải tuân thủ đầy đủ những quy định của thị trường mình sẽ bán hàng. Đồng thời, DN cũng chuẩn bị sẵn kế hoạch cho những trường hợp không may bị áp dụng PVTM với ngành hàng mình đang sản xuất, xuất khẩu để có điều chỉnh kịp thời trong sản xuất, kinh doanh và tìm thêm những thị trường mới nhằm giảm bớt thiệt hại.

Ông Carsten  Schittek, Trưởng ban Thương mại, Phái đoàn EU tại Việt Nam cho biết: “Trong bối cảnh hậu Covid-19, giao thương giữa Việt Nam – EU tiếp tục được mở rộng, nhưng sẽ có những thay đổi về cơ cấu sản phẩm, xu hướng tiêu dùng, phương thức thương mại. Tuy nhiên, yêu cầu tiêu dùng của người dân EU là sản phẩm phải có nguồn gốc, xuất xứ, quá trình sản xuất phải rõ ràng từ khâu sản xuất nguyên liệu đến hoàn thành sản phẩm. DN thực hiện được các điều kiện trên hàng hóa rất dễ vào thị trường EU với số lượng lớn và lâu dài”.

Ngoài thị trường EU, những thị trường khác như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc… cũng đòi hỏi rất cao về chất lượng hàng hóa và nguồn gốc xuất xứ. Đơn cử như mặt hàng may mặc, nhiều nước đòi hỏi rõ nguồn gốc, xuất xứ từ khâu sản xuất bông, dệt sợi, vải cho đến may mặc ra sản phẩm hoàn chỉnh.

Ông Lê Bạch Long, Giám đốc Công ty TNHH Nam Long (H.Long Thành), Phó chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Đồng Nai chia sẻ: “Hàng hóa xuất khẩu vào Nhật Bản, châu Âu đòi hỏi rất cao về chất lượng, mẫu mã, nguồn gốc, xuất xứ, quy trình sản xuất. Tuy nhiên, hàng hóa đáp ứng được các yêu cầu trên rất dễ mở rộng thị trường tiêu thụ tại các quốc gia này và những nước khác. DN sản xuất hàng hóa có nguồn gốc rõ ràng, áp dụng các công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường sẽ giảm bớt được rủi ro trong PVTM”.

Uyển Nhi – baodongnai

2021-11-24 / by / in ,
Doanh nghiệp Mỹ cam kết “rót” thêm vốn đầu tư vào Việt Nam

(KTSG Online) – Bày tỏ niềm tin vào môi trường đầu tư và phát triển kinh tế Việt Nam, các doanh nghiệp Mỹ cam kết tiếp tục rót thêm vốn để mở rộng hoạt động; đồng thời mong muốn chính phủ và các địa phương triển khai tiêm mũi vaccine thứ 3 cũng như khuyến nghị các vấn đề hỗ trợ quá trình phục hồi, phát triển bền vững…

Vaccine cho người lao động là tiên quyết

Theo khuyến nghị của các doanh nghiệp Mỹ, vấn đề tiên quyết nhất hiện nay là tiếp cận vaccine cho người lao động, cùng một chính sách nhất quán, triển khai trên toàn quốc để sống chung an toàn với Covid-19.

Có 99% doanh nghiệp Mỹ lạc quan ở các mức độ khác nhau về khoản đầu tư của mình tại Việt Nam. Chỉ 1% doanh nghiệp nói có cái nhìn bi quan cho các khoản đầu tư ở đây.

Những thông tin này được ghi nhận tại sự kiện Gặp gỡ Hoa Kỳ với chủ đề “Chung tay hợp tác tái mở cửa, phục hồi và phát triển khu vực kinh tế phía Nam” do Bộ Ngoại giao, Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam và Hiệp hội thương mại Mỹ tại Việt Nam tổ chức tại TPHCM vào chiều 23-11.

Sự kiện với sự tham gia của các tập đoàn lớn của Mỹ và những thương hiệu được biết đến rộng khắp thế giới như Intel, Coca Cola, P&G, First Solar, PepsiCo,…

Tại sự kiện, ông KJ Ung, Giám đốc First Solar ở Việt Nam, chia sẻ giữa dịch bệnh hoành hành công ty ông đã phải tăng nhiều chi phí để duy trì hoạt động tại nhà máy ở khu công nghiệp Đông Nam và vừa cho kết thúc làm việc “3 tại chỗ” được khoảng một tháng nay. Dù khó khăn vậy, nhưng theo ông Ung, First Solar vẫn có kế hoạch mở rộng đầu tư vào năm tới nhằm mua thêm các thiết bị công nghệ cho nhà máy sản xuất pin năng lượng mặt trời công nghệ màng mỏng có vốn đăng ký hơn 1 tỉ đô la Mỹ này.

Để tăng cường năng lực sản xuất và duy trì khả năng cạnh tranh, First Solar muốn đưa thêm 300 chuyên gia nước ngoài vào Việt Nam. “Hiện công ty đang gặp khó khăn trong việc đưa chuyên gia người nước ngoài đến Việt Nam làm việc do quy trình nhập cảnh trong tình hình dịch bệnh còn phức tạp”, ông KJ Ung nói.

Tại buổi gặp, Tổng giám đốc P&G Việt Nam cho biết trong những năm qua tập đoàn đã đầu tư và đưa nhà máy ở Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất lớn xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới. Và việc mở rộng sản xuất của P&G vẫn được tiếp tục. Ông Tổng giám đốc P&G đánh giá cao nỗ lực của chính phủ trong việc hỗ trợ vaccine. Và theo ông, chiến lược vaccine cần tiếp tục tăng cường cũng như xây dựng chuỗi cung ứng mạnh mẽ hiệu quả, đáng tin cậy. Ông tin tưởng Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ và trở thành lực lượng mạnh mẽ trong toàn cầu đặc biệt là trong khu vực ASEAN.

Tiếp tục mở rộng đầu tư

Tổng giám đốc PepsiCo Việt Nam cho biết dù bị ảnh hưởng dịch bệnh trong 6 tháng qua, nhưng hãng chưa cho bất cứ nhân viên nào nghỉ việc. Hiện PepsiCo Việt Nam có khoảng 2.800 người lao động làm việc trực tiếp và hàng ngàn người làm việc gián tiếp.

Với cam kết tiếp tục mở rộng hoạt động, ông tin tưởng Chính phủ và chính quyền địa phương linh hoạt và nhất quán trong việc phòng chống dịch Covid-19. Theo ông, chính quyền cần có lộ trình mở cửa nền kinh tế và đáng chú ý là cần đi trước, đón đầu triển khai vaccine bởi sau 6 tháng mọi người phải được tiêm mũi 3.

Tương tự, ông Andrew Lien, Tổng Giám đốc Công ty Wanek Furniture, cho biết trước ảnh hưởng tiêu cực do đợt dịch bệnh bùng phát và kéo dài khiến cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty cũng như đời sống việc làm của người lao động gặp nhiều khó khăn. Đến thời điểm này hoạt động sản xuất tại nhà máy của Wanek Furniture ở Bình Dương đã hồi phục được hơn 70%. Có khoảng 22% lực lượng lao động đã về quê và công ty đang thuyết phục họ quay trở lại làm việc.

