Thêm kết quả...

Các thiết bị điện công nghiệp phổ biến trong năm 2024

Thiết bị điện công nghiệp giúp điều khiển và đo lường các thông số quan trọng của quá trình sản xuất. Những thiết bị này bao gồm các hệ thống điện, điều khiển và đo lường. Giúp cho các quá trình sản xuất được thực hiện một cách hiệu quả hơn. Đồng thời giảm thiểu sự cố và nâng cao chất lượng sản phẩm. Các loại thiết bị điện công nghiệp phổ biến bao gồm motor, biến tần, PLC, cảm biến áp suất và nhiệt độ…

  • Thiết bị motor giúp vận hành các thiết bị cơ khí trong quá trình sản xuất
  • Biến tần giúp kiểm soát tốc độ của motor.
  • PLC giúp điều khiển và giám sát các quá trình sản xuất một cách tự động. Từ đó giảm thiểu nhân lực và tăng tính chính xác trong quá trình sản xuất.
  • Cảm biến áp suất và nhiệt độ giúp đo lường các thông số quan trọng trong quá trình sản xuất và giúp điều chỉnh quá trình sản xuất một cách chính xác.

Sử dụng các thiết bị điện công nghiệp phù hợp và hiệu quả có thể giúp tối ưu hóa hoạt động của các hệ thống sản xuất. Tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời giảm thiểu chi phí và sự cố trong quá trình sản xuất.

Các thiết bị điện công nghiệp phổ biến năm 2024

  • Biến tần: được sử dụng để điều khiển tốc độ động cơ. Tăng hiệu quả sản xuất và giảm tiêu thụ năng lượng.
  • PLC (Programmable Logic Controller): Là bộ điều khiển được sử dụng trong sản xuất. Chức năng để thực hiện các chương trình kiểm soát tự động. Giúp cải thiện hiệu quả và độ chính xác của quá trình sản xuất.
  • Cảm biến: Giúp đo lường các thông số như nhiệt độ, áp suất, độ ẩm để giám sát quá trình sản xuất.
  • Máy ngắt mạch: đảm bảo an toàn cho hệ thống điện bằng cách ngắt kết nối khi có sự cố.
  • Bộ điều khiển đa tần số: Giúp tăng hiệu quả sản xuất nhờ điều chỉnh tần số và áp suất của động cơ.
  • Đèn LED công nghiệp: Là giải pháp chiếu sáng tiết kiệm năng lượng, bền bỉ hơn so với đèn huỳnh quang.
  • Công tắc tự động: Kiểm soát việc bật tắt thiết bị hoặc hệ thống, giúp tiết kiệm điện năng và đảm bảo an toàn.

5 Lưu ý khi mua thiết bị điện công nghiệp

  • Chất lượng sản phẩm: Để đảm bảo an toàn trong quá trình sử dụng và độ bền của sản phẩm. Bạn nên chọn các thiết bị điện công nghiệp được sản xuất từ các nhà sản xuất đáng tin cậy.
  • Công nghệ sử dụng: Công nghệ đang được sử dụng trong thiết bị điện công nghiệp là yếu tố cần quan tâm. Các thiết bị sử dụng công nghệ tiên tiến sẽ giúp cải thiện hiệu suất và tăng tính năng động của hệ thống điện.
  • Giá cả: Giá cả của thiết bị điện công nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng cần cân nhắc. Bạn nên chọn các thiết bị có giá cả hợp lý, phù hợp với ngân sách của mình.
  • Tính năng của sản phẩm: Mỗi loại thiết bị điện công nghiệp đều có các tính năng riêng. Bạn cần xác định rõ nhu cầu sử dụng của mình và chọn sản phẩm có các tính năng phù hợp.
  • Hậu mãi và bảo hành: Hậu mãi và bảo hành của sản phẩm là yếu tố quan trọng giúp bạn có thể yên tâm sử dụng sản phẩm trong thời gian dài. Bạn nên chọn các nhà cung cấp có chế độ hậu mãi và bảo hành tốt.
2024-01-25 / by / in
Phân loại Thiết bị điện công nghiệp theo công năng sử dụng

Vật tư điện bao gồm thiết bị điện công nghiệp, thiết bị điện nước, thiết bị điện dân dụng,…. là những vật tư không thể thiếu trong quá trình thi công nhà và các công trình lớn.

Thiết bị ngành điện giúp truyền tải điện năng một cách an toàn cho thiết bị gia dụng, máy móc, hệ thống bao gồm công tắc, dây dẫn, cầu chỉ, tủ điện, công tơ điện, cầu dao, ống luồng dây,….

PHÂN LOẠI THIẾT BỊ ĐIỆN THEO CÔNG NĂNG SỬ DỤNG

1. Thiết bị điện công nghiệp

Thiết bị điện công nghiệp là những thiết bị được sử dụng trong ngành công nghiệp với công suất lớn và được sử dụng với nguồn năng lượng lớn.

Các thiết bị điện công nghiệp cụ thể như: Thiết bị Relay thông dụng, các thiết bị bù công suất phản kháng, thiết bị tự động, các thiết bị cảm biến, thiết bị biến dòng điện, các thiết bị phụ kiện tủ điện,…

Các thiết bị điện công nghiệp được sử dụng để phục vụ chủ yếu cho các nhà máy, xí nghiệp;… Thiết bị điện công nghiệp hỗ trợ cho quá trình sản xuất được diễn ra hiệu quả hơn như hút bụi, lọc không khí, điều hòa, thông gió, điện nước, máy móc hoạt động theo dây chuyền,…
Các thiết bị điện công nghiệp chất lượng cao sẽ giúp năng suất làm việc tăng cao, sản lượng doanh nghiệp tăng cao, giảm bớt chi phí, giảm bớt sức lao động của con người.

Chính vì thế nên giá thành sản phẩm của doanh nghiệp tạo ra sẽ giảm và thu hút được nhiều khách hàng hơn.

2. Thiết bị điện dân dụng

Thiết bị điện dân dụng được sử dụng để vận hành máy móc tự động hóa, các thiết bị điện gia dụng được ứng dụng vô cùng rộng rãi và phổ biến trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Các thiết bị điện dân dụng: Rắc cắm, máy sấy tóc, đèn chiếu sáng, cáp điện, dây điện, công tắc, ổ cắm,… đều được gọi là thiết bị dân dụng.

Các thiết bị điện dân dụng được sử dụng dụng để đáp ứng tốt những tiện ích của con người trong cuộc sống của họ.

3. Thiết bị điện nước
Điện và nước là 2 nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hiện nay nên sử dụng các thiết bị điện nước chất lượng cao, đảm bảo an toàn.

Thiết bị điện nước được sử dụng trong các công trình xây dựng với quy mô lớn như trung tâm thương mại, bệnh viện, trường học, nhà máy,… để đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt và sản xuất.

 

2024-01-04 / by / in
Thực Trạng ngành Sản xuất Thiết Bị Điện Tại Việt Nam

Một trong những ngành then chốt trong việc thực hiện điện khí hóa nói riêng và công nghiệp hóa nói chung chính là ngành sản xuất thiết bị điện. Nó góp phần trong hệ thống truyền tải và phân phối điện đến người sử dụng và sản xuất. Vậy bạn đã biết sản xuất thiết bị điện là sản xuất những thiết bị gì chưa? Hãy tìm hiểu qua nội dung bài viết sau của YP.VN: 

1. Thiết bị điện là gì?

Thiết bị điện công nghiệp là những thiết bị đóng các vai trò như: Điều khiển, đóng cắt, bảo vệ. Điều chỉnh, chuyển đổi, khống chế. Kiểm tra tất cả các hoạt động của lưới điện, và các loại máy, thiết bị điện. Bên cạnh đó thiết bị điện còn được sử dụng để kiểm tra. Điều chỉnh, biến đổi, đo lường, nhiều quá trình liên quan đến ngành điện.

