Ngành nghề cùng phần loại:
Ngành nghề: CHƯA PHÂN LOẠI / XÃ HỘI - TỔ CHỨCTìm thấy 197 kết quả

  • Ra đời vào ngày 16/10/2004, tên ban đầu của Hiệp hội là Hiệp hội Kính Xây dựng Việt Nam. Sau 4 năm hoạt động, đến năm 2008, Hiệp hội được Bộ Nội vụ cho phép đổi tên thành Hiệp hội Kính và Thủy tinh Việt Nam (tên tiếng Anh: Vietnam Glass Association, tên viết tắt Vieglass). Sau khi đổi tên, Hiệp hội đã tiến hành kết nạp thêm các hội viên mới thuộc khối sản xuất thủy tinh dân dụng (chai lọ, bóng đèn…) Năm 2011, Hiệp hội Kính và Thủy tinh Việt Nam được kết nạp vào Liên Hiệp hội Các nhà sản xuất thủy tinh Đông Nam Á, bao gồm các nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan. Năm 2012 và năm 2017, Hiệp hội Kính và Thủy tinh Việt Nam đã đứng ra làm nước chủ nhà cho sự kiện lớn của ngành kính và thủy tinh Đông Nam Á: đó là Hội nghị Kính và Thủy tinh Đông Nam Á. Sự kiện được tổ chức thành công với sự tham dự của các Quan chức các Bộ Ngành (Bộ Xây dựng; Bộ Công thương; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Đo lường-Tiêu chuẩn...), và gần 300 khách quốc tế đến từ hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ.
  • Bắc Kạn là tỉnh miền núi nằm ở trung tâm nội địa vùng Đông Bắc Bắc Bộ; phía Bắc giáp các huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình, Thạch An, tỉnh Cao Bằng; phía Đông giáp các huyện Tràng Định, Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; phía Nam giáp các huyện Võ Nhai, Phú Lương, Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên; phía Tây giáp các huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Bắc Kạn nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới khu vực gió mùa Đông Nam Á. Ở vị trí này, Bắc Kạn có sự phân hóa khí hậu theo mùa rõ rệt về nhiệt độ, lượng mưa, độ dài ngày và đêm. Lãnh thổ Bắc Kạn nằm giữa hai hệ thống núi cánh cung miền Đông Bắc nên chịu ảnh hưởng mạnh của khí hậu lục địa châu Á, thời tiết lạnh về mùa đông, hạn chế ảnh hưởng mưa bão về mùa hạ. Diện tích đất tự nhiên của Bắc Kạn là 485.996ha, trong đó: Đất nông nghiệp là 44.116ha, chiếm 9,08%; đất lâm nghiệp 413.366ha chiếm 85,05%; đất khác (đất chuyên dùng, đất ở, đất chưa sử dụng…) là 28.514ha, chiếm 5,87%. Đất đai tương đối màu mỡ, nhiều nơi tầng đất dày, đất đồi núi có lượng mùn cao, thích hợp cho sản xuất nông lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả… Đơn vị hành chính, dân số Bắc Kạn có 8 đơn vị hành chính, trong đó có 01 thành phố (thành phố Bắc Kạn) và 07 huyện (Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Mới, Na Rì, Ngân Sơn, Pác Nặm) với 108 xã, phường, thị trấn. Dân số Bắc Kạn (tính tại thời điểm ngày 01/4/2019) là 313.905 người, đứng thứ 63 trên cả nước. Trong đó, dân tộc Kinh có 37.615 người, chiếm 11,98%; dân tộc Tày có 165.055 người, chiếm 52,58%; dân tộc Nùng có 28.709 người, chiếm 9,15%; dân tộc Dao có 56.063 người, chiếm 17,86%; dân tộc Mông có 22.607 người, chiếm 7,20%, dân tộc Sán Chay là 1.680 người, chiếm 0,54%; còn lại là dân tộc khác có 2.176 người, chiếm 0,69%. Mật độ dân số là 65 người/km2./. HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
  • HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
  • Hệ thống đường dây nóng là Trung tâm liên lạc hoạt động 24 giờ/ngày và 7 ngày trong tuần, trên địa bàn tỉnh Bình Dương để tiếp nhận thông tin phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức bằng nhiều phương thức khác nhau: thoại (cố định, di động), tin nhắn, thư điện tử, các ứng dụng trên Internet. Hệ thống sẽ xử lý trả lời tự động hoặc thông qua nhân viên trực hệ thống đường dây nóng hoặc chuyển tiếp cho các cơ quan, đơn vị chức năng xử lý để có kết quả trả lời. Hành chính nhà nước  
  • XÃ HỘI - TỔ CHỨC