Ông Andrew Lien bày tỏ sự tin tưởng tương lai phát triển ở Việt Nam và cam kết tiếp tục mở rộng hoạt động. Hiện Wanek Furniture đang xúc tiến dự án đầu tư mới ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với vốn hàng chục triệu đô la để phục vụ khách hàng nhiều quốc gia trên thế giới. Và để việc sản xuất không bị gián đoạn, lãnh đạo của Wanek Furniture kiến nghị Việt Nam tiếp tục triển khai vaccine để có thể tiêm mũi 3 cho người dân trong thời gian tới .

Với việc tái mở cửa phục hồi kinh tế, lãnh đạo Coca Cola Việt Nam cũng tin tưởng Việt Nam sẽ phát triển mạnh và nhanh trở lại. Do đó, ngoài ba nhà máy tại TPHCM, Hà Nội, và Đà Nẵng với vốn đầu tư hơn 1 tỉ đô la, Coca Cola cũng tiếp tục mở rộng đầu tư với dự án nhà máy mới sẽ được xây ở khu vực miền Nam.

Mặc dù vậy, các doanh nghiệp Mỹ cũng chỉ ra những rủi ro cơ bản đang hạn chế hoạt động kinh doanh tại thị trường Việt Nam. Khoảng 66% phản hồi đó là hạn chế đi lại quốc tế vào Việt Nam; 56% lo ngại sự đứt gãy về chuỗi cung ứng tại Việt Nam, cùng một số vấn đề khác như sự hạn chế đi lại trong nước, các chính sách liên quan đến F0 hay F1…

Đáng chú ý là lo ngại về thiếu hụt lao động. Có 57% doanh nghiệp được khảo sát cho biết tình trạng thiếu hụt lao động sau dịch mà nguyên nhân chủ yếu là người lao động đã về quê và không có ý định quay trở lại thành phố. Trong khi đó trẻ em chưa thể đến trường buộc phụ huynh phải ở nhà làm việc, hướng dẫn con học trực tuyến. Các doanh nghiệp cũng lo ngại về thủ tục đưa chuyên gia, lao động nước ngoài vào Việt Nam.

Ngoài ra, có đến 79% doanh nghiệp khảo sát cảm thấy cách thực thi chống dịch trong điều kiện mới của các tỉnh chưa nhất quán. Nhiều nơi vẫn áp dụng chính sách cách ly F1 tại nhà kể cả khi họ đã tiêm vaccine, xét nghiệm âm tính. Theo bà Maria Tarnowkova, đây được xem là mối quan ngại rất lớn của doanh nghiệp khi mở cửa hoạt động sản xuất trở lại.

Do đó, theo khuyến nghị của các doanh nghiệp Mỹ, vấn đề tiên quyết nhất là tiếp cận vaccine cho người lao động, cùng một chính sách nhất quán, triển khai trên toàn quốc để sống chung an toàn với Covid-19.

Hợp tác tái mở cửa, phục hồi và phát triển!

Theo bà Marie Damour, Đại biện lâm thời Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, trong thời gian vừa qua dịch Covid-19 đã gây tác động nặng nề đến Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay tại TPHCM, Bình Dương… đang chứng kiến cuộc sống sôi động quay trở lại với người dân học cách sống an toàn với Covid-19.

Mỹ tự hào góp phần vào nỗ lực của Việt Nam trong công cuộc phòng, chống dịch Covid-19, nhất là chiến dịch triển khai tiêm phòng Covid-19 của Việt Nam với 20 triệu liều vaccine, trong đó 16 triệu liều đã về đến Việt Nam; đồng thời ủng hộ khoảng 30 triệu đô la cho các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam.

Bà Marie Damour cho rằng kinh tế Việt Nam đang trên đà khởi sắc trở lại. Đây là một dấu hiệu đáng mừng đối với cả Mỹ, bởi nền kinh tế hai nước có mối liên hệ chặt chẽ. Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 10 của Mỹ và là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Việt Nam cũng là nhà nhập khẩu lớn từ Mỹ với các vật tư, hàng hóa phục vụ hỗ trợ sự phát triển nền kinh tế.

Vì vậy, hội nghị là một cơ hội quý báu để Mỹ – Việt Nam, các doanh nghiệp và các địa phương trao đổi, tìm ra giải pháp, cách thức chung tay hỗ trợ tái phục hồi sản xuất, gia tăng năng lực hợp tác phục hồi, phát triển nền kinh tế.

Thay mặt lãnh đạo TPHCM, ông Võ Văn Hoan, Phó Chủ tịch UBND TPHCM khẳng định về quyết tâm của chính quyền Thành phố tiếp tục cải cách hành chính, cải thiện mạnh mẽ hơn nữa môi trường đầu tư, kinh doanh…; thiết lập, áp dụng môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh cho mọi thành phần kinh tế, cả trong nước và nước ngoài; kiên quyết chống tham nhũng, đẩy mạnh cải cách hành chính.

TPHCM sẽ duy trì đối thoại thường xuyên với cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước, để kịp thời có điều chỉnh chính sách phù hợp với lợi ích phát triển của thành phố và lợi ích chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn. Thành phố cam kết tiếp tục lắng nghe, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp và sẵn sàng là địa phương tiên phong, khởi xướng, thử nghiệm những mô hình, cơ chế mới để hợp tác phát triển với cộng đồng doanh nghiệp và các địa phương phía Nam.

Nguồn: kinh tế sài gòn

2021-11-24 / by / in ,
Doanh nghiệp vẫn chưa nắm rõ quy tắc xuất xứ hàng hoá xuất khẩu
VOV.VN – Bộc lộ rõ nhất là việc các doanh nghiệp vẫn đang gặp rất nhiều khúc mắc trong khai báo quy trình sản xuất, nguồn gốc xuất xứ và kiểm định chất lượng sản phẩm xuất khẩu.

Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 hoành hành suốt gần 2 năm qua khiến chuỗi cung ứng thương mại toàn cầu bị đứt gãy, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã nổi lên như một điểm sáng, điểm tựa vững chắc cho hàng hóa của Việt Nam tiếp cận và chinh phục thị trường châu Âu.

Số liệu từ Bộ Công Thương cho thấy, 10 tháng năm 2021, Việt Nam xuất siêu sang EU hơn 11 tỷ USD. Rất nhiều mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam như dệt may, da giày, nông thủy sản… đã tận dụng ngay được các lợi thế của Hiệp định này.

Ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cho hay, nhờ có Hiệp định EVFTA, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU đã tăng trưởng theo hướng bền vững hơn, cả về chất và lượng, xuất – nhập khẩu đều đạt kết quả tích cực.

“Ngoài cơ hội về mở rộng, đa dạng hoá thị thị trường, Hiệp định EVFTA cũng đem lại cho Việt Nam cơ hội để cải cách thể chế, minh bạch hoá, cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh và chuyển đổi cơ cấu hàng hoá hướng tới xuất khẩu các mặt hàng giá trị gia tăng cao”, ông Thái hài lòng.