Thiết bị điện góp mặt trong hầu hết tất cả các ngành sản xuất hiện nay. Như máy điện, trạm biến áp, hệ thống truyền tải, máy móc, động cơ trong nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, xây dựng, sản xuất…

2. Các yêu cầu cơ bản đối với thiết bị điện

Thiết bị điện công nghiệp đạt chuẩn phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau đây:

  • Khi làm việc với các tham số định mức phải đảm bảo được tuổi thọ thiết kế.
  • Khi làm việc bình thường, thiết bị điện phải đảm bảo sự ổn định lực điện động và ổn định nhiệt độ.
  • Vật liệu cách điện phải chịu được quá áp cho phép
  • Độ tin cậy của thiết bị điện phải được đảm bảo. Đồng thời yêu cầu tính chính xác, gọn nhẹ. Dễ dàng lắp đặt luôn được đề cao. Dễ dàng kiểm tra và sửa chữa khi cần thiết.
  • Đảm bảo việc làm việc ổn định dưới môi trường và khí hậu được thiết kế.

3. Thực trạng ngành sản xuất thiết bị điện tại Việt Nam

Hiện tại ngành sản xuất thiết bị điện tại Việt Nam đang phát triển. Tuy nhiên hầu hết sản phẩm sản xuất tại Việt Nam chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Hãy điểm qua một số khó khăn mà ngành sản xuất thiết bị điện gặp phải:

  • Tính cạnh tranh cao và dễ bị lép vế trước các sản phẩm của các nước khác. Như Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản….
  • Các sản phẩm thiết bị điện của nước ngoài có sự đa dạng và phong phú hơn các sản phẩm nội địa. Bên cạnh đó giá thành đôi khi rẻ hơn rất nhiều. Đó là lý do người tiêu dùng thường có xu hướng lựa chọn hàng ngoại nhiều hơn các sản phẩm trong nước.

  • Nhưng có thể thấy rằng chất lượng và sự đa dạng của các sản phẩm và thiết bị điện được sản xuất trong nước ngày càng được nâng cao. Nhiều thương hiệu nổi tiếng trong nước cũng dần có được chỗ đứng trong lòng người tiêu dùng Điện Quang, Trần Phú….
  • Cùng với chiến lược phù hợp và tâm lý người Việt dùng hàng Việt. Thiết bị điện sản xuất tại Việt Nam đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngành điện. Ngày càng không thua kém so với hàng nhập khẩu từ nước khác.
  • Việt Nam đã sản xuất được các thiết bị điện yêu cầu kỹ thuật cao. Như cáp chịu nhiệt, chống cháy, chống dầu… Các thiết bị này đã được các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn và sử dụng.

Với kế hoạch đề ra của nhiều hội nghị thì đến năm 2025. Các sản phẩm thiết bị điện công nghiệp trong nước có khả năng cung cấp trọn bộ thiết bị điện cho các công trình đường dây và trạm biến áp…. Đây cũng là một cơ hội lớn cho các công ty, doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện trong nước.

 

Nguồn: huynhlai.vn

2023-12-26 / by / in
Thực trạng thị trường ngành sản xuất thiết bị điện công nghiệp tại Việt Nam

Trong quá trình Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa như hiện nay, ngành công nghiệp thiết bị điện đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Với tiềm năng tiêu thụ rộng lớn trong và ngoài nước, ngành này đang có lộ trình và cơ hội lớn để phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội vẫn còn đó những khó khăn cơ bản trước mắt chưa thể vượt qua. Vậy thị trường ngành sản xuất thiết bị điện đang có những khó khăn gì? Các doanh nghiệp đã làm gì để vượt qua được những khó khăn đó? Và cơ hội nào đang chờ đợi các nhà đầu tư? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

Khó khăn mà ngành đang gặp phải

Hầu hết các sản phẩm thiết bị điện công nghiệp được sản xuất tại Việt Nam đều phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm có xuất xứ từ các nước láng giềng như Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia,… Các doanh nghiệp sản xuất trong nước gần như lép vế trước những sản phẩm từ Trung Quốc trong những buổi đấu thầu cung cấp thiết bị cho các công trình điện.

Bên cạnh đó, tại thị trường điện gia dụng, ước tính mỗi năm sử dụng hàng trăm tỉ đồng cho nhu cầu mua sắm thiết bị điện, nhưng chủ yếu chỉ đến từ những thương hiệu ngoại nhập còn doanh số đến từ một số thương hiệu trong nước như Điện Quang, Trần Phú,… vẫn chưa nhiều. Lý do dễ hiểu cho vấn đề này chính là vì các sản phẩm ngoại nhập có sự đa dạng và phong phú về chủng loại, một số khác thì có giá thành rẻ hơn cả sản phẩm trong nước.

Tuy nhiên, không lùi bước trước những khó khăn từ các sản phẩm ngoại nhập, thị trường ngành sản xuất thiết bị điện tại Việt Nam đã vượt qua và có nhiều cải thiện đáng kể.

Sau những khó khăn đã vượt qua, sẽ có những cơ hội lớn nào dành cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thiết bị điện?

Với thị trường trong nước, theo quy định Số 48/2008/QĐ-BCT của Bộ Công Thương, trong giai đoạn từ năm 2015 – 2025, ngành sản xuất thiết bị điện công nghiệp sẽ phải đầu tư và phát triển để đáp ứng 70% nhu cầu trong nước về những thiết bị đường dây, trạm biến áp; 55% nhu cầu về động cơ điện và một số loại máy phát điện thông dụng. Cũng theo kế hoạch, vào năm 2025, các sản phẩm trong nước có thể cung cấp trọn bộ thiết bị điện cho các công trình đường dây điện, trạm biến áp,… Với các kế hoạch mà Chính phủ đã đề xuất ở trên, đây quả thật là một cơ hội lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành sản xuất thiết bị điện.

Hơn thế nữa, một thị trường tiềm năng khác dành cho các doanh nghiệp trong ngành chính là mạng lưới điện quốc gia ở những vùng sâu, vùng xa, hải đảo,…Ở những khu vực này sẽ khai thác tối đa lợi thế điều kiện tự nhiên để sản xuất điện. Đây là thị trường tiềm năng mà các đơn vị sản xuất thiết bị điện trong nước nên khai thác.

Đối với thị trường xuất khẩu, Lào và Campuchia là 2 đích đến tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam vì họ đang đẩy mạnh tỷ lệ hộ được cấp điện trong cả nước nhưng khả năng trong nước lại không đủ cung cấp.

Với những khó khăn đã vượt qua, cùng những cơ hội thị trường tiềm năng trước mắt, chúng tôi tin chắc rằng ngành gia công và sản xuất thiết bị điện nước ta sẽ còn phát triển hơn nữa.

2023-11-30 / by / in
Nhóm ngành sản xuất thiết bị điện công nghiệp gồm những hoạt động gì?

NGÀNH SẢN XUẤT THIẾT BỊ ĐIỆN CÔNG NGHIỆP

Ngành này gồm: Sản xuất các sản phẩm sản xuất, phân phối và sử dụng năng lượng điện. Ngành này cũng gồm sản xuất đèn điện, thiết bị phát tín hiệu và các thiết bị điện gia đình.