  • Ngày 29/3/2004, Hiệp hội VATAP được thành lập theo Quyết định số 22/2004/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Hiệp hội VATAP thực hiện nhiệm vụ tập hợp - đoàn kết hội viên, gắn kết thường xuyên, không vụ lợi, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; đại diện cho hội viên trong việc phối hợp với các tổ chức kinh tế và các cơ quan liên quan để tuyên truyền đấu tranh chống hàng lậu, gian lận thương mại và hàng giả - hàng nhái; xây dựng, bảo vệ thương hiệu và hỗ trợ có hiệu quả trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Hơn 16 năm qua, Hiệp hội đã có những đóng góp quan trọng, hiệu quả trong hoạt động của mình. Ngay sau khi thành lập, Hiệp hội đã xác định, công tác phối hợp đấu tranh chống hàng lậu, hàng giả, hàng nhái và xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và liên tục. Theo đó, Hiệp hội đã sát cánh, đồng hành cùng từng ngành hàng, nhóm hàng và phù hợp với yêu cầu của từng hội viên; đồng thời triển khai thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng trong lĩnh vực này. Suốt những năm qua, Hiệp hội đã hợp tác với nhiều DN, đơn vị trong và ngoài nước về công tác chống hàng giả, hàng nhái; tổ chức mở lớp tập huấn về phân biệt rượu thật - rượu giả; ký kết với nhiều đại lý rượu cam kết không bán rượu giả, rượu kém chất lượng, thu được kết quả khả quan, được khách hàng và nhà sản xuất hoan nghênh, đánh giá cao. Cùng với đó, nhận thấy, vấn nạn sản xuất, buôn bán phân bón giả, ảnh hưởng lớn đến hoạt động SXKD của bà con nông dân, tổn hại đến năng suất cây trồng, cũng như nền sản xuất nông nghiệp nước nhà, qua khảo sát thị trường, Hiệp hội nhận thấy xuất hiện một số loại thuốc thú y, thuốc nuôi trồng thủy sản bị làm giả, lưu thông tại miền tây Nam Bộ. Để đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi vấn nạn này, Hiệp hội đã làm việc trực tiếp với một số chi cục thú y để có những đề xuất, kiến nghị về lộ trình sản xuất phải bảo đảm chất lượng, an toàn (GMP), trình nhiều văn bản kiến nghị Chính phủ và Bộ NN&PTNT, trên cơ sở đề xuất những giải pháp liên quan vấn nạn này. Chính phủ đã quan tâm và có những chỉ đạo cụ thể, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, xử lý, ngăn chặn tình trạng trên. Trước tình trạng trên thị trường xuất hiện một số đơn vị, tổ chức, nhóm người chiếm dụng vỏ bình gas và sang chiết gas trái phép, Hiệp hội đã chủ động phối hợp với một số DN gas, kiến nghị với Chính phủ, các cơ quan quản lý có văn bản chỉ đạo xử lý cụ thể. Hiệp hội phối hợp với DN của Đan Mạch tại Việt Nam về công tác chống hàng giả đồ chơi thông minh Lego. Theo đó, phối hợp với hãng, tổ chức Hội thảo phân biệt hàng thật - hàng giả về đồ chơi Lego. Nhờ đó, các cơ quan chức năng tổ chức kiểm tra các mặt hàng đồ chơi Lego trên thị trường, tạo điều kiện để lực lượng hải quan ngăn chặn đồ chơi giả ngay từ khu vực biên giới, cửa khẩu khi nhập khẩu vào Việt Nam. Đấu tranh không ngưng nghỉ Để phối hợp đấu tranh có hiệu quả công tác chống hàng giả - hàng nhái, Hiệp hội luôn coi trọng việc phối kết hợp với các lực lượng thực thi (BCĐ 389/QG, lực lượng QLTT, công an, hải quan, biên phòng...). Đồng thời, phối hợp với các DN nhằm nắm bắt thông tin về các thủ đoạn làm hàng giả - hàng nhái, vận chuyển, phân phối, những đặc điểm nhận biết về hàng giả để lực lượng chức năng có thêm cơ sở truy quét, kiểm tra, xử lý hàng giả. Tháng 2/2014, Hiệp hội VATAP và Cục QLTT (nay là Tổng cục QLTT) đã ký thỏa thuận hợp tác toàn diện về chống hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại. Đây là nhiệm vụ chính trị, hoạt động thường xuyên, liên tục của 2 đơn vị, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hằng năm, theo định kỳ, Hiệp hội chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan, các địa phương và DN, tổ chức các hội nghị, hội thảo “Kỷ niệm Ngày Phòng chống hàng giả, hàng nhái” (29/11), Ngày Thương hiệu Việt Nam (20/4); tổ chức các chương trình vinh danh, biểu dương các đơn vị, DN có  thương hiệu sản phẩm, dịch vụ tiêu biểu Việt Nam và biểu dương những gương mặt doanh nhân tiêu biểu, được các đơn vị, cộng đồng DN hưởng ứng và đánh giá cao. Hiệp hội thường xuyên tổ chức quảng bá