Những thành quả thương mại nói trên đang minh chứng rõ nét nhất về tính hiệu quả của việc Viêt Nam tham gia và thực thi các hiệp định thương mại tự do nói chung, hiệp định EVFTA nói riêng. Tuy nhiên, để để quá trình xuất khẩu thực sự thông thoáng và bền vững, hàng hóa của Việt Nam phải tuân thủ các tiêu chuẩn, quy định không mấy dễ dàng. Giới chuyên gia kinh tế nhận định, các doanh nghiệp (DN) Việt cần phải nỗ lực hơn nữa để mới có thể bứt phá trên “con đường cao tốc” này.

Theo bà Trịnh Thị Thu Hiền, Trưởng phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), với những gì các DN Việt Nam đã trải qua, bộc lộ rõ nhất là việc các DN vẫn đang gặp rất nhiều khúc mắc trong vấn đề về quy trình sản xuất, nguồn gốc xuất xứ và kiểm định chất lượng.

Bà Hiền cho hay, đối với quy chuẩn, yêu cầu về quy tắc, nguồn gốc xuất xứ, nhiều DN xuất khẩu của chúng ta đã vướng phải không ít tình huống éo le, dở khóc dở cười. Cụ thể, trong quá trình xuất khẩu một lô hàng dệt may của các DN Việt sang thị trường châu Âu cùng 1 mặt hàng, cùng nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra, nhưng nếu sản phẩm đó nếu xuất khẩu sang thị trường khối ASEAN yêu cầu đặt ra lại hoàn toàn khác.

Đơn cử như với thị trường Singapore, sản phẩm dệt may sẽ đáp ứng xuất xứ Việt Nam bởi Singapore là một thành viên của ASEAN và trong khuôn khổ ASEAN, sản phẩm thành phẩm chỉ cần là quần áo đã được coi là có xuất xứ Việt Nam, đồng nghĩa là khi sản phẩm xuất khẩu sang thị trường này sẽ được hưởng ưu đãi.

Nhưng cũng cùng loại sản phẩm đó dù đúng quy trình từ đầu vào đến đầu ra, khi xuất khẩu sang thị trường EU lại phải đáp ứng yêu cầu xuất xứ từ vải trở đi, có nghĩa là quy tắc 2 công đoạn, công đoạn dệt vải và cắt may quần áo phải được thực hiện tại các nước thành viên của Hiệp định EVFTA mới được hưởng ưu đãi thuế quan trong khuôn khổ EVFTA.

Đặc biệt là khi sản phẩm dệt may đó khi xuất sang Canada, quy tắc xuất xứ lại theo khuôn khổ hiệp định CPTPP nghĩa là phải có xuất xứ từ nguyên liệu sợi qua công đoạn se sợi, dệt thành vải và cắt may thành quần áo đều phải thực hiện tại các nước thành viên CPTPP thì mới được hưởng ưu đãi.

“Từ đây mới xảy ra tình huống là sản phẩm may mặc dù cùng của 1 nhà máy xuất khẩu đi, khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu (C/O) trong ASEAN thì các tổ chức của Bộ Công Thương vẫn cấp bình thường, nhưng khi cấp C/O đi EU thì không đáp ứng và lô hàng đó không đạt tiêu chí có xuất xứ Việt Nam”, bà Hiền nêu thực tế và chỉ rõ, dù cùng 1 mặt hàng và do 1 nhà máy sản xuất, nhưng khi xuất đi các thị trường khác nhau thì quy tắc xuất xứ áp dụng là khác nhau.

Chính vì vậy, bà Hiền lưu ý, các DN trước khi xuất khẩu hàng hóa đến thị trường nào đều cần phải tìm hiểu kỹ thông tin về thị trường đó, để có thể làm hồ sơ chứng minh xuất xứ cho phù hợp. Ngoài ra, các DN Việt còn gặp phải những tình huống trớ trêu khi “vấp” phải các quy định về quy tắc xuất xứ hay chỉ dẫn địa lý… Đây đều là những ‘điểm yếu” của các DN Việt lâu nay. Thực tế, quy tắc xuất xứ được đưa ra trong EVFTA tuy không mới nhưng khá phức tạp. Do đó, các DN cần phải hết sức lưu tâm.

Đặc biệt, với chỉ dẫn địa lý – với mục đích nâng cao giá trị nông sản lẫn giá trị pháp lý trong xuất khẩu hiện cũng chưa được nhiều DN quan tâm và đăng ký bảo hộ ở các thị trường nước ngoài. Điều này đã gây ra những thiệt hại nhất định và nguy cơ rủi ro cao, thậm chí gặp những vấn đề về pháp lý khi ra thị trường quốc tế. Trong khi chỉ dẫn địa lý lại là yếu tố về sở hữu trí tuệ mà thị trường EU đặc biệt quan tâm./.

2021-11-24 / by / in ,
Tràn lan tình trạng mạo danh doanh nghiệp trục lợi trên Internet

Thực tế trên không chỉ gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp, mà còn làm méo mó thị trường thương mại điện tử của Việt Nam.

Doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Càng về cuối năm, nhu cầu mua sắm ngày càng tăng và trong thời điểm dịch bệnh, thương mại điện tử phát triển mạnh khi các doanh nghiệp lập các website để kinh doanh cũng ngày càng nhiều.

Nhưng cùng với đó, số lượng các doanh nghiệp bị làm giả, làm gần giống hoặc mạo danh các trang thương mại điện tử cũng ngày càng nhiều qua các hình thức livestream, bán hàng trực tuyến…

Tràn lan tình trạng mạo danh doanh nghiệp trục lợi trên Internet - Ảnh 1.

Những mẫu túi có bề ngoài giống với mẫu túi của các nhãn hiệu nổi tiếng được bày bán tràn lan.

Cũng theo ghi nhận của phóng viên VTV, tại nhiều tài khoản trên mạng xã hội, những mẫu túi có bề ngoài giống với mẫu túi của các nhãn hiệu nổi tiếng được bày bán tràn lan.

Túi được chào bán có đủ các màu: xanh, đỏ, tím, vàng… và được bán với mức giá chỉ vài trăm ngàn đồng một sản phẩm với hộp đề rõ ràng tên thương hiệu Hermes, Gucci hay YSL…

Bán túi rẻ bằng cách livestream trực tuyến, khẳng định sản phẩm của mình là hàng chất lượng giống với hàng thật là cách mà các facebook lấy lòng tin của khách.

Thời điểm này các hoạt động mua sắm cuối năm đã bắt đầu nhộn nhịp. Nhiều chương trình mua sắm với giá hấp dẫn đã đồng loạt triển khai. Tuy nhiên khi mua hàng, không phải khách hàng nào cũng quan tâm nguồn gốc hàng hóa mình mua.

Tình trạng vi phạm này không chỉ gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp, mà còn làm méo mó thị trường thương mại điện tử của Việt Nam.