Loại trừ: Sản xuất sản phẩm điện tử được phân vào ngành 26 (Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học).

Sản xuất mô tơ, máy phát, biến thế điện, thiết bị phân phối và điều khiển điện

Nhóm này gồm: Sản xuất các máy biến thế điện, phân phối và các máy biến thế chuyên dùng; máy phát điện, tập trung; bộ chuyển mạch và tổng đài; rơle và điều khiển công nghiệp. Thiết bị điện công nghiệp trong nhóm này phân theo mức độ điện trở.

Loại trừ:

– Sản xuất máy chuyển và biến đổi loại điện được phân vào nhóm 26100 (Sản xuất linh kiện điện tử);

– Sản xuất dụng cụ điều khiển môi trường và thiết bị kiểm soát các quy trình công nghiệp, được phân vào nhóm 26510 (Sản xuất thiết bị đo lường, kiểm tra, định hướng và điều khiển);

– Sản xuất bộ chuyển mạch điện, như nút bấm, khoá chuyển được phân vào nhóm 27330 (Sản xuất thiết bị dây dẫn điện các loại);

– Sản xuất thiết bị hàn điện được phân vào nhóm 27900 (Sản xuất thiết bị điện khác);

– Sản xuất máy đổi điện, chuyển dòng điện được phân vào nhóm 27900 (Sản xuất thiết bị điện khác);

– Sản xuất bộ phát điện tubin được phân vào nhóm 28110 (Sản xuất động cơ, tua bin (trừ động cơ máy bay, ô tô, mô tô và xe máy));

– Sản xuất máy khởi động và máy phát điện cho cơ khí cháy nội sinh được phân vào nhóm 29300 (Sản xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ khác).

Sản xuất dây và thiết bị dây dẫn

Nhóm này gồm: Sản xuất thiết bị điện dây dẫn mang điện và thiết bị dây dẫn không mang điện cho mạch điện dẫn bằng mọi chất liệu.

Nhóm này cũng gồm: Sản xuất dây cách điện và sợi cáp quang học.

Sản xuất dây cáp, sợi cáp quang học

Nhóm này gồm: Sản xuất sợi cáp quang truyền số liệu hoặc truyền hình ảnh động.

Loại trừ:

– Sản xuất sợi thủy tinh được phân vào nhóm 23103 (Sản xuất sợi thủy tinh và sản phẩm từ sợi thủy tinh);

– Sản xuất bộ sợi cáp quang có thiết bị nối hoặc có gắn các bộ phận, tùy thuộc vào ứng dụng được phân vào nhóm 26100 (Sản xuất linh kiện điện tử).

Sản xuất dây, cáp điện và điện tử khác

Nhóm này gồm: Sản xuất dây và cáp sợi tách biệt từ sắt, đồng, nhôm.

Loại trừ:

– Sản xuất (kéo) dây được phân vào nhóm 24100 (Sản xuất sắt, thép, gang), 24202 (Sản xuất kim loại màu);

– Sản xuất cáp máy tính, cáp máy in, cáp USB, và các hệ thống cáp tương tự được phân vào nhóm 26100 (Sản xuất linh kiện điện tử);

– Sản xuất bộ dây cáp, vỏ bọc dây điện và các bộ dây cáp tương tự hoặc các linh kiện dùng trong các ứng dụng tự động được phân vào nhóm 29300 (Sản xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ khác).

Sản xuất thiết bị điện chiếu sáng

Nhóm này gồm:

Sản xuất đèn tròn hoặc đèn ống, các bộ phận hoặc linh kiện (trừ những chỗ thủy tinh rỗng của đèn ống); các vật điện chiếu sáng (trừ xe điện); thiết bị chiếu sáng không dùng điện; chụp đèn (trừ loại bằng thủy tinh và nhựa); linh kiện các vật chiếu sáng (trừ dây dẫn mang điện). Sản xuất thiết bị chiếu sáng không dùng điện cũng thuộc nhóm này.

Cụ thể:

– Sản xuất vật phóng điện, đèn nóng sáng, đèn huỳnh quang, đèn tia cực tím, đèn dùng hồng ngoại,… đèn, thiết bị phụ và bóng đèn;

– Sản xuất thiết bị chiếu sáng treo cố định trên trần nhà;

– Sản xuất đèn treo nhiều ngọn;

– Sản xuất đèn bàn (đồ chiếu sáng cố định);

– Sản xuất thiết bị chăng đèn trên cây Nôel;

– Sản xuất lò sưởi điện;

– Sản xuất đèn flash;

– Sản xuất đèn điện diệt côn trùng;

– Sản xuất đèn lồng (cacbua, điện, gas, dầu lửa);

– Sản xuất thiết bị chiếu sáng cho các phương tiện giao thông (trừ xe cộ);

– Sản xuất thiết bị chiếu sáng cố định trên đường phố (trừ đèn giao thông);

– Sản xuất thiết bị chiếu sáng cho xe cộ (ví dụ cho xe máy, máy bay, tàu thủy).

Loại trừ:

– Sản xuất đồ thủy tinh và bộ phận bằng thủy tinh dùng cho đồ chiếu sáng được phân vào nhóm 2310 (Sản xuất thủy tinh và sản phẩm từ thủy tinh);

– Sản xuất thiết bị dây dẫn mang điện dùng cho đồ chiếu sáng cố định được phân vào nhóm 27330 (Sản xuất thiết bị dây dẫn điện các loại);

– Sản xuất quạt trần hoặc quạt phòng tắm có gắn thiết bị chiếu sáng cố định được phân vào nhóm 27500 (Sản xuất đồ điện dân dụng);

– Sản xuất thiết bị dấu hiệu bằng điện như đèn giao thông và thiết bị dấu hiệu cho người đi trên đường được phân vào nhóm 27900 (Sản xuất thiết bị điện khác).

Sản xuất đồ điện dân dụng

Nhóm này gồm:

Sản xuất các thiết bị điện nhỏ và đồ gia dụng bằng điện, máy hút bụi dùng trong gia đình, quạt gia dụng, máy giặt gia dụng, máy lau sàn điện gia dụng, thiết bị là, thiết bị nấu ăn gia dụng, tủ lạnh gia dụng, tủ ướp lạnh, các thiết bị gia dụng chính bằng điện hoặc không bằng điện, như máy rửa bát, bình đun nước, máy nghiền rác. Nhóm này bao gồm các thiết bị có điện, gas hoặc các nguồn năng lượng khác.

Cụ thể:

– Sản xuất các thiết bị điện gia dụng như: Tủ lạnh, tủ ướp lạnh, máy rửa bát, máy giặt và sấy khô, máy hút bụi, máy lau sàn, máy nghiền rác, máy xay, nghiền, ép hoa quả, mở hộp, máy cạo râu điện, đánh răng điện, và các thiết bị dùng cho cá nhân bằng điện khác, máy mài dao, quạt thông gió;

– Sản xuất các thiết bị gia dụng nhiệt điện như: Máy đun nước bằng điện, chăn điện, máy sấy, lược, bàn chải, cuộn tóc bằng điện, bàn là điện, máy sưởi và quạt gia dụng, lò điện, lò vi sóng, bếp điện, lò nướng bánh, máy pha cà phê, chảo rán, quay, nướng, hấp, điện trở,…

– Sản xuất thiết bị nấu và làm nóng gia dụng không dùng điện như:

+ Máy sưởi không dùng điện, vỉ nướng, lò, ấm đun nước, thiết bị nấu ăn, sấy bát.