thương hiệu cho DN hội viên, tạo phong trào xây dựng thương hiệu. Hàng trăm hội viên Hiệp hội và DN nói chung đã tham gia Chương trình “Thương hiệu vàng” của Hiệp hội (Chương trình được phép của Chính phủ và Bộ Công Thương tổ chức 3 năm/lần). Doanh nghiệp cần đồng hành... Với vai trò, trách nhiệm của mình, Hiệp hội tích cực kêu gọi các DN nói chung và các DN hội viên nói riêng, chủ động thông tin, phối hợp với các lực lượng  thực thi trong việc điều tra, xử lý buôn lậu, hàng giả - hàng nhái. Mặt khác, tuyên truyền cho hội viên thực hiện đầy đủ việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ; nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật, nâng cao ý thức tự bảo vệ thương hiệu sản phẩm, hàng hóa của mình, bảo đảm chất lượng đối với công bố, chịu trách nhiệm trước pháp luật, sản phẩm, hàng hóa do DN mình SXKD. Thông tin rộng rãi để người tiêu dùng nắm bắt hàng giả - hàng nhái; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trong công tác phòng chống hàng giả và bảo vệ thương hiệu; cung cấp thông tin chính xác kịp thời đường dây nóng của BCĐ389/QG và các cơ quan chỉ đạo của Chính phủ; tổ chức, quản lý chặt chẽ hệ thống phân phối các sản phẩm SXKD của mình. Theo lãnh đạo Hiệp hội, để bảo vệ và khẳng định giá trị thương hiệu của mình, các DN cần đồng hành, phối hợp với các lực lượng thực thi trong việc cung cấp thông tin, phân biệt hàng thật - hàng giả, giúp lực lượng chức năng kiểm tra, xử lý những vi phạm về nhãn hiệu, vi phạm SHTT, hàng nhái. Các DN cần nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong công tác xây dựng và bảo vệ thương hiệu, bảo vệ quyền lợi của khách hàng, ứng dụng công nghệ sản xuất cao, nhãn mác đẹp, giảm giá thành sản phẩm, chú ý xây dựng thương hiệu Việt. Đồng thời, tích cực phối hợp với các lực lượng chức năng trong công tác giám sát thị trường, quản lý tốt hệ thống phân phối, thu thập, cung cấp thông tin và hỗ trợ các cơ quan thực thi trong phát hiện và xử lý vi phạm. Hiệp hội kêu gọi các DN và doanh nhân giữ gìn thương hiệu, đề cao lương tâm và trách nhiệm, vì lợi ích quốc gia, nói không với hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Công tác xây dựng và phát triển tổ chức hội được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong hoạt động của Hiệp hội. Hiệp hội đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương tích cực tuyên truyền thu hút các hội viên mới, có tâm huyết, đủ điều kiện tham gia. Qua đó, hằng năm, có hàng trăm hội viên là các DN, doanh nhân, ngành hàng khắp cả nước có nguyện vọng, đủ điều kiện hưởng ứng tham gia tổ chức hội. Hiệp hội thể hiện tốt vai trò là cầu nối, hỗ trợ hội viên, tập hợp những ý kiến, nguyện vọng, nhu cầu phản ánh của các DN gửi đến các cấp chính quyền để cùng kiến tạo những giải pháp tháo gỡ, tạo sự kết nối giữa cộng đồng DN và các cơ quan quản lý nhà nước. Chia sẻ với cộng đồng   Hiệp hội VATAP thường xuyên phát động, kêu gọi các hội viên tham gia công tác xã hội, chia sẻ, ủng hộ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng chính sách, tàn tật, cơ nhỡ, yếu thế... Ngày 29/11/2019, trong khuôn khổ Lễ Kỷ niệm Ngày phòng chống hàng giả, hàng nhái (29/11), do Hiệp hội chù trì phối hợp tổ chức tại Hà Nội, VATAP đã phát động Chương trình “Nhịp cầu thương hiệu - kết nối thành công” giai đoạn 2019 - 2021, thu hút nhiều DN tham gia. Chương trình được triển khai với mục đích nhằm hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”, do Thủ tướng Chính phủ phát động. Chương trình có ý nghĩa thiết thực, thể hiện vai trò, trách nhiệm, sự quan tâm, sẻ chia của Hiệp hội đối với công tác an sinh xã hội; là cơ sở bảo đảm sự thống nhất trong thực hiện các hoạt động thiện nguyện và sẽ trở thành một hoạt động thường niên, liên tục của Hiệp hội và các đơn vị thành viên. Theo đó, hằng năm, Hiệp hội sẽ tiến hành lựa chọn, khảo sát và vận động nguồn lực thực hiện hỗ trợ xây dựng các công trình an sinh xã hội, tập trung tại địa bàn