Khó khăn quản lý thương mại điện tử

Sự phát triển của công nghệ, tính năng phát trực tiếp ngày càng được nhiều người bán hàng, từ cá nhân đến doanh nghiệp, tận dụng để quảng cáo và bán hàng. Vì vậy, việc bổ sung kịp thời các chế tài đủ mạnh là điều cần thiết vào lúc này bởi thương mại điện tử đã phát triển nhanh hơn rất nhiều so với hành lang pháp lý đã có.

Để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các chuyên gia khuyến cáo người tiêu dùng chỉ nên mua hàng tại những website đã đăng ký hoặc thông báo với Bộ Công Thương.

Bởi nếu mua hàng tại các trang giả mạo, ngoài việc mua phải hàng không đảm bảo chất lượng, thông tin của khách hàng có thể sẽ bị lưu trữ lại hoặc bị bán cho bên thứ ba.

Tràn lan tình trạng mạo danh doanh nghiệp trục lợi trên Internet - Ảnh 2.

Người tiêu dùng chỉ nên mua hàng tại những website đã đăng ký hoặc thông báo với Bộ Công Thương.
(Ảnh minh họa – Ảnh: NLĐ)

Bộ Công Thương cũng đã yêu cầu các sàn sàn thương mại điện tử, các chủ sở hữu website siết chặt kiểm duyệt hàng hóa trên sàn. Tuy nhiên, với các website tự phát hay mạng xã hội, ngành Công Thương chỉ có thể khuyến cáo người dùng chọn mua hàng trên nền tảng có uy tín, thương hiệu rõ ràng.

Cục Thương mại điện tử và Tổng cục Quản lý thị trường cũng cho rằng cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các lực lượng, với trách nhiệm của các cơ quan liên quan như địa phương, ban quản lý chợ, trung tâm thương mại, người kinh doanh, gắn tuyên truyền phổ biến pháp luật.

(Theo VTV)

2021-11-24 / by / in ,
Doanh nghiệp chuộng mô hình làm việc ‘nay ở nhà, mai lên công sở’

Kết hợp làm việc tại văn phòng và làm việc từ xa là mô hình được nhiều doanh nghiệp lựa chọn để cân bằng nhu cầu nhân viên sau giãn cách.

Tuần trước, anh Thành – kỹ sư phần mềm của một doanh nghiệp tại Khu công nghệ cao TP HCM – dọn dẹp phòng trả lại chủ nhà trọ. Anh cho biết nhà ở Long An, di chuyển lên TP HCM chỉ khoảng 2 tiếng nên quyết định trả phòng trọ khi công ty cho phép nhân viên vừa làm việc từ xa, vừa làm việc tại văn phòng. Bộ phận của anh chia làm hai nhóm làm việc xen kẽ các ngày trong tuần.

Anh Thành cho rằng, mấy tháng giãn cách làm việc ở nhà hoài thấy chán, nhưng giờ làm việc ở văn phòng suốt cũng không thoải mái. “Kết hợp giữa lên văn phòng và làm từ xa như vậy là cách dung hòa rất tốt”, anh Thành nhận xét và cho rằng mô hình này trước mắt đã giúp anh tiết kiệm được tiền thuê trọ.

Không chỉ anh Thành mà hiện nay còn có rất nhiều người thích mô hình làm việc này. Báo cáo Work Trend Index của Microsoft dựa trên khảo sát từ 31 quốc gia chỉ rõ, xu hướng thế giới là hybrid working – mô hình kết hợp làm việc tại văn phòng và làm việc từ xa. Tại Việt Nam, khảo sát của Microsoft cho thấy, 81% người lao động muốn tiếp tục làm việc từ xa, song 77% người được hỏi muốn gặp lại đồng nghiệp tại văn phòng. Để cân bằng, mô hình làm việc kết hợp là lựa chọn mang tính tất yếu.

Tương tự, theo khảo sát mới nhất của PwC Việt Nam, 33% người tham gia mong đợi một mô hình kết hợp giữa làm việc tại văn phòng với làm việc từ xa. Dự đoán đến năm 2025, thế hệ Z (sinh từ 1996-2012) sẽ chiếm một phần ba độ tuổi lao động của Việt Nam. 80% nhóm này tin rằng, họ có thể làm việc từ xa hiệu quả.

Áp dụng mô hình làm việc trên ngay từ thời điểm thành lập, Seedcom có nhiều thuận lợi để tiếp tục thực hiện thời gian tới. Một số lãnh đạo của công ty điều hành từ nước ngoài, các bộ phận về kế toán – tài chính, nhân sự, truyền thông có các vị trí cố định, nhưng nhân viên có thể chọn linh hoạt ở văn phòng công ty thành viên hay văn phòng chính hoặc làm việc trực tuyến. Các bộ phận về công nghệ và dự án được linh hoạt làm việc ở nhà và văn phòng.

“Việc có một văn phòng hiện tại ít tác dụng với đội ngũ phân tán như Seedcom. Khi dịch ập đến, tất cả làm việc online vẫn hiệu quả, nên chúng tôi quyết định áp dụng mô hình ‘on cloud’ cho toàn bộ hệ thống. Nhân viên có thể ngồi ở nhà hoặc bất cứ đâu để làm việc”, ông Nguyễn Hoành Tiến – CEO Seedcom cho biết.

Theo ông Tiến, hình thức trên giúp tiết kiệm chi phí thuê văn phòng, tiết kiệm thời gian đi lại và giúp nhân viên có thể tự chủ động sắp xếp thời gian làm việc. “Dù đã áp dụng 4-5 năm trước, nhưng phải tới đại dịch, ban lãnh đạo mới suy nghĩ về việc áp dụng hybrid working lâu dài hơn cho tất cả vị trí từng tưởng chỉ có thể làm việc tại chỗ”, ông Tiến nói thêm.

Làm việc kết hợp tuy mang đến nhiều lợi ích nhưng kiểm soát hiệu suất của nhân viên cũng là vấn đề đáng lo ngại. Ông Tiến cho rằng, để nhân viên phát huy tối đa năng suất làm việc, trước hết cần giúp họ hiểu rõ mục tiêu, kết quả công việc mang lại.

Thừa nhận hybrid working phần nào khó kiểm soát hiệu suất làm việc, ông Nguyễn Hoàng Trung – CEO Loship cho rằng, nếu không có một kế hoạch hợp lý, tính linh hoạt và thoải mái của hybrid working dễ bị lạm dụng cho những mục đích cá nhân khác.

Cá nhân ông Trung thích lên văn phòng mỗi ngày, quan sát sự tương tác và hoạt động nhộn nhịp của nhân viên. Khi nhân sự không có mặt tại văn phòng, những người điều hành sẽ không thể nắm rõ công việc thực tế của họ. Đặc biệt khi cần sự phối hợp ngay lập tức, đội ngũ chỉ có thể tương tác qua các phương tiện trực tuyến và không thể nắm chắc sẽ nhận được phản hồi tức thì như lúc ở văn phòng.