Loại trừ:

– Sản xuất tủ lạnh và máy ướp lạnh dùng cho thương mại và công nghiệp, điều hoà nhiệt độ phòng, quạt treo, lò sưởi vĩnh cửu, quạt thông hơi, hút gió, đồ đun nấu, máy giặt thương mại, giặt khô, máy hút bụi thương mại công nghiệp và trong công sở được phân vào ngành 28 (Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu);

– Sản xuất máy khâu gia dụng được phân vào nhóm 28260 (Sản xuất máy cho ngành dệt, may và da);

– Lắp đặt hệ thống máy hút bụi trung tâm được phân vào nhóm 43290 (Lắp đặt hệ thống xây dựng khác).

Sản xuất thiết bị điện khác

Nhóm này gồm:

Sản xuất các thiết bị điện hỗn hợp khác không phải là máy phát, mô tơ hay máy truyền tải điện năng, pin, ắc quy, dây dẫn, thiết bị có dây dẫn, thiết bị chiếu sáng và thiết bị điện gia dụng.

Cụ thể:

– Sản xuất sạc ăcquy ở trạng thái rắn;

– Sản xuất thiết bị đóng mở cửa bằng điện;

– Sản xuất chuông điện;

– Sản xuất dây phụ trợ được làm từ dây cách điện;

– Sản xuất máy làm sạch siêu âm (trừ thí nghiệm và nha khoa);

– Sản xuất máy đổi điện trạng thái rắn, máy đổi điện, pin nhiên liệu, cung cấp năng lượng điều chỉnh và không điều chỉnh, cung cấp năng lượng liên tục;

– Sản xuất máy cung cấp năng lượng liên tục (UPS);

– Sản xuất máy triệt sự tràn;

– Sản xuất dây dụng cụ, dây phụ trợ và các bộ dây điện khác với dây và kết nối cách điện;

– Sản xuất điện cực cacbon và graphit, kết nối, các sản phẩm cacbon và graphit điện khác;

– Sản xuất máy thực hành gia tốc;

– Sản xuất tụ điện, điện trở, và các thiết bị tương tự, máy gia tốc;

– Sản xuất súng cầm tay hàn sắt;

– Sản xuất nam châm điện;

– Sản xuất còi báo động;

– Sản xuất bảng ghi tỉ số điện tử;

– Sản xuất các thiết bị tín hiệu như đèn giao thông và thiết bị dấu hiệu bộ hành;

– Sản xuất vật cách điện (trừ bằng thủy tinh và sứ), dây cáp kim loại cơ bản;

– Sản xuất các thiết bị và cấu kiện điện dùng trong các động cơ đốt trong;

– Sản xuất các thiết bị hàn điện, bao gồm máy hàn thép cầm tay.

Loại trừ:

– Sản xuất vật cách điện bằng sứ được phân vào nhóm 23930 (Sản xuất sản phẩm gốm sứ khác);

– Sản xuất sợi và các sản phẩm cácbon hoặc graphit được phân vào nhóm 23990 (Sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác chưa được phân vào đâu);

– Sản xuất máy chỉnh lưu loại linh kiện điện, mạch điện chỉnh điện áp, mạch điện đổi năng lượng, tụ điện, điện trở, và các thiết bị khác được phân vào nhóm 26100 (Sản xuất linh kiện điện tử);

– Sản xuất máy biến thế, môtơ, công tắc, rơle, điều khiển công nghiệp được phân vào nhóm 2710 (Sản xuất mô tơ, máy phát, biến thế điện, thiết bị phân phối và điều khiển điện);

– Sản xuất ăcquy được phân vào nhóm 27200 (Sản xuất pin và ắc quy);

– Sản xuất dây truyền thông và truyền tải năng lượng, thiết bị dây dẫn mang điện và không mang điện được phân vào nhóm 27330 (Sản xuất thiết bị dây dẫn điện các loại);

– Sản xuất thiết bị chiếu sáng được phân vào nhóm 27400 (Sản xuất thiết bị chiếu sáng);

– Sản xuất thiết bị gia dụng được phân vào nhóm 27500 (Sản xuất đồ điện dân dụng);

– Sản xuất thiết bị hàn không dùng điện được phân vào nhóm 28190 (Sản xuất máy thông dụng khác);

– Sản xuất miếng đệm cácbon và graphit được phân vào nhóm 28190 (Sản xuất máy thông dụng khác);

– Sản xuất thiết bị điện dùng cho mô tô như máy phát, máy biến thế, ổ cắm, hệ thống cửa sổ và cửa ra vào bằng điện, máy điều chỉnh điện thế được phân vào nhóm 29300 (Sản xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ khác);

– Sản xuất các thiết bị báo hiệu cơ khí hay điện cơ, các thiết bị kiểm soát giao thông và an toàn cho đường sắt, tàu điện, thuyền bè, đường bộ, thiết bị dừng đỗ, sân bay được phân vào nhóm 30200 (Sản xuất đầu máy xe lửa, xe điện và toa xe).

2023-11-17 / by / in
Thiết bị điện công nghiệp là gì? Khái niệm, vai trò và ứng dụng của Thiết bị điện công nghiệp

Trên thực tế hàng ngày hàng giờ chúng ta đều đang sử dụng đa dạng các thiết bị điện công nghiệp nhưng không phải ai cũng có cái nhìn chính xác xem chúng được định nghĩa như thế nào, đặc điểm, vai trò và ứng dụng ra sao? Hãy cùng YP.VN tìm hiểu rõ hơn qua bài viết sau đây nhé

Trước tiên ta cùng nhắc qua về ngành thiết bị điện công nghiệp. Điện công nghiệp là ngành đóng vai trò vô cùng thiết yếu trong cuộc sống, có nhiệm vụ quan trọng trong việc đảm bảo sự vận hành ổn định của nguồn điện, đồng thời phát triển hệ thống truyền tải điện an toàn, hợp lí và hiệu quả phục vụ hoạt động sản xuất công, nông nghiệp, thương mại dịch vụ và dân sinh.

Thiết bị điện công nghiệp là một phần không thể thiếu trong ngành thiết bị điện công nghiệp. Thiết bị điện công nghiệp được hiểu là các loại thiết bị thường sử dụng trong công nghiệp, làm các nhiệm vụ: đóng cắt, điều khiển, điều chỉnh, bảo vệ, chuyển đổi, khống chế,… và kiểm tra mọi sự hoạt động của hệ thống lưới điện và các loại máy điện.

Ngoài ra thiết bị điện công nghiệp còn được sử dụng để kiểm tra, điều chỉnh và biến đổi đo lường nhiều quá trình không điện khác trong hoạt động sản xuất tại các khu công nghiệp.

Đặc điểm thiết bị điện công nghiệp

Thiết bị điện công nghiệp được sử dụng rất phổ biến trong các lĩnh vực sản xuất, từ các nhà máy điện, trạm biến áp, hệ thống truyền tải điện, đến các máy phát và động cơ điện, đặc biệt là trong các xí nghiệp.

Thiết bị điện công nghiệp sử dụng ở nước ta hiện nay được nhập từ rất nhiều nước, rất nhiều hãng thiết bị công nghiệp khác nhau và đủ các thế hệ. Chính vì vậy các quy cách không thống nhất, gây khó khăn cho vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị điện công nghiệp. Do quá nhiều chủng loại thiết bị điện công nghiệp với các tiêu chuẩn kĩ thuật rất khác nhau, nên thiết bị điện công nghiệp đôi khi không sử dụng hết tính năng và công suất hoặc sử dụng không đúng gây hư hỏng nhiều, làm thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế.