các xã miền núi, biên giới, hải đảo xa xôi; phát động chương trình chia sẻ, ủng hộ các đối tượng người cao tuổi, người nghèo, phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, không nơi nương tựa, vùng thiên tai, bão lũ. Năm 2019, sau khi xét duyệt hồ sơ, khảo sát, đánh giá tình hình thực tế, mức độ cần thiết, Hiệp hội đã lựa chọn và phát động hội viên quyên góp, ủng hộ kinh phí hàng trăm triệu đồng để xây dựng mới cây cầu giao thông dân sinh tại thôn Khe Mạng, xã Phong Dụ Thượng (Văn Yên, Yên Bái). Chương trình đã được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Phong Dụ Thượng và cộng đồng cảm kích, đánh giá cao. Dự án không chỉ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bảo đảm ATGT thông suốt cho bà con thôn Khe Mạng nói riêng và xã Phong Dụ Thượng nói chung, mà còn giúp bà con các dân tộc có điều kiện sử dụng các phương tiện cơ giới, vận tải đủ lớn trong SXKD, tạo điều kiện lưu thông hàng hóa, sản phẩm, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Những nhiệm vụ trọng tâm Chủ tịch Hiệp hội VATAP, Lê Thế Bảo cho biết: Việt Nam đang hội nhập sâu rộng toàn cầu, từ đó những thuận lợi của nền kinh tế cũng có tác động tốt đối với DN. Tuy nhiên, khi thị trường rộng cửa, vấn nạn hàng giả - hàng nhái cũng chiều hướng gia tăng. Đối với Hiệp hội và các tổ chức trực thuộc Hiệp hội, cần phải thực hiện nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ của mình; phối hợp đấu tranh chống hàng giả - hàng nhái và xây dựng thương hiệu, tôn vinh, quảng bá thương hiệu cho DN. Đây là 2 nhiệm vụ trọng tâm của Hiệp hội VATAP. Đơn vị tiếp tục phối hợp chặc chẽ cùng DN hội viên, tích cực cung cấp thông tin cho lực lượng thực thi và Văn phòng BCĐ389/QG, nhằm đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm, bảo đảm ổn định thị trường hàng hóa. Hiệp hội chú trọng công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của cộng đồng trong công tác đấu tranh chống hàng giả - hàng nhái, hàng vi phạm SHTT. Tiếp tục tổng hợp những thông tin phản ảnh của DN hội viên, đề xuất với các cơ quan chức năng xử lý các trường hợp vi phạm quyền SHTT của hội viên, theo đúng pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên, đấu tranh chống lại các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh. Tổ chức tọa đàm, hội thảo nhằm nâng cao ý thức chống hàng giả của DN hội viên, thông qua các kênh truyền thông của Hiệp hội và các cơ quan báo chí để làm tốt hơn công tác thông tin tuyên truyền về nhiệm vụ chống hàng giả - hàng nhái. Duy trì và thực hiện chương trình thỏa thuận, ký kết giữa Hiệp hội với các cơ quan thực thi trong nhiệm vụ chống hàng giả; mở rộng sự kết hợp với hội viên có thương hiệu mạnh để cùng lực lượng thực thi chống hàng giả, tổ chức các hội thảo hàng thật - hàng giả, mở rộng hoạt động, website phục vụ công tác chống hàng giả, hàng nhái; tổ chức các chương trình với quy mô khác nhau nhằm xây dựng, quảng bá thương hiệu của DN hội viên nói riêng và DN cả nước chung... Chủ tịch Lê Thế Bảo nhấn mạnh: Với những hoạt động cụ thể, thiết thực, hiệu quả trong suốt chặng đường hơn 16 năm qua, Hiệp hội VATAP đã kiện toàn bộ máy tổ chức, sửa đổi điều lệ hoạt động cho phù hợp với tình hình mới; chuẩn bị công tác Đại hội, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Mỗi chức danh trong Ban chấp hành được phân công có điều kiện hoạt động và trách nhiệm cao với Hiệp hội trên nhiều mặt, bảo đảm tính ổn định gọn, nhẹ. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy các đơn vị trực thuộc Hiệp hội cho phù hợp trên nguyên tắc hoạt động có hiệu quả bằng các giải pháp: Giải thể, sáp nhập bộ máy cho gọn nhẹ, bảo đảm thực hiện Điều lệ, Quy chế hoạt động của các đơn vị trực thuộc Hiệp hội theo từng nhiệm kỳ. Chú trọng phát triển hội viên là DN, cá nhân có ý thức cao trong công tác xây dựng và bảo vệ thương hiệu chống hàng giả - hàng nhái…
  • HỖ TRỢ CÔNG TÁC BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM.
  • Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) là tổ chức phi lợi nhuận, được thành lập theo Quyết định số 19/2002/QĐ-NS ngày 19/4/2002 của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Hiện nay, đã có trên 4.000 tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả Việt Nam ký hợp đồng ủy thác quyền tác giả cho VCPMC. VCPMC là thành viên chính thức của CISAC (Liên minh quốc tế các Hiệp hội những Nhà soạn Nhạc và Lời) gồm 239 Hiệp hội của 123 quốc gia với trên 4 triệu tác giả.
  • Giới thiệu về Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình (WIP) I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂNViện Sinh thái và Bảo vệ công trình (WIP) được thành lập ngày 17/11/2009, theo Quyết định số 3318/QĐ-BNN-TCCB của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Tiền thân của Viện là Trung tâm Nghiên cứu Phòng trừ Mối được thành lập năm 1987.Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình có tài khoản và con dấu riêng. Trụ sở của Viện tại số 267 Chùa Bộc, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại:  (024) 3852 1162 Fax: (024) 3851 8317 Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình là cơ quan nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học công nghệ và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực Khoa học Tự nhiên. Việnđã và đang chủ trì, tham gia nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp tỉnh, các hợp đồng nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất và áp dụng tiến bộ khoa học vào thực tế. Với phương châm liên tục cập nhật các hướng nghiên cứu mới trên thế giới, hiện nay Viện là một trong những cơ quan có uy tín trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Từ những hướng nghiên cứu sinh học, sinh thái học cơ bản, đến nay Viện đã mở rộng các hướng nghiên cứu mới chiến lược và đạt được những thành công nhất định. Các hướng nghiên cứu chiến lược của Viện có thể kể đến là: II. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ 1. Chức năng: a) Viện Sinh thái và Bảo vệ Công trình trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đư­ợc thành lập trên cơ sở  tổ chức, sắp xếp lại Trung tâm Phòng trừ mối và sinh vật có hại và các bộ phận có liên quan của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. b) Viện Sinh thái và Bảo vệ Công trình là đơn vị sự  nghiệp khoa học công lập có t­ư cách pháp nhân, có con dấu riêng, đư­ợc mở tài khoản tại kho bạc và ngân hàng Nhà nước; trụ sở chính đặt tại thành phố Hà Nội. c)  Viện Sinh thái và Bảo vệ Công trình có chức năng nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học phục vụ các dịch vụ công ích của Nhà nước, tham gia đào tạo và hợp tác Quốc tế, tư­ vấn và chuyển giao công nghệ về phòng trừ mối, bảo vệ công trình Thủy lợi, Thủy điện và các công trình xây dựng khác trong phạm vi cả nư­ớc. 2. Nhiệm vụ a) Xây dựng và trình cấp có thẩm quyền các chư­ơng trình, dự án, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm về khoa học, công nghệ trong lĩnh vực phòng trừ mối, bảo vệ công trình thủy lợi, thuỷ điện và các công trình xây dựng thuộc nhiệm vụ của Viện; tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt. b) Nghiên cứu cơ bản có định hướng, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu khoa học phục vụ các dịch vụ công ích của nhà nước về lĩnh vực phòng trừ mối, bảo vệ công trình thủy lợi, thủy điện theo quy định của pháp luật. Các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể: - Khoa học về Mối và công nghệ phòng trừ Mối, sinh vật hại; - Ứng dụng các công nghệ mới để khảo sát, phát hiện và xử lý ẩn họa trong đê, đập, phát hiện ẩn vật trong các di tích Lịch sử - Văn hóa, khảo sát và đánh giá cấu trúc địa tầng công trình; - Xử lý các vết nứt ngầm, khối vật liệu hỗn hợp để chống xói lở đê, đập và dải đất liền ven biển; - Trồng cây chắn sóng, tạo bãi bồi, bảo vệ đê và dải đất liền ven biển; - Trồng cây chắn cát bay, cát chảy, bảo vệ đê trên vùng cát và ổn định cồn cát; g) Cải tạo hồ chứa nước thành các hồ sinh thái phục vụ đa mục tiêu; các biện pháp hạn chế bồi lắng lòng hồ; - Các