Theo ông, những bất cập đó sẽ phần nào được gỡ bỏ khi văn hóa niềm tin trong doanh nghiệp tăng lên. Lãnh đạo tin tưởng vào nhân viên, trao toàn quyền cho họ thực hiện công việc và không cần sự kiểm soát chặt chẽ. Ở chiều ngược lại, nhân viên cũng thể hiện niềm tin vào người lãnh đạo và doanh nghiệp, họ làm việc để cống hiến, đóng góp cho công ty và tạo dựng giá trị chứ không phải vì một ai đó đang quan sát.

Tuy nhiên, văn hóa niềm tin không phải là thứ được xây dựng trong một sớm một chiều. Khi áp dụng mô hình hybrid working, doanh nghiệp vẫn nên yêu cầu nhân viên lên văn phòng vào một số ngày nhất định để đảm bảo công tác quản lý. Đồng thời, doanh nghiệp cần phải đầu tư, chuẩn bị sẵn sàng cả về nhân lực, bảo mật, công nghệ.

“Khi nhân viên không được kết nối về mặt vật lý, công nghệ trở thành chìa khóa kết nối quan trọng nhất giúp tối ưu hóa hiệu quả và năng suất công việc”, ông Trung chia sẻ đây là bí quyết của Loship khi quyết định áp dụng hybrid working lâu dài.

Tuy nhiên, Microsoft lưu ý rằng, không phải ngành nghề nào cũng có thể áp dụng hybrid working. Mô hình này phù hợp cho một số lĩnh vực như công nghệ, truyền thông, quảng cáo, thiết kế, du lịch, thời trang, mỹ phẩm, đồ gia dụng… Đối với các ngành nghề đòi hỏi nghiêm ngặt việc bảo mật thông tin và quy trình như ngân hàng, chứng khoán… mô hình này sẽ khó phù hợp.

Tất Đạt – vnexpress

2021-11-24 / by / in ,
Điểm đến quan trọng của doanh nghiệp Nhật

Dòng vốn đầu tư và kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản liên tục tăng thời gian qua

Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến cuối tháng 10-2021, Nhật Bản đứng thứ 2 trong số 141 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp (FDI) tại Việt Nam với 4.765 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 63,94 tỉ USD. Quy mô dự án bình quân của Nhật Bản là 13,4 triệu USD/dự án, cao hơn mức bình quân chung của cả nước là 11,7 triệu USD/dự án.

Dòng vốn liên tục tăng

Trong dòng vồn FDI mà Nhật đầu tư vào Việt Nam, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được “rót” vốn nhiều nhất với trên 1.800 dự án đang có hiệu lực, tổng vốn của ngành khoảng trên 39,4 tỉ USD. Tiếp đó là hoạt động kinh doanh bất động sản với trên 6,8 tỉ USD; sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa trên 6 tỉ USD… Hiện nay, Thanh Hóa là địa phương có tổng vốn đầu tư của Nhật Bản lớn nhất với trên 12,5 tỉ USD. Tại Hà Nội, Nhật Bản đầu tư vào hơn 1.300 dự án, với tổng số vốn trên 10 tỉ USD. TP HCM cũng thu hút được trên 4,6 tỉ USD nguồn vốn đầu tư từ Nhật Bản với hơn 1.400 dự án đang có hiệu lực. Các doanh nghiệp Nhật Bản hiện đã đầu tư vào 56 tỉnh, thành tại Việt Nam.

Điểm đến quan trọng của doanh nghiệp Nhật - Ảnh 1.

Tập đoàn AEON là một trong nhiều doanh nghiệp Nhật đầu tư thành công tại
Việt Nam trong 10 năm qua và vẫn tiếp tục mở rộng .Ảnh: TẤN THẠNH

Những năm gần đây, ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ôtô, môtô, xe máy cũng được các nhà đầu tư Nhật Bản đặc biệt quan tâm khi có trên 665 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tư trên 1,6 tỉ USD. Đáng chú ý là Tập đoàn AEON của Nhật Bản đã đầu tư xây dựng nhiều trung tâm thương mại AEON Mall có quy mô lớn ở Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng…

Cụ thể, sau hơn 10 năm hoạt động tại Việt Nam, Tập đoàn AEON đã phát triển vững mạnh với hệ sinh thái gồm 8 công ty thành viên, hoạt động chủ yếu trong 5 lĩnh vực kinh doanh bán lẻ, gồm: trung tâm mua sắm, trung tâm bách hóa tổng hợp & siêu thị, các chuỗi cửa hàng chuyên doanh, siêu thị vừa và nhỏ, thương mại điện tử với các thương hiệu AEON MALL Việt Nam, AEON Delight Việt Nam, ACS Việt Nam, AEON TOPVALU Việt Nam, Ministop Việt Nam, AEON Fantasy Việt Nam, AEON Citimart. Tính đến tháng 11-2021, tập đoàn này đã đầu tư phát triển và kinh doanh tổng cộng 6 trung tâm mua sắm và trung tâm bách hóa tổng hợp & siêu thị tại TP HCM, Bình Dương, Hà Nội, Hải Phòng; 44 cửa hàng chuyên doanh; 23 siêu thị vừa và nhỏ; 121 cửa hàng tiện lợi Ministop cùng 1 trang thương mại điện tử AEON Eshop, 1 trung tâm phân phối AEON khu vực phía Nam tại tỉnh Bình Dương. Hiện tập đoàn này đang có kế hoạch mở rộng đầu tư vào các tỉnh Đồng Nai, Bắc Ninh… Ông Furusawa Yasuyuki, Tổng Giám đốc Công ty AEON Việt Nam, cho biết thời gian tới, tập đoàn sẽ tiếp tục đẩy mạnh chiến lược chuyển đổi số và tăng tốc mở rộng hệ thống kinh doanh trên toàn quốc, trong đó tập trung vào lĩnh vực cửa hàng chuyên doanh, siêu thị vừa & nhỏ AEON MaxValu và thương mại điện tử. Ngoài ra, sẽ chú trọng phát triển các sản phẩm Nhãn hàng riêng của AEON như: TOPVALU, HÓME CÓORDY, innerCasual.

Một tập đoàn bán lẻ sừng sỏ trong lĩnh vực thời trang của Nhật là Fast Retailing Group cũng đã chính thức xác lập sự hiện hữu tại Việt Nam thông qua chuỗi cửa hàng UniQlo. Chưa đầy 2 năm kể từ khi cửa hàng đầu tiên khai trương đi vào hoạt động (tháng 12-2019), mặc cho kinh tế nói chung và thị trường bán lẻ gặp nhiều sóng gió qua 4 đợt dịch Covid-19 bùng phát, UniQlo đã có 9 cửa hàng quy mô lớn tại những vị trí đắc địa tại TP HCM, Hà Nội. Trong đó, năm 2021 dù đợt dịch gây tác động nặng nề nhưng nhà bán lẻ Nhật Bản vẫn đưa thêm 3 cửa hàng UniQlo vào hoạt động; đồng thời tăng cường bán hàng online nhằm thích ứng với giai đoạn bình thường mới. Chia sẻ với báo giới, ông Tadashi Yanai, Chủ tịch kiêm CEO của Fast Retailing Group, xác định Việt Nam là thị trường tiềm năng nhất, cũng là cơ sở sản xuất quan trọng hàng đầu của hãng. Giám đốc UniQlo Việt Nam Osamu Ikezoe thì cho biết thương hiệu này sẽ tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh thông qua việc khai trương cửa hàng mới theo hình thức và quy mô mới, nhằm phủ rộng hơn nữa các nhóm đối tượng khách hàng và khu vực dân cư, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.