Chính vì vậy việc đào tạo và cập nhật nâng cao kiến thức, đặc biệt là kiến thức của các thiết bị điện công nghiệp mới cho các cán bộ kĩ thuật quản lí và vận hành là một đòi hỏi rất cấp thiết.

Vai trò thiết bị điện công nghiệp

Thiết bị điện công nghiệp mang đến những ưu điểm nổi bật đặc biệt trong ngành sản xuất:

  • Cải tiến kỹ thuật sử dụng, cải tiến năng suất thiết bị công nghiệp giúp con người thực hiện các quy trình liên hoàn.
  • Tiết kiệm sức lao động.
  • Giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng chất lượng lên cao.
  • Đem đến cái nhìn mới của con người về máy móc, năng động hơn, tiết kiệm thời gian hơn.
  • Thiết bị công nghiệp giúp dây chuyền sản xuất chuyên nghiệp hơn.
  • Giá thiết bị công nghiệp phù hợp với từng chuỗi sản xuất.
  • Có thể thực hiện những điều con người không thể làm thủ công như hút bụi, điều hòa, giảm độ ẩm,…

Ứng dụng thiết bị điện công nghiệp

Một số ứng dụng các thiết bị điện công nghiệp ta có thể kế đến như:

  • Dây chuyền sản xuất, thiết bị công nghiệp được sử dụng trong hầu hết các nhà máy, từ nhà máy bia rượu, nhà máy thực phẩm bao bì, nhà máy sản xuất linh kiện điện tử,…
  • Các hệ thống thiết bị công nghiệp hỗ trợ các công cụ khác làm việc như điều hòa, thông gió, hút bụi, cân bằng các thành phần trong không khí.
  • Camera giám sát, hệ thống điện nước và phòng cháy chữa cháy, máy bơm, máy dệt, các loại máy tùy theo đặc điểm của thiết bị công nghiệp đó.
  • Chúng còn được sử dụng rộng rãi cho ngành nông lâm nghiệp, chế biến thủy sản.
2023-09-10 / by / in
Thiết bị điện công nghiệp được xem như là “cánh tay nối dài” của hệ thống điện công nghiệp

Thiết bị điện công nghiệp từ lâu đã được xem như là “cánh tay nối dài” của hệ thống điện công nghiệp, giúp đảm bảo nguồn điện vận hành ổn định. Đồng thời phát triển hệ thống truyền tải an toàn, hợp lý và hiệu quả cho hoạt động sản xuất.

Hệ thống điện công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc vận hành quy trình sản xuất tại hầu hết các nhà máy xí nghiệp. Nhu cầu sản xuất tăng cao kéo theo nhu cầu về các vật tư thiết bị điện công nghiệp cũng tăng theo.

Phân loại thiết bị điện công nghiệp

Thiết bị điện công nghiệp có nhiệm vụ thực hiện các nhiệm vụ chính như: đóng cắt, điều khiển, điều chỉnh, bảo vệ, chuyển đổi, điều khiển và kiểm tra mọi hoạt động của hệ thống lưới điện và các động cơ.

Ngoài ra, thiết bị điện công nghiệp còn được dùng để kiểm tra, hiệu chỉnh, chuyển đổi kết quả đo của nhiều quá trình non-crazy khác trong hoạt động sản xuất khu công nghiệp. Hệ thống truyền tải và phân phối điện hoàn chỉnh bao gồm 3 phần:

  • Điện cao thế (từ các đường dây Bắc – Nam của các nhà máy điện) có nhiệm vụ phân phối điện năng trên cả nước.
  • Cung cấp nhu cầu điện trung thế và trung thế cho khu vực.
  • Nguồn điện hạ thế đáp ứng nhu cầu công nghiệp và dân dụng.

1. Thiết bị cao áp (High voltage equipment)

– Máy cắt cao áp từ 72.5kV đến 800kV là thành phần cốt lõi của hệ thống/ tủ điện cao áp. Đây là thiết bị điện công nghiệp được dùng để tắt, cách ly và bảo vệ toàn bộ linh kiện phía sau, với độ tin cậy cao. Các bộ ngắt mạch (Cầu dao) cơ bản từ 3AP1 đến 3AP5, 3AQ và 3AT được sử dụng nhằm đáp ứng các yêu cầu cao hơn.

– Máy biến dòng (Current Transformer-CT) được sử dụng để đo lường và bảo vệ hệ thống điện áp cao.

– Bộ ngắt mạch ngắt kết nối (The Disconnecting Circuit-Breaker-DCB) được phát triển dựa trên tiêu chuẩn của bộ ngắt mạch 3AP. DCB có hai chức năng là ngắt mạch, đồng thời cách ly khoảng cách trong không khí để bảo vệ trạng thái của mạch điện trong lưới điện.

2. Thiết bị điện trung thế

Thiết bị điện trung thế là thiết bị mạng có điện áp từ 1kV đến 52kV, được sử dụng chủ yếu trong mạng công nghiệp và được sử dụng để phân phối cho các hệ thống cơ bản.

Thiết bị trung thế gồm 02 loại:

Thiết bị đóng cắt (Switching device)

Có chức năng cắt dòng điện trong trường hợp ngắn mạch và quá tải, để bảo vệ động cơ của thiết bị điện không bị hư hỏng do tai nạn.

Cầu dao trung thế (Medium voltage circuit breakers): Có chức năng chung là đấu nối, ngắt mạch điện bảo vệ các thiết bị phía sau. Cầu dao trung thế được chia làm hai loại: Dùng để chiếu sáng trong nhà và ngoài trời đảm bảo nguồn điện ổn định. Danh mục máy cắt trung thế nằm trong dải 3AH.

Recloser: Máy cắt được trang bị thêm một máy biến áp đo lường và bộ điều khiển. Với chức năng này, recloser được sử dụng đặc biệt cho đường dây trên không. Thư mục recloser thuộc phạm vi của 3AD.

Công tắc tơ trung thế (Medium-voltage contactor): Là công tắc được sử dụng trong hầu hết các mạch công nghiệp có giới hạn truyền tải năng lượng. Khi tỷ lệ chuyển mạch cao, thiết bị có thể được sử dụng để kết nối và ngắt mạch điện từ xa hoặc bằng tay. Công tắc tơ trung thế thường được sử dụng với cầu chì trung thế. Danh sách công tắc tơ thuộc phạm vi 3TL.

Bộ cách ly (Isolator): Thiết bị này được sử dụng khi có nhu cầu tách hoàn toàn nguồn điện với một thiết bị duy nhất.

Thiết bị không đóng cắt

Dùng để đo lường và bảo vệ hệ thống trung thế, bao gồm:

  • Bộ chống sét / giới hạn
  • Cầu chì trung thế
  • Máy biến áp đo lường và máy biến áp bảo vệ

3. Thiết bị điện hạ thế 

Thiết bị điện hạ thế được sử dụng trong lưới điện dưới 1kV, phục vụ cho các lĩnh vực sản xuất và các ngành công nghiệp. Có thể kể đến các dòng thiết bị điện hạ thế, bao gồm:

Thiết bị đóng cắt:

  • ACB – Máy cắt không khí: 3WL series, 3WT series
  • MCCB – Block Aptomat và MCB – Aptomat Shell: 3VA, 3VL, 5SY, 5SL serie
  • Contactor 3RT series, 3TF series: Trong công nghiệp, contactor được dùng để điều khiển hoạt động của các động cơ hay thiết bị điện công nghiệp nhằm đảm bảo an toàn khi vận hành. Đây là giải pháp tự động hóa bằng phương pháp cơ điện, sử dụng đơn giản, độ ổn định cao và dễ sửa chữa.