giải pháp bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái đầu nguồn để duy trì nguồn nước về hồ; - Mối quan hệ giữa hệ sinh thái và hệ thống hồ chứa nước trong quy hoạch nguồn nước; các giải pháp đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả các hồ chứa nước; - Ứng dụng công nghệ sinh học, hóa học bảo vệ, chống xâm thực cho công trình và thiết bị thủy lợi; - Tuyển chọn và nhân giống các chủng vi sinh vật gây bệnh cho Mối và sinh vật hại; - Ứng dụng công nghệ sinh học, hóa học để xử lý nguồn nước bị ô nhiễm; c)  Xây dựng mô hình thử nghiệm; chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ về phòng trừ Mối và Bảo vệ công trình vào phục vụ sản xuất. d) Cung cấp các dịch vụ tư vấn về phòng trừ mối, xử lý ẩn hoạ trong công trình, khảo sát đánh giá cấu trúc địa tầng, ẩn họa trong đê đập, ẩn vật trong các di tích lịch sử -  văn hoá, các biện pháp chắn sóng bảo vệ đê biển và dải đất liền ven biển, chống cát bay, cát chảy, xử lý bồi lắng lòng hồ, phục hồi hệ sinh thái lòng hồ, chống ăn mòn thiết bị thủy lợi; tham gia tư vấn và thẩm tra các dự án đầu tư, xây dựng thủy lợi theo quy định của Luật xây dựng. Tư vấn thẩm định thuốc, chế phẩm phòng trừ mối và các giải pháp phòng trừ Mối trong hàng hoá xuất nhập khẩu có chứa xen lu lô. đ) Tổ chức biên soạn các quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn định mức kinh tế, kỹ thuật thuộc lĩnh vực được giao, trình cấp có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật. e) Tổ chức sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu thuộc lĩnh vực được giao. g) Thông tin khoa học công nghệ theo chuyên ngành. h) Hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; liên doanh, liên kết trong và ngoài nước để thực hiện nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đào tạo thuộc về lĩnh vực phòng trừ mối và bảo vệ công trình. i) Tham gia đào tạo bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật trong lĩnh vực Phòng trừ mối và Bảo vệ công trình. k) Quản lý tài chính, tài sản và các nguồn lực khác đ­ược giao theo qui định của pháp luật. l) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ và Giám đốc Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam giao. III. CÁC LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG 1. Nghiên cứu phòng trừ mối và sinh vật hại a) Nghiên cứu khoa học, công nghệ trong lĩnh vực phòng trừ mối, bảo vệ công trình thủy lợi, thủy điện và các công trình xây dựng; b) Khoa học về mối và công nghệ phòng trừ mối, sinh vật hại; c) Tuyển chọn và nhân giống các chủng vi sinh vật gây bệnh cho Mối và sinh vật hại; d) Ứng dụng và sản xuất các chế phẩm sinh học phòng trừ mối và sinh vật hại; 2. Sinh thái bảo vệ đê a) Trồng cây chắn sóng, tạo bãi bồi, bảo vệ đê và dải đất liền ven biển; b) Trồng cây chắn cát bay, cát chảy, bảo vệ đê trên vùng cát và ổn định cồn cát; c) Cung cấp các biện pháp chắn sóng bảo vệ đê biển và dải đất liền ven biển, chống cát bay, cát chảy; 3. Sinh thái bảo vệ hồ chứa a) Các giải pháp bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái đầu nguồn để duy trì nguồn nước về hồ; b) Mối quan hệ giữa hệ sinh thái và hệ thống hồ chứa nước trong quy hoạch nguồn nước; các giải pháp đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả các hồ chứa  nước; c) Cải tạo hồ chứa nước thành các hồ sinh thái phục vụ đa mục tiêu; các biện pháp hạn chế  bồi lắng lòng hồ; 4. Phát hiện và xử lý ẩn họa cho công trình xây dựng a) Xử lý các vết nứt ngầm, khối vật liệu hỗn hợp để chống xói lở đê, đập và dải đất liền ven biển; b) Ứng dụng công nghệ sinh học, hóa học bảo vệ, chống xâm thực cho công trình và thiết bị thủy lợi; c) Ứng dụng các công nghệ mới để khảo sát, phát hiện và xử lý ẩn họa trong đê, đập, phát hiện ẩn vật trong các di tích lịch sử - văn hóa, khảo sát và đánh giá cấu trúc địa tầng công trình; 5. Tư vấn thiết kế, thi công công trình a) Tư vấn, thi công công trình thủy lợi, thủy điện, giao thông, dân dụng và công nghiệp; b) Thiết kế công trình thủy lợi, hạ tầng kỹ thuật; c) Thẩm tra thiết kế công trình thủy lợi, hạ tầng kỹ thuật; d) Tư vấn