Bước phát triển vượt bậc

Ông Nakajima Takeo, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) kiêm Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, đánh giá hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước đã có bước phát triển vượt bậc. Theo ông Nakajima Takeo, Nhật Bản là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai với khoảng gần 4.700 dự án có tổng vốn đăng ký hơn 63 tỉ USD, đồng thời là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam với tổng kim ngạch thương mại hai chiều năm 2020 đạt 40 tỉ USD. Năm 2020-2021, dù bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 nhưng ông Nakajima Takeo nhấn mạnh dòng vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục chảy vào Việt Nam. Năm 2021, chỉ tính riêng 2 dự án đầu tư của Nhật Bản tại Cần Thơ và Vĩnh Phúc đã có tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD.

Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Nguyễn Phú Bình đánh giá Nhật Bản là một trong những đối tác lớn nhất của Việt Nam. Theo ông Bình, kể từ năm 1992, khi Nhật Bản nối lại viện trợ (ODA) cho Việt Nam đến nay, mối quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển cao hơn, là mối quan hệ tin cậy và hiệu quả. Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất (tính đến cuối năm 2019, Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam là 2.578 tỉ yen, tương đương 23,76 tỉ USD, chiếm đến gần 25% tổng số ODA mà quốc tế dành cho Việt Nam).

Ông Nguyễn Phú Bình nhắc đến việc Nhật Bản là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai của Việt Nam. Nhật Bản cũng là đối tác du lịch lớn thứ ba (lượng khách trao đổi 2 chiều giữa Nhật Bản và Việt Nam đạt cao nhất từ trước tới nay với hơn 1,4 triệu lượt khách, lên đến đỉnh cao năm 2019). Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam. Năm 2020, hai bên đã đạt kim ngạch 40 tỉ USD. Trong 9 tháng của năm 2021, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản đạt 31 tỉ USD, tăng so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 14,7 tỉ USD và nhập khẩu đạt 16,3 tỉ USD.

Theo ông Bình, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá tình hình chính trị của Việt Nam ổn định, quan hệ hai bên tin cậy chính là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục đầu tư tại Việt Nam. Tuy còn là nước đang phát triển nhưng Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, tham gia nhiều Hiệp định kinh tế và thương mại tự do, nằm ở trung tâm Đông Nam Á, lại có bờ biển dài nên rất thuận lợi cho các hoạt động đầu tư và thương mại với Nhật Bản.

Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản cho rằng về mặt kinh tế, hai nước có nhiều nhân tố bổ sung cho nhau. Theo đó, là một nước phát triển cao, nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, Nhật Bản có tiềm năng lớn về vốn, công nghệ và kinh nghiệm phát triển, rất cần cho công cuộc phát triển của Việt Nam, trong khi Việt Nam với dân số gần 100 triệu người, là nguồn nhân lực trẻ, thiết yếu, bù đắp cho sự thiếu hụt lao động của Nhật Bản, cũng là thị trường đáng kể ở Đông Nam Á. Mặt khác, với tài nguyên thiên nhiên phong phú, khí hậu nhiệt đới, Việt Nam là nguồn cung cấp dồi dào nguyên vật liệu và lương thực, thực phẩm cho Nhật Bản; vị trí địa lý và bờ biển dài của Việt Nam giúp cho giao thương và vận tải với Nhật Bản được dễ dàng. “Cùng với những điều kiện tự nhiên đó, việc Việt Nam tham gia hàng chục hiệp định kinh tế và thương mại tự do song phương và đa phương càng tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác và kết nối kinh tế giữa hai nước” – ông Bình nhấn mạnh.

Một số dự án vài tỉ USD

Một số dự án tiêu biểu của Nhật Bản vào Việt Nam như dự án Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn, được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư năm 2008, đây là dự án liên doanh giữa nhà đầu tư Nhật Bản với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với vốn đăng ký 9 tỉ USD tại tỉnh Thanh Hóa. Bên cạnh đó là dự án Thành phố thông minh được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư năm 2018, là dự án liên doanh giữa nhà đầu tư Nhật Bản với Công ty CP Tập đoàn BRG vào Hà Nội, với số vốn đăng ký đạt 4,13 tỉ USD. Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy Nhiệt điện BOT Nghi Sơn 2, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư năm 2017. Dự án 100% vốn Nhật Bản, vốn đầu tư đăng ký đạt 2,79 tỉ USD…

Theo Người Lao Động

2021-11-24 / by / in ,
TPHCM: F0 tăng trở lại, doanh nghiệp lo mất Tết

“Nếu bị chậm hoặc đứt gãy các đơn hàng cuối năm, doanh nghiệp sẽ mất nguồn thu nhập quan trọng nhất cho năm nay. Khả năng doanh nghiệp và người lao động mất Tết rất rõ”, giám đốc công ty may chia sẻ.

Gần 2 tháng sau khi TPHCM nới lỏng giãn cách, 230.000 lao động đã quay trở lại làm việc (chiếm 80%). Doanh nghiệp đều kỳ vọng vào các đơn hàng cuối năm để cứu cho một năm doanh thu thấp nhất lịch sử. Tuy vậy, kế hoạch hồi phục sản xuất có khả năng bị gián đoạn do F0 tăng trở lại.

Theo báo cáo, từ ngày 1/10 đến nay, tại các KCX, KCN và khu công nghệ cao ở TPHCM có gần 4.000 ca F0. Mỗi ngày có khoảng 100 F0 và liên tục tăng nhanh trong thời gian gần đây. Để hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, khu công nghệ cao đã thành lập trung tâm cách ly, điều trị Covid-19 tại nội khu, đây cũng là mô hình đầu tiên trong cả nước.

Tại công ty TNHH Pouyuen Việt Nam ở Khu công nghiệp Tân Tạo, quận Bình Tân, gần 50.000 công nhân đã được tiêm 2 mũi vaccine Covid-19. Các công nhân được yêu cầu tuân thủ 5K, được xét nghiệm định kỳ nhưng vẫn có nhiều F0, có ngày lên đến 25 ca.

TPHCM: F0 tăng trở lại, doanh nghiệp lo mất Tết - 2

Để đảm bảo an toàn cho người lao động, UBND quận Bình Tân đã yêu cầu công ty tổ chức trung tâm thu dung, cách ly với quy mô 200 – 300 giường. Tuy vậy, doanh nghiệp khó thực hiện do thiếu nhân lực y tế, cơ sở vật chất, mặt bằng…

Tại công ty may M.P ở TP Thủ Đức, dù các phân xưởng đã được giãn cách, công nhân chia theo nhóm, làm việc theo ca và tuân thủ 5K nhưng F0 vẫn xuất hiện. Có những ngày hàng chục F0 trong công ty được phát hiện sau khi test nhanh dẫn đến dây chuyền sản xuất phải tạm ngưng để khử khuẩn.

“Thực sự rất khó khăn, chúng tôi đã cố gắng hết sức, làm hết sức nhưng không thể thực hiện ‘Zero F0’ được. Phải chấp nhận thay đổi chuỗi sản xuất để thích ứng nhưng tình hình phức tạp hơn chúng tôi nghĩ doanh nghiệp, người lao động có khả năng mất Tết”, ông Đào Duy Huy – giám đốc nhân sự công ty M.P cho hay.

Ông Huy phân tích, 4 tháng giãn cách công ty phải ngưng mọi hoạt động sản xuất nhưng công nhân vẫn được hỗ trợ lương căn bản. Những công nhân ở lại TPHCM được chu cấp thêm tiền phòng trọ, nhu yếu phẩm, thuốc men.

“Ngân sách gần như cạn kiệt, chúng tôi mong các đơn hàng dịp cuối năm để thu lợi nhuận nhằm duy trì công ty, hỗ trợ phúc lợi cho công nhân nhưng tình hình này rất khó. Khả năng doanh nghiệp lâm vào khủng hoảng, nợ nần, phá sản đang hiện rõ. Điều này thực sự nằm ngoài dự kiến, chúng tôi chưa bao giờ mong điều này xảy ra, không phải vì chúng tôi mà vì gia đình hơn 1.000 công nhân, người lao động”, ông Huy chia sẻ.

TPHCM: F0 tăng trở lại, doanh nghiệp lo mất Tết - 3

Ông Huy mong rằng, thời gian tới UBND TPHCM, Ban quản lý các KCX, KCN sẽ có thêm những biện pháp hỗ trợ điều trị F0. Cùng với đó, ông cũng mong các doanh nghiệp được tiếp cận thêm nhiều nguồn vay giá rẻ để thuận lợi hồi phục sản xuất, đổi mới dây chuyền công nghệ.

Theo khảo sát, nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực may mặc, giày da, đồ gỗ… đều có tình trạng F0 tăng trở lại. Các doanh nghiệp đều đang gồng mình để thích ứng sản xuất trong điều kiện bình thường mới nhưng hiệu quả vẫn được bỏ ngỏ.

“Nhiều lao động khi chúng tôi chia sẻ họ cho biết sẵn sàng giảm lương, thưởng, thậm chí không cần thưởng Tết để cùng nhau vượt khó. Về phía doanh nghiệp, được người lao động hỗ trợ chúng tôi rất vui nhưng cũng rất nặng lòng. Họ gắn bó với mình bao nhiêu năm làm sao để họ phải chịu thiệt thòi. Hy vọng TP sẽ sớm khống chế được dịch để doanh nghiệp an tâm sản xuất nhằm đảm bảo hoạt động công ty và chế độ cho người lao động”, đại diện doanh nghiệp may ở quận Thủ Đức thông tin thêm.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-22 / by / in , ,
Có thể thỏa thuận thanh toán lương những ngày chưa nghỉ phép

Theo Khoản 3 Điều 113 Luật Lao động, trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm thì được thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.

Bà Trần Thị Thanh Xuân (TPHCM) hỏi, căn cứ quy định nêu trên, trong các trường hợp khác, nếu người lao động và công ty có thỏa thuận hoặc nội quy lao động có quy định người lao động vẫn được thanh toán tiền lương cho ngày nghỉ hàng năm chưa sử dụng trong các trường hợp khác ngoài 2 trường hợp nêu tại Khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 thì có vi phạm pháp luật không?

Về vấn đề này, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời như sau:

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 113 của Bộ luật Lao động năm 2019 thì trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Bộ luật Lao động năm 2019 thì pháp luật lao động khuyến khích những thỏa thuận bảo đảm cho người lao động có điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật về lao động.

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp doanh nghiệp muốn tạo điều kiện tốt hơn cho người lao động về thu nhập thì có thể thỏa thuận thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ hàng năm của người lao động ngoài các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động nêu trên.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-19 / by / in
Hỗ trợ tiền lương cho lao động dôi dư nghỉ hưu “non”

Người lao động dôi dư nghỉ hưu trước tuổi thì được hỗ trợ thêm 0,4 hoặc 0,2 tháng lương tối thiểu vùng, tính bình quân cho mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội.

Bộ LĐ-TB&XH đang trình Chính phủ phương án thay thế Nghị định 63/2015/NĐ-CP quy định chính sách đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

Những nội dung cơ bản của dự thảo nghị định mới sẽ được điều chỉnh theo hướng, như: Sửa đổi tuổi nghỉ hưu trong điều kiện bình thường, cách tính tiền hỗ trợ thêm cho người lao động, điều chỉnh căn cứ tiền lương cơ sở sang lương tối thiểu vùng, quy định căn cứ thời gian làm việc làm để tính trợ cấp thôi việc…

Theo đó, Bộ LĐ-TB&XH đề nghị sửa đổi tuổi nghỉ hưởng lương hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường từ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ lên đủ 62 tuổi với nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi với nữ vào năm 2035 theo lộ trình điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019 và Điều 4 Nghị định số 135/2020/NĐ-CP.

Hỗ trợ tiền lương cho lao động dôi dư nghỉ hưu non - 1

Sửa đổi cách tính tiền hỗ trợ thêm cho người lao động dôi dư từ hệ số nhân với mức lương cơ sở sang hệ số nhân với mức lương tối thiểu vùng tính bình quân của tất cả các vùng lương.

Đối với người lao động dôi dư được nghỉ hưu trước tuổi, Bộ LĐ-TB&XH đề nghị hỗ trợ thêm 0,4 hoặc 0,2 tháng lương tối thiểu vùng tính bình quân cho mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội.

Trường hợp người lao động dôi dư không đủ điều kiện hưởng chế độ nghỉ hưởng lương hưu trước tuổi hoặc đủ tuổi nghỉ hưu nhưng thiếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong doanh nghiệp thực hiện sắp xếp lại theo hình thức cổ phần hóa, bán, chuyển thành trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, chuyển thành đơn vị sự nghiệp thì được hỗ trợ 0,05 tháng lương tối thiểu vùng tính bình quân cho mỗi năm làm việc tại doanh nghiệp thực hiện sắp xếp lại.

Đối với người lao động dôi dư không đủ điều kiện hưởng chế độ nghỉ hưởng lương hưu trước tuổi trong doanh nghiệp thực hiện sắp xếp lại theo hình thức giải thể phá sản thì được hỗ trợ 0,2 tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc tại doanh nghiệp thực hiện sắp xếp lại.

Về thời gian và tiền lương làm căn cứ tính chế độ đối với người lao động dôi dư, Bộ LĐ-TB&XH kiến nghị sửa đổi quy định về thời gian làm việc làm căn cứ để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho phù hợp với quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đồng thời sửa đổi cách tính thời gian làm việc tại doanh nghiệp thực hiện sắp xếp lại để tính khoản tiền hỗ trợ để đảm bảo tính thống nhất.

Bên cạnh đó, tiền lương làm căn cứ tính các khoản hỗ trợ cho người lao động dôi dư được sửa đổi từ lương cơ sở sang mức lương tối thiểu vùng tính bình quân của tất cả các vùng, do Chính phủ công bố tại thời điểm người lao động nghỉ việc…

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-19 / by / in
Thưởng Tết 2022: Nơi thì 990 triệu, nơi chỉ là… quà tinh thần

Tại TPHCM, một DN may chia sẻ, thưởng Tết 2022 chỉ tượng trưng, tinh thần là chính. Trong khi một DN tài chính đã công bố thưởng Tết dương lịch, cao nhất tới 990 triệu đồng.

Kế hoạch bù đắp cho người lao động “mất” thưởng Tết

Sau gần 2 tháng trở lại sản xuất kinh doanh, nhiều doanh nghiệp ở TPHCM đã dần hồi phục sản xuất nhưng không ít doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ phá sản. Đúng ra, thời điểm này, các doanh nghiệp đang tính toán phương án thưởng Tết cho người lao động nhưng năm nay, thưởng Tết đang là bài toán nan giải.

“Đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa nên chi phí nguyên liệu tăng 10 – 20%. Chi phí vận chuyển cũng tăng gần 10 lần, ngày trước thuê một container đi châu Âu chỉ 2.800 USD nay tăng lên 15.800. Ngoài ra, các chi phí đảm bảo phòng chống dịch cũng rất tốn kém. Doanh nghiệp năm nay thua lỗ “sặc máu” luôn, sao có thưởng Tết như mọi năm được”, ông Nguyễn Viết Anh, đại diện một doanh nghiệp may ở TPHCM chia sẻ.

Theo ông Viết Anh, mọi năm, tùy theo thâm niên và chức vụ, công ty sẽ có mức thưởng từ 5 – 50 triệu đồng/một nhân viên. Năm nay, có thể mức thưởng Tết chỉ tượng trưng: gồm một tháng lương cơ bản hoặc phần quà.

“Tôi khảo sát thì nhiều doanh nghiệp cũng gặp tình trạng rất khó khăn, họ đang thua lỗ nặng và đứng trước nguy cơ phá sản. Do đó, thưởng Tết năm nay có thể sẽ khiến người lao động rất buồn, chúng tôi cũng rất buồn nhưng ảnh hưởng của dịch quá khủng khiếp, phải làm sao”, ông Viết Anh thở dài.

Cũng theo ông Viết Anh, trong 4 tháng phải ngưng việc, công ty vẫn đảm bảo chế độ cơ bản cho người lao động. Công ty vẫn luôn đồng hành và phát triển cùng người lao động nhưng do dịch kéo dài nên kinh tế của công ty chưa thể hồi phục.

Thưởng Tết 2022: Nơi 990 triệu, nơi chỉ là... quà tinh thần - 2

“Nếu có nguồn thu chúng tôi sẵn sàng thưởng Tết cho công nhân như mọi năm, nhưng tình hình này chắc khó. Hiện nay trong công ty vẫn có F0, công nhân vẫn phải nghỉ làm, đơn hàng thì có nhưng giá vật liệu cao khiến doanh thu giảm. Tôi có khảo sát thì năm nay người lao động họ cũng đồng cảm. Họ thấy được mình đã hỗ trợ qua 4 tháng dịch và họ cũng nhận ra giờ có việc làm là điều may mắn rồi”, ông Việt Anh nói thêm.

Ông Nguyễn Anh Dũng – Giám đốc doanh nghiệp gỗ tại quận Tân Phú cũng cho rằng: “Năm nay chưa dám nghĩ đến việc thưởng Tết cho người lao động. Hiện, chúng tôi đang lo tìm kiếm các đơn hàng mới để duy trì công việc, mức lương căn bản cho người lao động. Năm nay, thưởng Tết có thể không có hoặc phải đợi đến khi công ty có lợi nhuận mới có thể chi đến tay công nhân”.

Hơn 2 năm qua, doanh nghiệp của ông Dũng liên tục mất các đơn hàng, doanh thu giảm hơn 70%, công nhân đã nghỉ hơn 50%, công ty cũng đang nợ lương nhiều công nhân.

“Ảnh hưởng của dịch Covid-19 quá khủng khiếp. Hơn 20 năm làm doanh nghiệp chưa khi nào tôi thấy lao đao như bây giờ, có khi cả tuần không thể ngủ ngon. Do thiếu việc dài hạn nên tôi phải cho công nhân nghỉ việc, đau xót lắm, họ cũng buồn. Nhiều công nhân nói với tôi họ xin ở lại cùng chịu khó khăn với công ty nhưng mình không làm vậy được”, ông Dũng nói.

Ông Dũng cũng mong người lao động có thể đồng cảm, chia sẻ thêm với doanh nghiệp trong dịp thưởng Tết năm 2022. Khi doanh nghiệp hồi phục sản xuất, các doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều chế độ tăng lương, thưởng để bù đắp cho người lao động vì “mất” thưởng Tết.

Dành 2.400 tỉ đồng chăm lo cho người lao động dịp tết Nguyên đán 2022

Thưởng Tết cao nhất 990 triệu đồng

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam vừa ban hành kế hoạch tổ chức các hoạt động chăm lo cho đoàn viên, người lao động dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022. Theo đó, Liên đoàn sẽ chi 2.400 tỷ đồng chăm lo Tết cho 8 triệu người lao động (mức 300.000 đồng/người).

Các hoạt động tổ chức chăm lo tết, gồm tổ chức thăm, tặng quà, động viên, chúc tết đoàn viên lao động, nhất là người trong khu cách ly, phong tỏa, mắc Covid-19 đang điều trị tại nhà hoặc các cơ sở y tế…

Theo kế hoạch, người lao động còn được công đoàn các cấp hỗ trợ tổ chức phương tiện đưa đón hoặc toàn bộ, một phần vé tàu, xe, máy bay, phương tiện để về quê ăn tết và quay trở lại nơi làm việc đảm bảo quy định phòng, chống dịch Covid-19. Với công nhân lao động không về quê, chương trình trực tuyến “Tết không xa nhà” hoặc tương tự sẽ được tổ chức.

Trước đó, dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021, cả nước có 63.000 doanh nghiệp báo cáo về lương, thưởng Tết. Với Tết Dương lịch, mức thưởng bình quân 2,3 triệu đồng/người, thưởng cao nhất 990 triệu đồng tại một doanh nghiệp tài chính ở TPHCM; tết Nguyên đán mức thưởng bình quân 6,3 triệu đồng/người (tương đương 1 tháng lương, giảm 5% so với năm 2020).

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-19 / by / in