Trình điều khiển thiết bị:

  • Thiết bị điều khiển tự động PLC: S7-1200. S7-300, S7-1500, S7-400
  • Màn hình HMI là thiết bị không thể thiếu giúp tự động hóa các quy trình, quy trình sản xuất phức tạp, đòi hỏi độ chính xác cao.

Cơ cấu truyền động:

  • Động cơ: có vai trò rất quan trọng trong hệ thống điện công nghiệp. Ước tính, thiết bị sẽ sử dụng khoảng 70% phụ tải điện trong công nghiệp, giúp chuyển hóa năng lượng điện thành cơ năng.
  • Biến tần: Tích hợp module giao tiếp dễ dàng hỗ trợ điều khiển và giám sát từ trung tâm, giúp tiết kiệm năng lượng đáng kể so với chạy động cơ trực tiếp.
  • Khởi động mềm trong tủ điều khiển có thể đáp ứng các ứng dụng tiêu chuẩn và cao cấp. Đây là một thiết bị lý tưởng để khởi động động cơ ba pha.
2023-09-09 / by / in
Khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Thiết bị điện công nghiệp

Đối với Nhà nước

Cơ chế, chính sách cho doanh nghiệp nói chung và ngành sản xuất thiết bị điện công nghiệp nói riêng cần được xây dựng theo hướng tạo điều kiện hỗ trợ tối đa và thuận lợi cho doanh nghiệp.

a. Về thu hút đầu tư:

Cần đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng tăng chế tài chuyển giao công nghệ từ các FIE cho các doanh nghiệp trong nước, đặt tiêu chuẩn nhằm đáp ứng các yêu cầu về tiêu hao năng lượng, môi trường và an ninh quốc gia của các dự án đầu tư. Khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư tài chính, chất xám vào sản xuất các phụ tùng thay thế cho các phụ tùng, linh kiện còn phải nhập ngoại của các nhà máy đã đi vào hoạt động hay đang có kế hoạch đầu tư.

b. Về nguồn nhân lực:

Cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo nhân lực, đồng thời theo đó kết hợp đẩy mạnh hoạt động đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.  Xây dựng và nâng cao hiệu quả, mức độ lan tỏa của các chương trình đào tạo phối hợp giữa công ty có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước. Khuyến khích thuê chuyên gia nước ngoài để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho các dự án sản xuất sản phẩm mới.

c. Về khoa học, công nghệ:

– Cần đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học – công nghệ, theo đó, đặc biệt quan tâm đến phát triển những mô hình về tổ chức trung gian, bởi mô hình này sẽ tạo nên cơ hội để nhà đầu tư tìm kiếm được các sáng chế, kết quả nghiên cứu có tiềm năng thương mại hóa trong mọi lĩnh vực để ứng dụng phục vụ cho mục đích phát triển. Cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị sản xuất và áp dụng mô hình quản lý sản xuất tiên tiến để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tài nguyên đầu vào, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

d. Về liên kết phát triển:

– Cần xây dựng các chương trình kết nối các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong nước thông qua việc tiếp tục nâng cao hiệu quả các chương trình kết nối như triển lãm, hội chợ, tổ chức các đoàn doanh nghiệp,…  qua đó, tạo được mạng lưới, hợp tác và liên kết kinh doanh, tập trung hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

e. Về tạo dựng năng lực cạnh tranh:

Cần tập trung ưu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đầu tư, sản xuất – kinh doanh và tích cực hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện các chương trình chuyển giao công nghệ, cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển nguồn nhân lực và phát triển thị trường.

Đối với doanh nghiệp

a. Xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp, qua đó cần đánh giá được thực trạng phát triển, phân tích các nhân tố ảnh hưởng, xác định tầm nhìn và các chiến lược thành phần như chiến lược sản phẩm; lựa chọn sản phẩm gì trong danh mục sản phẩm của doanh nghiệp thiết bị điện công nghiệp khi xuất khẩu sang thị trường của từng quốc gia. Trong chiến lược cần có những kế hoạch cụ thể về cấp độ chất lượng sản phẩm phải đạt được sau một thời gian nhất định. Chiến lược về thị trường, cần nghiên cứu rõ qui mô của từng thị trường, những đặc tính, quy định và các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật… đối với mặt hàng mà doanh nghiệp sẽ xuất khẩu sang thị trường đó. Từng bước tiến hành xây dựng mạng lưới phân phối sản phẩm tại nước ngoài để chủ động điều phối hàng hóa tại các thị trường lớn. Xây dựng mối quan hệ liên kết, hợp tác kinh doanh với nhà phân phối lớn, các hệ thống phân phối đại chúng ở mỗi thị trường.

b. Tập trung và đẩy mạnh liên doanh, liên kết với doanh nghiệp hỗ trợ, từng bước hình thành các cụm liên kết ngành, trong đó cần có sự hợp tác của nhiều bên, đặc biệt là sự tham gia của chính quyền địa phương, Phòng Thương mại và Công nghiệp.

c. Tham gia vào các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề để tận dụng sự hỗ trợ, cùng nhau kiểm soát thị trường, ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại, sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng, ngoài ra, sẽ tận dụng được các cơ hội hợp tác giữa các doanh nghiệp trong hiệp hội, học hỏi kinh nghiệm trong kinh doanh, trong quản lý.

d. Tăng cường liên kết, hợp tác theo chiều dọc lẫn chiều ngang giữa các doanh nghiệp để tận dụng nguồn lực của nhau và những ưu thế sẵn có của doanh nghiệp về nguồn vốn, quan hệ các đối tác trong và ngoài nước, kinh nghiệm quản lý điều hành.

e. Chú trọng đổi mới và hiện đại hóa công nghệ để tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, mặc dù đổi mới và hiện đại hóa công nghệ không phải dễ dàng đối với các doanh nghiệp bởi hầu hết các doanh nghiệp trong ngành có qui mô nhỏ và vừa nên thường không đủ vốn để đầu tư, hơn nữa một số doanh nghiệp thiết bị điện công nghiệp vẫn chưa thể đánh giá được tính hiệu quả của đầu tư, do đó không dám mạo hiểm. Tuy vậy, muốn hay không thì các doanh nghiệp cũng phải có lộ trình đổi mới, hiện đại hóa công nghệ để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người tiêu dùng.

f. Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, áp dụng tiêu chuẩn ISO và các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống này sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Trong giai đoạn hội nhập việc quản lý và sản xuất theo một tiêu chuẩn quốc tế phù hợp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tạo được thương hiệu nhất định, tăng tính cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước cũng như sự đánh giá tốt của đoi tác cũng như khách hàng.

2023-07-22 / by / in
Thực trạng về năng lực cạnh tranh và sản xuất thiết bị điện công nghiệp

Sản xuất thiết bị điện công nghiệp là một trong những ngành công nghiệp then chốt, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện điện khí hoá nói riêng và công nghiệp hoá nói chung. Ngoài việc cung cấp các trang thiết bị chủ yếu để phát triển lưới điện, các sản phẩm thiết bị kỹ thuật điện còn là những bộ phận quan trọng trong các thiết bị công nghệ, phục vụ hiện đại hoá công nghiệp, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và phục vụ công nghiệp tiêu dùng… Đồng thời thiết bị điện cũng đóng vai trò quan trọng trên hệ thống truyền tải và phân phối điện.

Trong giai đoạn vừa qua ngành đã phát huy tốt vai trò của mình, sản xuất nhiều sản phẩm, đáp ứng khá tốt nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập như hiện nay, ngành cần cố gắng nâng cao năng lực cạnh tranh để từng bước phát triển hơn nữa.

Thực trạng về sản xuất

Về giá trị sản xuất công nghiệp, sản xuất thiết bị điện công nghiệp được đánh giá là ngành phát triển khá tốt, năm 2015 chiếm khoảng 3% giá trị sản xuất công nghiệp của ngành công nghiệp và 3,3% ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Đến năm 2018 chiếm khoảng 3,03% ngành công nghiệp và 3,4% ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Tỷ lệ giá trị tăng thêm/giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt khoảng 32,7%, năm 2015 đạt khoảng 29,2%. Năm 2018 đạt khoảng 27,7%.

Về sản phẩm, doanh nghiệp trong ngành đã sản xuất được nhiều loại sản phẩm đạt chất lượng, tiêu chuẩn như: công tơ điện tử, hệ thống tích hợp điều khiển bảo vệ và tự động hóa trạm biến áp 110kV, 220kV, 500kV; các loại máy biến dòng điện áp lên đến 500kV; tủ điện trung thế điện áp từ 7,2 – 40,5kV và dòng điện từ 630-3000A. Đặc biệt, dây và cáp điện được đánh giá là lĩnh vực sản xuất tốt nhất của ngành.

Về cơ bản dây và cáp điện đáp ứng được khoảng 80% nhu cầu trong nước, sản phẩm nhập khẩu chủ yếu thuộc nhóm dây cáp điện phục vụ phát triển lưới điện cao thế 110-220-500 kV. Ngoài ra đối với nhóm các phụ kiện, trong nước đã sản xuất được tấm thảm cách điện, ủng cách điện và găng tay ở cấp trung áp đến 35kV. Các loại thiết bị điện sử dụng trong gia đình: như ổ điện, công tắc điện, phích cắm… đã được đáp ứng từ các doanh nghiệp sản xuất trong nước.

Thực trạng về năng lực cạnh tranh

+ Yếu tố về cầu: Nhu cầu về sản phẩm là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất thiết bị điện công nghiệp . Qua phân tích từng chỉ tiêu cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện được khảo sát đều cho rằng lượng cầu trong nước hiện nay ở mức trung bình khá, trong khi đó khả năng phát triển thị trường xuất khẩu vẫn gặp khó khăn do chất lượng, mẫu mã của sản phẩm còn hạn chế. Công tác quản lý chất lượng sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức. Kết quả các chỉ tiêu trong thang đo  yếu tố về cầu đạt từ 2,9 đến 3,3 điểm, kết quả đánh giá cho thấy năng lực ngành sản xuất thiết bị điện được khảo sát ở mức trung bình.

+ Yếu tố sản xuất: Doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện trong giai đoạn vừa qua đã có những đóng góp đáng kể trong việc chế tạo các thiết bị ngành điện, nhưng vẫn đang gặp không ít khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển như:  Thiếu vốn để đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ và đầu tư mới; lực lượng nghiên cứu phát triển, đội ngũ thiết kế còn thiếu kinh nghiệm; tổng công trình sư hoặc kỹ sư trưởng và lực lượng công nhân có tay nghề cao để tham gia chế tạo thiết bị cho nhà máy điện chưa nhiều. Về công nghệ, máy móc chỉ ở mức trung bình. Một số yếu tố khác như thí nghiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất và trước khi xuất xưởng nhiều nơi chưa được thực hiện đầy đủ. Kết quả các chỉ tiêu trong thang đo yếu tố sản xuất đạt từ 3,2 đến 3,6 điểm. Yếu tố sản xuất của ngành được đánh giá ở mức trung bình.

+ Chiến lược phát triển ngành: Chiến lược phát triển ngành có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh ngành. Những ngành có chiến lược và cơ cấu phù hợp với các định chế và chính sách của quốc gia, hoạt động trong môi trường có cạnh tranh trong nước tốt sẽ có tính cạnh tranh quốc tế mạnh hơn. Tuy nhiên, với ngành sản xuất thiết bị điện công nghiệp trong cả một giai đoạn dài từ năm 2006 đến nay chỉ có 2 nghiên cứu liên quan đến ngành là: (1) Quy hoạch phát triển ngành sản xuất thiết bị điện đến giai đoạn 2006-2015 và (2) Đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch phát triển ngành sản xuất thiết bị điện giai đoạn 2006-2015. Kết quả các chỉ tiêu trong thang đo chiến lược phát triển ngành đạt từ 2,1 đến 2,9 điểm. Đánh giá chung yếu tố chiến lược phát triển ngành được đánh giá ở mức thấp.

+ Vai trò của Nhà nước: Chủ trương của Nhà nước về phát triển ngành cơ khí trọng điểm, khuyến khích dùng hàng sản xuất trong nước… đã góp phần thúc đẩy sản xuất, giảm kim ngạch nhập khẩu thiết bị điện, tiết kiệm chi phí. Đồng thời, cơ chế, chính sách đã có nhiều thay đổi tích cực trong thúc đẩy phát triển ngành. Quyết định 186/QĐ-TTg nhấn mạnh: Xây dựng ngành sản xuất thiết bị điện hiện đại, đến năm 2020 đạt trình độ tiên tiến trong khu vực về công nghiệp thiết bị điện và vật liệu điện; đầu tư mới, đầu tư chiều sâu thiết bị điện với công nghệ tiên tiến để nhanh chóng nâng cao năng lực chế tạo thiết bị điện, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, đáp ứng phần lớn nhu cầu trong nước, thay thế các thiết bị nhập khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm ra thị trường khu vực và thế giới.

Bên cạnh đó, Quyết định số 10/2009/QĐ-TTg cũng đề cập đến cơ chế hỗ trợ các dự án đầu tư sản xuất thiết bị cho các nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện, các sản phẩm như máy biến áp từ 220 KVA trở lên, toàn bộ phần thiết bị trạm biến áp từ 220 KV trở lên, theo đó sản xuất những sản phẩm này được hưởng các chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư, kích cầu, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, về thuế phí… Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển ngành thiết bị điện. Kết quả các chỉ tiêu trong thang đo vai trò của Nhà nước đạt được khá cao từ 3,9 đến 4,5 điểm. Đánh giá chung tiêu chí này đạt ở mức khá.

+ Các ngành công nghiệp liên quan: Phân tích từng chỉ tiêu liên quan đến các ngành công nghiệp liên quan cho thấy yếu tố này còn yếu, thể hiện ở đánh giá chỉ tiêu bình quân lần lượt chỉ đạt từ 2,58  đến 3,21 điểm. Kết quả này cho thấy năng lực cung ứng vật tư, phục tùng, thiết bị phục vụ sản xuất của ngành thiết bị điện công nghiệp còn thấp và mối quan hệ giữa doanh nghiệp sản xuất với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ còn ở mức hạn chế.

+ Hỗ trợ từ chương trình KHCN quốc gia: Trong thời gian vừa qua Chính phủ và các bộ, ngành rất quan tâm đến và đẩy mạnh phát triển  các doanh nghiệp trong nước, cụ thể là các chương trình đổi mới công nghệ quốc gia và các kết quả nghiên cứu khoa học được ứng dụng vào thực tế đã có nhiều tiến bộ. Các doanh nghiệp ngành sản xuất thiết bị điện đã nhận thức được lợi ích của việc đầu tư công nghệ và cũng đã tiến hành đầu tư cải thiện chất lượng sản phẩm, do vậy nhiều doanh nghiệp đã chú trọng đổi mới công nghệ. Doanh nghiệp cũng đã từng bước tiếp cận được các cơ chế, chính sách hỗ trợ. Phân tích kết quả điều tra cho thấy các chỉ tiêu trong thang đo mức độ hiệu quả của chương trình đổi mới công nghệ đối với ngành ở mức trung bình theo đánh giá là đạt 3,86 điểm. Mức độ ứng dụng kết quả nghiên cứu R&D đối với ngành được đánh giá trong thang đo từ 3,78 đến 4,2 điểm. Kết quả này cho thấy các chương trình KHCN quốc gia từng bước đem lại hiệu quả và là nhân tố thúc đẩy ngành phát triển.

+ Nguồn nhân lực phát triển ngành: Chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển ngành lao động chưa cao. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý có trình độ cao còn ít. Tỷ lệ công nhân được đào tạo nghề một cách bài bản thấp. Đội ngũ cán bộ lâu năm trong nghề hiện nay đã lớn tuổi, tính thích nghi với cơ chế và công nghệ mới bị hạn chế. Đội ngũ cán bộ trẻ thay thế có tính năng động, sáng tạo, tuy nhiên lòng nhiệt tình, sự gắn bó tâm huyết với nghề với doanh nghiệp chưa cao. Kết quả các chỉ tiêu trong thang đo nguồn nhân lực đạt từ 2,9 đến 3,3 điểm. Theo kết quả đánh giá mức độ đáp ứng về nhân lực cho ngành về số lượng và chất lượng tốt được đánh giá ở mức trung bình.

Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của ngành: Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển và năng lực cạnh tranh của ngành thiết bị điện cho thấy năng lực cạnh tranh của ngành chỉ ở mức trung bình, điều này thể hiện qua các tiêu chí đánh giá thông qua các giá trị của các thang đo. Về quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, công nghệ còn lạc hậu, chủ yếu là gia công và lắp ráp. Về đổi mới, hiện đại hóa công nghệ, máy móc thiết bị ở mức độ chậm. Năng lực quản trị, điều hành còn hạn chế, kỹ năng quản trị doanh nghiệp chưa bài bản, khả năng lập kế hoạch, phương án, dự án sản xuất – kinh doanh yếu. Vai trò của Nhà nước trong việc định hướng và tạo môi trường thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm thiết bị điện phục vụ cho xuất khẩu còn ở mức độ nhất định, chưa có một chính sách đặc thù nào cho ngành dẫn đến việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và các khâu có giá trị gia tăng cao còn hạn chế.

2023-07-21 / by / in
Sau những khó khăn đã vượt qua, sẽ có những cơ hội nào dành cho các nhà sản xuất sản phẩm thiết bị điện?

Trong quá trình Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa như hiện nay, ngành sản xuất thiết bị điện đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Với tiềm năng tiêu thụ rộng lớn trong và ngoài nước, ngành này đang có lộ trình và cơ hội lớn để phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội vẫn còn đó những khó khăn cơ bản trước mắt chưa thể vượt qua. Vậy thị trường ngành sản xuất thiết bị điện đang có những khó khăn gì? Các doanh nghiệp đã làm gì để vượt qua được những khó khăn đó? Và cơ hội nào đang chờ đợi các nhà đầu tư? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

Khó khăn mà ngành đang gặp phải

Hầu hết các sản phẩm thiết bị điện được sản xuất tại Việt Nam đều phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm có xuất xứ từ các nước láng giềng như Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia,… Các doanh nghiệp sản xuất trong nước gần như lép vế trước những sản phẩm từ Trung Quốc trong những buổi đấu thầu cung cấp thiết bị cho các công trình điện.

Bên cạnh đó, tại thị trường điện gia dụng, ước tính mỗi năm sử dụng hàng trăm tỉ đồng cho nhu cầu mua sắm thiết bị điện, nhưng chủ yếu chỉ đến từ những thương hiệu ngoại nhập còn doanh số đến từ một số thương hiệu trong nước như Điện Quang, Trần Phú,… vẫn chưa nhiều. Lý do dễ hiểu cho vấn đề này chính là vì các sản phẩm ngoại nhập có sự đa dạng và phong phú về chủng loại, một số khác thì có giá thành rẻ hơn cả sản phẩm trong nước.

Tuy nhiên, không lùi bước trước những khó khăn từ các sản phẩm ngoại nhập, thị trường ngành sản xuất thiết bị điện tại Việt Nam đã vượt qua và có nhiều cải thiện đáng kể.

Khó khăn các doanh nghiệp ngành sản xuất thiết bị điện đã vượt qua

Các doanh nghiệp trong nước đã thực hiện nhiều chiến lược khác nhau nằm nâng cao vị thế cạnh tranh cũng như sản xuất được nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Điển hình như Công ty Cổ phần Thiết bị điện Thibidi trực thuộc Tổng Công Ty Thiết Bị Kỹ Thuật Điện của Nhà Nước đã kết hợp cùng với Tập đoàn GE Consumer – Industrial đầu tư và sản xuất máy biến áp khô đúc epoxy, với những tính năng an toàn hơn trong phòng chống cháy nổ đã được xuất khẩu sang Lào và Campuchia. Việc hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài được xem là một chiến lược rất thông minh của những nhà sản xuất nội địa nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất thiết bị điện trong nước. Qua đó, các doanh nghiệp có thể tăng cường nội địa hóa thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Bên cạnh đó, các sản phẩm có yêu cầu kĩ thuật cao như cáp chịu nhiệt, chống cháy, chịu dầu,… được sản xuất bởi các doanh nghiệp Việt Nam hiện đang được rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn. Ngoài ra, nhiều sản phẩm công nghệ cao như cáp điện cao thế 170KV, cáp ngầm cao thế khoảng 230KV ngày càng được nhiều doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng sản xuất các thiết bị điện trong nước.

Sau những khó khăn đã vượt qua, sẽ có những cơ hội lớn nào dành cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thiết bị điện?

Với thị trường trong nước, theo quy định Số 48/2008/QĐ-BCT của Bộ Công Thương, trong giai đoạn từ năm 2015 – 2025, ngành sản xuất thiết bị điện sẽ phải đầu tư và phát triển để đáp ứng 70% nhu cầu trong nước về những thiết bị đường dây, trạm biến áp; 55% nhu cầu về động cơ điện và một số loại máy phát điện thông dụng. Cũng theo kế hoạch, vào năm 2025, các sản phẩm trong nước có thể cung cấp trọn bộ thiết bị điện cho các công trình đường dây điện, trạm biến áp,… Với các kế hoạch mà Chính phủ đã đề xuất ở trên, đây quả thật là một cơ hội lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành sản xuất thiết bị điện.

Hơn thế nữa, một thị trường tiềm năng khác dành cho các doanh nghiệp trong ngành chính là mạng lưới điện quốc gia ở những vùng sâu, vùng xa, hải đảo,…Ở những khu vực này sẽ khai thác tối đa lợi thế điều kiện tự nhiên để sản xuất điện. Đây là thị trường tiềm năng mà các đơn vị sản xuất thiết bị điện trong nước nên khai thác.

Đối với thị trường xuất khẩu, Lào và Campuchia là 2 đích đến tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam vì họ đang đẩy mạnh tỷ lệ hộ được cấp điện trong cả nước nhưng khả năng trong nước lại không đủ cung cấp.

Với những khó khăn đã vượt qua, cùng những cơ hội thị trường tiềm năng trước mắt, chúng tôi tin chắc rằng ngành gia công và sản xuất thiết bị điện nước ta sẽ còn phát triển hơn nữa.

Nguồn: kizuna.vn

2023-06-24 / by / in