khảo sát đánh giá cấu trúc địa tầng, khảo sát địa hình, địa chất công trình, ẩn họa trong đê, đập, ẩn vật trong các di tích lịch sử - văn hóa; đ) Tham gia tư vấn và thẩm định các dự án đầu tư, xây dựng, thủy lợi theo quy định của Luật Xây dựng; 6. Tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường a) Nghiên cứu đa dạng sinh học; b) Nghiên cứu nguồn lợi sinh vật; c) Quan trắc môi trường, quan trắc đa dạng sinh học; d) Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin đại lý (GIS) trong nghiên cứu đa dạng sinh học; đ) Nghiên cứu và dự báo biến động về môi trường, địa lý, tài nguyên sinh vật, các tác động khác ảnh hưởng đến tài nguyên, môi trường, đa dạng sinh học; e) Đánh giá tác động môi trường, đánh giá tác động môi trường chiến lược; g) Kiểm tra và phân tích kỹ thuật đo lường các chỉ số môi trường, ô nhiễm không khí và nước; h) Ứng dụng công nghệ sinh học, hóa học để xử lý nguồn nước bị ô nhiễm; IV. GIẢI THƯỞNG, BẰNG KHEN Quá trình phát triển đáng tự hào của Viện đã được ghi nhận bằng nhiều hình thức khen thưởng của Nhà nước, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các cơ quan ban ngành khác. Ngày 04/12/2013, Viện đã vinh dự đón nhận Huân chương lao động hạng 2 của Chủ tịch nước trao tặng và nhiều bằng khen, giải thưởng như: - Huân chương lao động hạng 3 của Hội đồng nhà nước (lần 1), số 880KT/HĐNN ngày 11/5/1992; - Huân chương lao động hạng 3 của Chủ tịch nước (lần 2), số 1249QĐ/CTN ngày 10/11/2006; - Bằng khen của Thủ tướng chính phủ, số 1170QĐ/TTg ngày 07/11/2005; - Bằng khen của Thủ tướng chính phủ, số 160/QĐ-TTg, ngày  26/01/2011; - Bằng khen của Uỷ ban KHKT nhà nước, số 917-QĐ/KT ngày 13/12/1987; - Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 2326 ngày 29/5/2001; - Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 1355 ngày 18/5/2004; - Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 1244/QĐ-BNN ngày 09/3/2007; - Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,  số 1692/QĐ-BNN-TCCB, ngày 22/6/2009; - Giải thưởng Bông lúa vàng Việt Nam lần thứ 1, số 2752/QĐ-BNN-TCCB, ngày 01/11/2012; - Giải thưởng Bông lúa vàng Việt Nam, số 4139/QĐ-BNN-TCCB ngày 20/10/2015; - Cúp vàng Thương hiệu Việt năm 2006; - Cúp vàng sản phẩm AgroViet của Bộ NN & PTNT, giấy chứng nhận số 2862/QĐ-BNN-VP ngày 28/9/2007; - Top 500 Thương hiệu hàng đầu Việt Nam năm 2008; - Cúp vàng chất lượng hội nhập WTO năm 2009. V. HỢP TÁC NGHIÊN CỨU Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình có quan hệ hợp tác với một số trường đại học và các viện nghiên cứu trong và ngoài nước: - Trường Đại học Georgia (Hoa Kỳ); - Trường Đại học Florida (Hoa Kỳ); - Trường Đại học Bourgogne (Pháp); - Trường Đại học Sains (Malaysia); - Viện Côn trùng Quảng Đông (Trung Quốc); - Viện Địa hóa Quảng Châu (Trung Quốc); - Trung tâm chống mối Triết Giang (Trung Quốc); - Trung tâm đất khô hạn Tottori (Nhật Bản); - Viện Công nghệ sinh học; - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật; - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. VI. HỆ THỐNG TỔ CHỨC 1. Ban lãnh đạo viện: gồm Viện trưởng và các Phó Viện trưởng - Viện trưởng do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Viện. - Các Phó Viện trưởng do Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Viện trưởng sau khi báo cáo được Bộ chấp nhận, chịu trách nhiệm trước Viện trưởng, trước pháp luật về lĩnh vực được phân công phụ trách hoặc ủy quyền. 2. Các phòng nghiệp vụ: - Phòng Tổ chức, Hành chính; - Phòng Kế hoạch, Tài chính 3. Các phòng chuyên môn: - Phòng thí nghiệm Sinh hóa và Diệt trừ mối; - Phòng Nghiên cứu Ứng dụng địa vật lý. 4. Các Trung tâm nghiên cứu: - Trung tâm Nghiên cứu Phòng trừ mối; - Trung tâm Sinh học Bảo vệ đê; - Trung tâm Sinh thái Bảo vệ hồ chứa nước. VII. CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT - Nhà xưởng: Viện có 3 trung tâm nghiên cứu khoa học, 2 phòng thí nghiệm với hàng chục nhóm chuyên môn khác nhau như Đa dạng sinh học, Phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái, Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Sinh thái bảo vệ hồ chứa, Sinh thái bảo vệ đê, Bản đồ viễn thám, Đánh giá tác động môi trường, Khoa học về Mối và công nghệ phòng trừ Mối, sinh vật hại, Tư vấn khảo sát đánh giá cấu trúc địa tầng, khảo sát địa hình, địa chất công trình, ẩn họa trong đê, đập, ẩn vật trong các di tích lịch sử - văn hóa, Tư vấn, thi công công trình thủy lợi, thủy điện, giao thông, dân dụng và công nghiệp,… được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất (nhà xưởng, phòng thí nghiệm, hệ thống thông tin liên lạc, máy tính, máy in,…). - Trang thiết bị chủ yếu: Viện có đầy đủ các máy móc và trang thiết bị chuyên dụng phục vụ cho các hướng nghiên cứu chiến lược của Viện như Tài nguyên sinh vật, Đa dạng sinh học và Bảo vệ môi trường; Nghiên cứu phòng trừ mối, sinh vật hại; Biện pháp sinh học bảo vệ đê biển, Biện pháp sinh học bảo vệ hồ chứa nước; Phát hiện và xử lý ẩn họa cho công trình xây dựng; Tư vấn thiết kế, thi công công trình. - Ngoài ra, thư viện của Viện có hàng trăm tài liệu tham khảo, định loại vật mẫu phục vụ cho các hướng nghiên cứu của Viện./. BẢO VỆ
  • Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng là cơ quan do Chính phủ thành lập trong hệ thống tổ chức của Bộ Công Thương có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng và trụ sở chính đặt tại Thành phố Hà Nội.        Các đơn vị trực thuộc Cục Quản lý cạnh tranh bao gồm: Phòng Điều tra hành vi hạn chế cạnh tranh, Phòng Kiểm soát tập trung kinh tế, Phòng Điều tra và xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Phòng Bảo vệ người tiêu dùng, Phòng Kiểm soát hợp đồng theo mẫu - điều kiện giao dịch chung, Văn phòng và Trung tâm Thông tin, Tư vấn và Đào tạo.        Với chức năng chính là giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng đã và đang nỗ lực hoạt động nhằm: • Thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh Tiêu chí hoạt động của Cục là tạo lập và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh với cơ hội kinh doanh bình đẳng cho tất cả doanh nghiệp trên thị trường. Chúng tôi khuyến khích và thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, qua đó đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng, sự phát triển khoa học công nghệ và tiến bộ xã hội. • Bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và người tiêu dùng trước những hành vi hạn chế cạnh tranh Cục có nhiệm vụ điều tra các vụ việc liên quan đến các hành vi làm giảm, bóp méo và cản trở cạnh tranh trên thị trường. Cụ thể, Cục có nhiệm vụ tổ chức điều tra các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường và kiểm soát hiệu quả các hoạt động tập trung kinh tế. Sau khi kết thúc điều tra, Cục chuyển báo cáo điều tra và kiến nghị lên Hội đồng Cạnh tranh hoặc cấp có thẩm quyền xem xét xử lý vụ việc. • Chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Chúng tôi cũng nỗ lực hạn chế và loại bỏ hành vi cạnh tranh không lành mạnh như chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, gièm pha hoặc gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác, Quảng cáo, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, bán hàng đa cấp bất chính,v.v… nhằm đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đối với các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, Cục có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm. • Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Cục chịu trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Để thực hiện trách nhiệm này, chúng tôi phối hợp với các cơ quan chức năng và các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên toàn quốc nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người tiêu dùng được các nhà sản xuất cũng như các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ tôn trọng. Mọi thông tin chi tiết, xin vui lòng liên hệ: CỤC CẠNH TRANH VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG - BỘ CÔNG THƯƠNG  Địa chỉ: Số 25, Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội Điện thoại: 84-24-22205002 Fax: 84-24-22205003
  • XÃ HỘI - TỔ CHỨC
  • XÃ HỘI - TỔ CHỨC
  • XÃ HỘI - TỔ CHỨC
Tìm công ty XÃ HỘI - TỔ CHỨC tại: