Thêm kết quả...

Công nghiệp hoá chất và định hướng phát triển

Công nghiệp hóa chất là ngành chủ chốt trong sản xuất các hóa chất công nghiệp. Đây là tâm điểm cho nền công nghiệp hiện đại, vì bất kì ngành nghề nào đều cần đến.

Công nghiệp hóa chất điển hình trong việc chuyển đổi các vật liệu thô như dầu, khí thiên nhiên, nước, kim loại và hóa chất thành hơn 7000 sản phẩm hóa chất khác nhau.

Ngành công nghiệp hóa chất và công nghiệp nhẹ có liên quan mật tiết với nhau, công nghiệp hóa chất hỗ trợ rất nhiều ngành công nghiệp khác nhau.

Đặc điểm của ngành công nghiệp hóa chất là tính đa đạng về sản phẩm phục vụ cho tất cả các ngành kinh tế kỹ thuật. Từ đó ngành công nghiệp này có thể khai thác mọi thế mạnh tài nguyên của đất nước từ khoáng sản, dầu khí tới sản phẩm, phụ phẩm và thậm chí cả phế thải của công nghiệp, nông nghiệp.

Thực trạng ngành hóa chất công nghiệp nước ta hiện nay

Các ngành học công nghiệp hóa chất được quan tâm và yêu cầu sinh viên rất cao, những người học ngành hóa chất không chỉ có sức kiên trì vượt trội mà còn có năng lực.

Việc sử dụng hóa chất trong các ngành công nghiệp, các khâu sản xuất, các xí nghiệp, nhà xưởng, xí nghiệp may, sản xuất lương thực thực phẩm đã dần quen thuộc đối với người dân Việt…

Ngành công nghiệp hóa chất phổ biến, đạt nhiều thành tự và đã trở thành ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam.

Chợ Kim Biên tại thành phố Hồ Chí Minh là ví dụ điển hình, nơi đây cung cấp, kinh doanh tất cả các loại hóa chất, cho tất cả ngành nghề.

Ngoài ra còn có nhiều doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn hơn.

Lịch sử phát triển của công nghiệp hóa chất

Hóa chất đầu tiên được sản xuất là Axit Sunfuric, được phát minh và sản xuất số lượng lớn. Năm 1736, nhà dược sĩ Joshua Ward đã phát triển một quy trình sản xuất có liên quan đến nồng độ muối, cho phép oxy hóa lưu huỳnh và kết hợp với nước. Đây là lần đầu tiên có quy trình sản xuất axit sulfuric trên quy mô lớn. John Roebuck và Samuel Garbett là những người đầu tiên thành lập một nhà máy quy mô lớn ở Prestonpans, Scotland vào năm 1749, tại đó sử dụng các buồng ngưng tụ bằng chì để sản xuất axit sulfuric.

Tại Việt Nam, công nghiệp hóa chất cũng ra đời rất sớm như các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ khác.

Về ngành công nghiệp hoá chất, Việt Nam được xây dựng trên quy mô lớn bắt đầu từ năm 1954. Trải qua hơn một thập kỷ cùng với sự phát triển nhanh chóng, ngành công nhiệp Việt Nam đã trở thành một ngành kinh tế về kỹ thuật độc lập.

Ngành Công Nghiệp Hóa Chất Là Gì - Xu Thế Thị Trường Hiện Nay

Từ năm 1980 – 1985, báo cáo ngành hóa chất việt nam là một trong những ngành thể hiện rõ tính chủ đạo của nền công nghiệp quốc doanh. Các doanh nghiệp của nhà nước đảm bảo được 70% tổng giá trị sản lượng toàn ngành. Năm 1985, nó chiếm tỉ trọng cao trong toàn bộ ngành công nghiệp của Việt Nam.

Bắt đầu từ thời kỳ đổi mới 1986, nền công nghiệp hoá chất nước ta đã phát triển ổn định. Tốc độ tăng trưởng cao nhất vào thời kỳ 1991 – 1995, đạt mức ở 20%/năm. Những năm cuối thế kỷ XX, ngành công nghiệp hoá chất nước ta cũng tăng trưởng ở tất cả các thành phần kinh tế.

Sản phẩm công nghiệp nhựa là thùng phuy 220l, có công dụng chứa đựng các hóa chất công nghiệp, chỉ xài 1 lần.

Các chuyên ngành và sản phẩm chính của công nghiệp hoá chất ở Việt Nam là phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật, chất tẩy rửa, hoá chất cơ bản, sản phẩm cao su, nhựa, điện hoá, sơn và chất dẻo.

Ngành hóa chất những năm gần đây trở thành mũi nhọn phản ánh sự phát triển công nghiệp một quốc gia. Phát triển về kinh tế kể từ thập niên 1950 đã khẳng định vai trò ngành hóa chất công nghiệp.

Điều này trở nên rõ ràng, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các ngành công nghiệp và các công ty trên toàn cầu. Lợi thế so sánh các quốc gia đã trở thành một vấn đề không còn chủ yếu dựa trên lợi thế về tài nguyên nữa.

Quá trình này được xuất phát từ lịch sử của ngành công nghiệp hóa chất kể từ thập niên 1850. Sự phát triển của ngành hóa chất công nghiệp kéo theo sự phát triển của nhiều ngành khác. Chính sách mà chính phủ duy trì và cải thiện tốc độ tăng trưởng và mức sống của từng đất nước.

Giai đoạn 1958-1960, phương hướng phát triển của Công nghiệp hoá chất (bao gồm cả sản xuất vật liệu xây dựng) trong thời kỳ này là:

– Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp.

– Phát triển mạnh vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu xây dựng.

– Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm phục vụ các ngành kinh tế khác (acqui, hơi kỹ nghệ, gạch chịu lửa v.v…)

– Đáp ứng nhu cầu dân sinh.

Trong giai đoạn này, Công nghiệp hoá chất là một trong những ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao nhất.

Về phân bón, từ sản lượng 6.000 tấn phốt phát năm 1955, thì năm 1960 đã đạt 541,4 nghìn tấn, trong đó apatit là 490 nghìn tấn và phốt phát nghiền là 49,7 nghìn tấn ( tăng hơn 90 lần).

Về xi măng, từ 8,4 nghìn tấn năm 1955, sản lượng năm 1960 đã đạt 407,9 nghìn tấn (tăng gần 50 lần)

Đặc biệt, trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất đã bắt đầu đưa ra thị trường hai mặt hàng tiêu dùng mới, đó là săm lốp xe đạp và đồ dùng bằng nhựa.

Nhìn chung, trong toàn bộ thời kỳ khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế kéo dài 6 năm, Công nghiệp hoá chất đã tiến một bước dài theo hướng phục vụ nông nghiệp, xây dựng cơ bản và tiêu dùng.

Trong bước đầu của nền công nghiệp Việt Nam, Công nghiệp hóa chất tại các địa phương có một vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu về mặt hàng tiêu dùng của nhân dân (xà phòng, thuốc đánh răng, sơn)… Thậm chí 45 tấn thuốc trừ sâu đầu tiên sản xuất tại Việt Nam vào năm 1960 cũng là của công nghiệp hoá chất địa phương.

Tổng quan về ngành công nghiệp hóa chất tại Việt Nam hiện nay

Thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)

Đây là thời kỳ mà những kết quả đạt được của Công nghiệp hoá chất tuy chưa lớn, nhưng đối với một đất nước vừa thoát khỏi những năm dài chiến tranh, một đất nước nghèo nàn và lạc hậu, thì những thành tựu đạt được thật là to lớn và đáng tự hào.

Nhờ có 2 nhà máy phân bón, kể từ năm 1961, lần đầu tiên nước ta đã sản xuất được phân lân chế biến. Sản lượng phân hoá học trong năm 1964 , năm cao nhất của thời kỳ kế hoạch, là 205,26 nghìn tấn, trong đó supe phốt phát là 135,88 nghìn tấn.

Sản lượng apatit nguyên khai cũng tăng nhanh chóng lên đến mức cao nhất vào năm 1964, đạt 864 ngàn tấn, trong đó 7.400 tấn được nghiền làm phân bón.

Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất cũng bắt đầu sản xuất nhiều thuốc trừ sâu.

Ngành hóa chất cơ bản cũng bắt đầu hình thành với các sản phẩm như axit sunfuric, axit clohyđric, xút lỏng, clo lỏng.

Ngành năng lượng điện hóa đã bắt đầu cung cấp pin và acqui cho quốc phòng, đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế và tiêu dùng.

Ngành công nghiệp cao su cũng bắt đầu sản xuất được lốp ôtô với sản lượng ban đầu là 22,5 nghìn bộ (năm 1964) và sau đó, đưa lên 29 nghìn bộ (năm 1965) chưa kể một số lượng lớn lốp đắp, phục vụ kịp thời cho chiến đấu và sản xuất. Các mặt hàng tiêu dùng cũng tăng nhanh sản lượng.

Trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, sản lượng xi măng tăng đáng kể.

Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, mặc dù chịu nhiều tổn thất trong chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhưng Công nghiệp hóa chất và vật liệu xây dựng vẫn tiếp tục phát triển, chiếm vị trí quan trọng trong công nghiệp. Cơ cấu ngành cũng có nhiều thay đổi. Lĩnh vực sản xuất tăng nhanh. Chúng ta đã có Công nghiệp hoá chất vô cơ cơ bản và năng lượng hoá học.

Đã hình thành ba khu công nghiệp hoá chất tập trung ở các khu vực : Hà Nội, Vĩnh Phú (Việt Trì – Lâm Thao) và Hải Phòng.

Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ (1965 – 1975)

Sản phẩm quan trọng nhất trong thời kỳ này là phân lân. Các sản phẩm trọng yếu khác của ngành đều phục hồi nhanh và vượt xa mức trước chiến tranh.

Trong 20 năm xây dựng và phát triển, từ hòa bình lập lại đến năm 1975, Công nghiệp hoá chất đã có bước phát triển rất to lớn. Về cơ cấu ngành, đã hình thành nhiều thành phần kinh tế – kỹ thuật thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân:

  • Công nghiệp sản xuất phân bón, thuốc trừ dịch hại và các hoá chất phục vụ nông nghiệp khác;
  • Công nghiệp mỏ phục vụ ngành hoá chất;
  • Công nghiệp cao su;
  • Công nghiệp hoá chất cơ bản;
  • Công nghiệp pin – acquy;
  • Công nghiệp xà phòng…
  • Các hóa chất cơ bản như xút, clo (cho công nghiệp giấy, công nghiệp thực phẩm và xử lý nước), axit sunfuric ( cho công nghiệp acquy,sản xuất phèn) v.v… cũng hoàn toàn do các cơ sở quốc doanh đảm nhiệm. Tất cả các hoá chất và sản phẩm liên quan đến hoá chất cần thiết cho quốc phòng đều do Tổng cục Hóa chất sản xuất theo kế hoạch đặc biệt nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể.
  • Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu thiết kế cũng được hình thành. Trong ngành có hai cơ quan khoa học là Viện Hoá học Công nghiệp (thành lập năm 1955) Và Viện Thiết kế Hoá chất (thành lập năm 1967).Ngành có một trường đào tạo kỹ thuật viên, hai trường đào tạo công nhân kỹ thuật và một trường quản lý kinh tế.

Giai đoạn phát triển 1976-1985 của ngành

Trong kỳ kế hoạch này, nhờ Nhà máy Phân lân Ninh Bình đi vào sản xuất và Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao tiếp tục mở rộng, đưa công suất lên 300 nghìn tấn/năm, nên sản lượng phân lân chế biến năm 1985 đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 1980. Sản lượng thuốc trừ sâu cũng tăng gấp 2,2 lần. Các sản phẩm chủ yếu khác như các hóa chất vô cơ cơ bản và nhất là các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu của ngành như săm lốp xe đạp, pin, chất tẩy rửa v.v… đều tăng sản lượng và số mặt hàng. Tuy nhiên, các sản phẩm phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu đều bị giảm. Điển hình là săm lốp ôtô, thuốc đánh răng và xà phòng thơm.

Thời kỳ kế hoạch 5 năm (1991 – 1995)

Mặc dù khu vực ngoài quốc doanh phát triển mạnh, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng các doanh nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo, chiếm tỷ trọng 74,4%, trong đó hai Tổng công ty Hóa chất chiếm 43%.

Khu vực công nghiệp địa phương trong sản xuất với số lượng doanh nghiệp còn rất ít, nhưng cũng có một vị trí đáng kể trong ngành. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1995 của các liên doanh đã chiếm 13,6% giá trị toàn ngành.

Giai đoạn năm 1995 -2009

Giai đoạn này, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đã tăng nhanh năng lực sản xuất, kinh doanh, tiếp tục đóng góp lớn cho việc bảo đảm cung ứng nhiều sản phẩm hàng hoá thiết yếu cho nền kinh tế; tạo nguồn thu cho ngân sách; cùng với các Tập đoàn và Tổng Công ty nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ngành sản xuất phân bón và một số lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Quy mô vốn sở hữu của Tổng Công ty từ 2006 đã tăng lên đáng kể. Năm 2006, tổng vốn chủ sở hữu của Tổng Công ty là 4.342 tỷ đồng, cuối năm 2008 đã đạt 6.818 tỷ đồng, tăng 56,79; các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều vượt so với kế hoạch đề ra, duy trì được tốc độ tăng trưởng. Tính đến thời điểm 30 tháng 11 năm 2009, ngoài Công ty mẹ, Tổng Công ty có 10 Công ty con mà Tổng Công ty giữ 100% vốn điều lệ, 10 Công ty trên 50% vốn điều lệ, 11 Công ty liên kết và 4 Công ty liên danh với nước ngoài, một Trường cao đẳng và một Viện nghiên cứu, phát triển.

Những năm gần đây, trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập ngày càng sâu rộng, phải cạnh tranh ngày càng gay gắt cả trong nước và quốc tế, Tổng Công ty có những phát triển vượt bậc và toàn diện trên các mặt sản xuất, kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ bản, lao động sáng tạo, ứng dụng thành tựu KHCN, bảo vệ môi trường, công tác xã hội từ thiện ….

Tổng Công ty đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực đất nước, mỗi năm cung cấp cho nông dân 1,4 triệu tấn phân chứa lân gồm supe photphat và phân lân nung chảy; đáp ứng 100% nhu cầu của cả nước; khoảng 1,4 – 1,6 triệu tấn phân NPK các loại và 150 nghìn tấn phân đạm. Ngoài phân bón, các ngành như cao su (săm lốp ôtô, xe đạp, xe máy); chất giặt rửa, các sản phẩm điện hóa (pin, ắcquy), hoá chất cơ bản (xút, axít …) cũng được phát triển. Trong 10 năm 1998-2008, tốc độ tăng trưởng bình quân của Tổng Công ty là 11,13%, chiếm tỷ trọng 10%, giữ vị trí đáng kể trong toàn ngành công nghiệp.

NGÀNH CÔNG NGHIỆP HÓA CHẤT VÀ CÁC NHÀ MÁY SẢN XUẤT HÓA CHẤT CÔNG NGHIỆP -

Ngày 23/12/2009, Thủ tướng Chính Phủ ban hành Quyết định số 2180 TTg thành lập Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (VINACHEM) và ngày 20 tháng 1 năm 2010, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đã làm lễ ra mắt tại Hà Nội. Tập đoàn Hóa chất Việt Nam là doanh nghiệp đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chi phối, hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con, được thành lập theo trên cơ sở xắp xếp, tổ chức lại Tổng công ty Hóa chất Việt Nam.

Năm 2000 giá trị tổng sản lượng của công ty đạt 6.227 tỉ đồng, tăng 19,7% so với năm 1999. (theo Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam)

Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, những cải cách kinh tế đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp – nông nghiệp. Nhu cầu về nguyên liệuhoá chất cũng ngày càng tăng với tốc độ tăng trưởng sản xuất hoá chất hằng năm là 15%. Sự tăng trưởng kinh tế đó đẫn đến gia tăng lượng chất thải và phát sinh nhiều chủng loại chất thải độc hại.

Tình trạng đó đã tác động đến môi trường. Việt Nam đang trong tình trạng thiệt hại về môi trường ở mức cao (khoảng 10% GDP) và giá trị này đang có khuynh hướng gia tăng (theo TS. Trương Mạnh Tiến). Các dây chuyền sản xuất hoá chất hoặc có sử dụng hoặc thiếu nhiều trang bị an toàn. Công nghệ sản xuất sạch hơn trong sản xuất hoá chất còn chưa được áp dụng rộng rãi.

Nhiều hoá chất độc hại trong dây chuyền chưa được thay thế. Các cơ sở sản xuất còn thiếu hệ thống xử lý chất thải.

Nổi bật là vụ rò rỉ khí mêtan ngày 11/01/1999 ở mỏ than Mạo Khê, Quảng Ninh làm 19 người chết, 12 người bị thương; hay vụ ngạt khí mêtan ngày 06/07/2000 tại công ty thủy sản Cam Ranh, Khánh Hoà làm 4 người chết (theo “hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000”, báo cáo của Bộ KHCN&MT trình Quốc hội khoá X). Vấn đề môi trường ở các nhà máy sản xuất hoá chất thường xuyên được đặt ra. Tại mỗi nhà máy cần có những đánh giá tình trạng môi trường và hiệu quả của những biện pháp kiểm soát môi trường tại cơ sở.

Công nghiệp Việt Nam đặt ra nhu cầu về xử lý – tận dụng chất thải của ngành hoá chất và đây cũng là nhiệm vụ của ngành hoá chất trong quá trình xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững.

So với các nước Đông Nam Á khác như Indonexia, Thái Lan, Xingapo thì công nghiệp hoá chất Việt Nam hãy còn nhỏ bé. Cho tới nay, chúng ta chỉ mới khai thác dầu thô, đang xây dựng nhà máy lọc dầu. Có công nghiệp hoá dầu mới phát triển mạnh các ngành sản xuất hoá chất hữu cơ và sản phẩm từ háo chất hữu cơ như sản xuất phân đạm, sợi hoá học, sơ, chất dẻo… Khai thác khoáng sản ở ta cũng chưa phát triển, chỉ ở mức xuất khẩu quặng, chưa có công nghệ chế biến tiên tiến. Ngành sản xuất hoá chất vô cơ chưa đáp ứng nhu cầu trong nước.

Sự ra đời của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam là một dấu ấn quan trọng, một bước ngoặt lịch sử, tạo ra thế và lực mới để phát triển Ngành hóa chất Việt Nam trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21.

Khác với đóng góp trực tiếp vào nông nghiệp. Công nghiệp hóa chất đóng góp gián tiếp cho hầu hết mọi lĩnh vực của mỗi nền kinh tế. Trong cuộc sống hàng ngày, con người sử dụng rất nhiều sản phẩm công nghiệp và hầu hết trong đó có liên quan đến Công nghiệp hóa chất theo cách này hay cách khác.

Sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng khoảng 10% hóa chất trực tiếp, nhưng các ngành khác gián tiếp tham gia vào hàng tiêu dùng cũng sử dụng đáng kể các sản phẩm hóa học.

Các sản phẩm hóa chất thông thường bao gồm bột màu, cao su tổng hợp, polyme, nhựa và chất nổ. Nhựa, muối, axit và phân bón là những sản phẩm được sử dụng rộng rãi và gắn bó cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của con người. Các ngành công nghiệp hàng tiêu dùng, nông nghiệp và các nhà sản xuất đều sử dụng các sản phẩm này.

Nguồn: eiindustrial.com

2021-11-12 / by / in
NGÀNH HÓA CHẤT: ƯU TIÊN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Công tác cải cách hành chính của Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) thời gian qua được các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp đánh giá cao bởi đã loại bỏ và đơn giản hóa nhiều điều kiện, thủ tục hành chính

Theo Cục Hóa chất, năm 2018, Cục đã thực hiện hủy bỏ, bãi bỏ 24 TTHC, công bố ban hành mới 18 TTHC trong lĩnh vực hóa chất. Trong đó, 18/18 TTHC được áp dụng trên môi trường mạng internet từ cấp độ 3 trở lên; 4 TTHC áp dụng cơ chế hải quan 1 cửa quốc gia (khai báo hóa chất; cấp Giấy phép xuất nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp; cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất thuốc nổ và cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất công nghiệp); 2 thủ tục cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất thuốc nổ và cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất công nghiệp chính thức triển khai trên cơ chế một cửa quốc gia từ ngày 24/12/2018.

Thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa TTHC, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh quốc gia, Cục Hóa chất rà soát, đề xuất bãi bỏ và đơn giản hóa 46/130 điều kiện sản xuất, kinh doanh (tương đương với 35,4%).

Ông Nguyễn Văn Thanh – Cục trưởng Cục Hóa chất – cho biết, từ ngày 7/1/2019, Thông tư số 49/2018/ TT-BCT bãi bỏ Thông tư số 42/2013/TT-BCT ngày 31/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định quản lý, kiểm soát tiền chất trong lĩnh vực công nghiệp có hiệu lực, các tổ chức, cá nhân trong khu chế xuất khi nhập khẩu tiền chất từ doanh nghiệp nội địa và tổ chức, cá nhân khi xuất khẩu tiền chất từ nội địa vào khu chế xuất sẽ không phải xin Giấy phép xuất, nhập tiền chất công nghiệp. Như vậy, theo thống kê của Cục Hóa chất, sẽ giảm khoảng 6.000 hồ sơ/năm, tương đương 50% hồ sơ mà doanh nghiệp không phải xin cấp phép xuất nhập khẩu tiền chất công nghiệp.

“Thời gian trả kết quả TTHC giảm từ 7-10 ngày (tùy từng TTHC) xuống chỉ còn 3-5 ngày. Riêng khai báo hóa chất, chỉ sau khoảng 15 giây điền đầy đủ thông tin trên internet, tổ chức, cá nhân sẽ nhận được kết quả phản hồi tự động”- ông Nguyễn Văn Thanh thông tin.

Tiếp tục rà soát, bãi bỏ

Cục Hóa chất đang tiếp tục thực hiện các TTHC được công bố trong bộ TTHC thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương; rà soát TTHC trong lĩnh vực phụ trách để hoàn thành các phương án đơn giản hóa TTHC trong những năm tiếp theo.

Cụ thể, Cục Hóa chất đang tiến hành rà soát để bãi bỏ một số điều kiện đầu tư trong lĩnh vực hóa chất và tiền chất thuốc nổ phục vụ xây dựng Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.

Ông Nguyễn Văn Thanh nhấn mạnh, năm 2019, Cục Hóa chất tiếp tục hoàn thành xây dựng Nghị định xử phạt trong lĩnh vực hóa chất, thông tư quy định về quản lý tiền chất thuốc nổ; Nghị định về việc thực hiện Công ước Minamata về thủy ngân; hoàn thiện Đề án xây dựng quyết định sửa đổi bổ sung một số điều của quy chế hoạt động ứng phó sự cố hóa chất độc ban hành kèm theo Quyết định số 26/2016/ QĐ-TTg ngày 1/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Rà soát, đơn giản hóa TTHC và thực hiện qua dịch vụ công trực tuyến đã mang lại những kết quả nhất định: Tiết giảm thời gian, nhân lực, chi phí, đồng thời tăng độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

2021-11-12 / by / in
Phát huy tiềm năng của ngành công nghiệp hóa chất

Ngành hóa chất là ngành công nghiệp có đóng góp quan trọng trong hầu hết các hoạt động công nghiệp; góp phần quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực và đồng hành, hỗ trợ quá trình công nghiệp hoá, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Vì vậy, trong bối cảnh mới đòi hỏi phải có những định hướng, giải pháp phù hợp để ngành công nghiệp này phát triển tương xứng với tiềm năng.

Hóa chất là ngành công nghiệp quan trọng 
Theo Cục trưởng Cục Hóa chất Nguyễn Văn Thanh, tổng sản lượng công nghiệp hoá chất Việt Nam hàng năm chiếm khoảng 10-11% tổng giá trị GDP ngành công nghiệp, lực lượng lao động chiếm gần 10% và có năng suất lao động cao 1,36 lần năng suất lao động trung bình của toàn ngành công nghiệp do có mức độ tự động hoá khá cao.Theo tính toán, sau khi các dự án đang triển khai hoàn thành và hoạt động ổn định, giá trị tổng sản lượng ngành công nghiệp hóa chất chiếm tỷ trọng từ 13-14% toàn ngành công nghiệp.

Thực tế cho thấy, công nghiệp hóa chất đòi hỏi quy mô đầu tư rất lớn, yêu cầu công nghệ cao, nghiêm ngặt và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp còn hạn chế về tiềm lực kinh tế, đầu tư nhỏ lẻ, dàn trải, thiếu công nghệ nguồn.

Ở nhiều địa phương, sự nhìn nhận về vai trò, tầm quan trọng của phát triển công nghiệp hóa chất chưa đầy đủ, lo ngại nguy cơ ô nhiễm và nguy hiểm, dẫn đến chủ trương phát triển của nhiều địa phương là không thu hút đầu tư công nghiệp hóa chất, thay vào đó là một số ngành nghề dịch vụ, du lịch, công nghiệp chế biến chế tạo khác.

Tin tức hoá chất công nghiệp | Hóa chất phân bón BTC

Những quan niệm trên gây khó khăn cho các nhà đầu tư, cản trở sự phát triển của công nghiệp hóa chất. Trong khi đó, công nghiệp hóa chất là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, làm tiền đề hỗ trợ cho nhiều ngành công nghiệp cũng như cung cấp các sản phẩm thiết yếu quan trọng khác.

Một rào cản nữa hiện nay là công tác quản lý ngành chưa hiệu quả, thiếu thông tin và cơ chế phối hợp cung cấp thông tin giữa các cơ quan trung ương, địa phương chưa đảm bảo thông suốt nên nhiều trường hợp doanh nghiệp, nhà đầu tư không nắm bắt được thông tin.

Do đó, Cục Hóa chất đang triển khai xây dựng Chiến lược phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam. Dự kiến, Chiến lược sẽ có đủ thông tin dữ liệu của mỗi phân ngành, những giải pháp phù hợp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình quản lý và phát triển ngành – ông Thanh cho biết.

Tìm hướng đi và giải pháp cho ngành công nghiệp hóa chất

Một tín hiệu đáng mừng được ghi nhận là những năm gần đây, ngành hóa chất có sự tham gia đầu tư của nhiều thành phần kinh tế, nhiều dự án quy mô lớn. Điều đó cho thấy nhu cầu của thị trường và chính sách hấp dẫn của Nhà nước đối với phát triển công nghiệp và công nghiệp hoá chất.

Trao đổi với các Hiệp hội, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hóa chất và các đơn vị chức năng liên quan, Bộ trưởng Công Thương Nguyễn Hồng Diên nhận định, đóng góp của ngành công nghiệp hóa chất còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng.

Một trong những bất cập được chỉ ra là ngành công nghiệp hóa chất chưa tận dụng tối ưu nguồn tài nguyên, nguyên liệu trong nước dẫn tới chưa làm chủ được thị trường nội địa. Nhiều sản phẩm hóa chất quan trọng phục vụ phát triển sản xuất phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Một phần nguyên nhân là do đặc thù ngành sản xuất hóa chất cần mức đầu tư lớn.

Để phát triển công nghiệp hóa chất trở thành một ngành công nghiệp nền tảng cho phát triển kinh tế đất nước, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho rằng, cần phải khẩn trương và tập trung cao để nghiên cứu đề xuất, hoàn thiện Chiến lược phát triển ngành hóa chất Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045. Đồng thời, xây dựng kế hoạch để phân kỳ tổ chức thực hiện, đặc biệt chú trọng phát triển các lĩnh vực, sản phẩm ưu tiên, bao gồm các sản phẩm hóa chất có nhu cầu lớn, giá trị gia tăng cao, có lợi thế đảm bảo an ninh lương thực, an ninh y tế.

Thực trạng về ngành công nghiệp hóa chất ở việt nam hiện nay | CÔNG TY TNHH H2CHEMICAL VIỆT NAM

Cùng với đó, cần tập trung nghiên cứu lựa chọn địa điểm dự án phù hợp, đề xuất các ngành, cơ quan chức năng và các địa phương bổ sung trong quá trình quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch quốc gia đối với ngành hóa chất và công nghiệp hóa chất.

Theo quan điểm của Bộ Công Thương, cần thu hút đầu tư theo hướng hình thành các tổ hợp sản xuất kinh doanh hóa chất tập trung, có hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, đảm bảo yêu cầu về an toàn, môi trường và có tính đến các yếu tố kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, yêu cầu tất yếu đặt ra là phải đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ, khuyến khích nghiên cứu khoa học, công nghệ trong ngành hóa chất, tập trung vào việc sử dụng các sản phẩm phụ, chất thải hiện có của ngành làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất các sản phẩm khác.

Trước thực trạng một số dự án đầu tư, nhà đầu tư vận hành dự án chưa tuân thủ quy định về đầu tư xây dựng và an toàn hóa chất, Bộ Công Thương cũng định hướng sẽ đề xuất xây dựng giải pháp phát triển công nghiệp hóa chất xanh, hiện đại, thân thiện với môi trường, đảm bảo an toàn cho con người. Kèm theo đó là các chính sách để phát triển và quản lý mạng lưới các tổ chức tư vấn đầu tư, hỗ trợ cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp trong việc thực hiện các quy định về quản lý hóa chất.

Nguồn: baokiemtoannhanuoc.vn
2021-11-12 / by / in
Bữa cơm cho công nhân chỉ 15.000 đồng sao đủ chất

“15.000 đồng/bữa ăn là quá thấp, không còn phù hợp, không đảm bảo dinh dưỡng cho công nhân. Cần phải nâng lên 20.000-25.000 đồng”, ông Nguyễn Quốc Đang – một chủ tịch công đoàn ở quận 7 (TPHCM) nói.

15.000 đồng/bữa ăn là quá thấp

Theo dự thảo báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết 7c/NQ-BCH ngày 25/2/2016, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cho biết hầu hết các doanh nghiệp đã thực hiện giá trị bữa ăn ca bằng hoặc cao hơn mức 15.000 đồng/bữa. Tuy vậy, không ít doanh nghiệp vẫn duy trì bữa ăn dưới 15.000 đồng/bữa và hàng triệu người lao động chưa được hỗ trợ bữa ăn ca.

Trước thực trạng trên, nhiều chuyên gia kinh tế, doanh nghiệp cho rằng cần nâng cao mức tiền ăn tối thiểu để phù hợp với thực tế. Các doanh nghiệp cần tập trung hơn nữa để bữa cơm của công nhân đảm bảo no, an toàn và giàu dinh dưỡng hơn.

“Mức giá 15.000 đồng đã triển khai 5 năm rồi, nay giá thực phẩm đã tăng cao hơn rất nhiều. Nếu cứ giữ mức giá này công nhân, người lao động sẽ thiệt thòi. Với mức giá này, công nhân chỉ ăn được vài món, ăn đi ăn lại đến phát ngán nhưng họ đói nên phải ăn để lấy sức làm việc. Tôi đề xuất nâng mức tối thiểu lên 20.000 đồng-25.000 đồng đối với từng khu vực”, ông Nguyễn Quốc Đang – Chủ tịch Công đoàn một doanh nghiệp ở quận 7, chia sẻ.

Doanh nghiệp nơi ông Đang đang làm việc có khoảng 1.300 công nhân. Trung bình mỗi bữa ăn của người lao động khoảng 18.000 đồng/bữa trưa và 19.000/bữa tối. Tuy vậy, người lao động vẫn chưa thực sự hài lòng về bữa ăn công ty đang triển khai.

Bữa cơm cho công nhân chỉ 15.000 đồng sao đủ chất - 2

“Giờ người lao động không chỉ ăn no mà còn phải ăn đủ chất, 15.000 đồng hay 17.000 đồng thì làm sao đủ chất. Thiết nghĩ cần phải có quy định để nâng tiền ăn tối thiếu bữa lên để người lao động được chăm sóc tốt hơn. Doanh nghiệp chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng một phần doanh thu nhưng họ đổi lại là hiệu quả trong công việc của công nhân, người lao động”, ông Đang phân tích thêm.

Ông Nguyễn Quốc An – Giám đốc công ty ANS ở quận 12 – nhận định: “15.000 đồng/bữa ăn là quá thấp nhưng có quy định nên các doanh nghiệp cứ bám vào đây để triển khai thì công nhân sẽ thua thiệt. Cần phải tăng lên 20.000 đồng hoặc cao hơn nữa, kèm theo điều kiện trượt giá theo từng năm. Thời buổi này không chăm công nhân kỹ họ sẽ bỏ đi, lúc này doanh nghiệp sẽ phải chịu tổn thất. Chúng tôi chấp nhận giảm bớt lợi nhuận để tăng tiền ăn cho công nhân”.

Bữa cơm cho công nhân chỉ 15.000 đồng sao đủ chất - 3

Không dám mơ bữa ăn đủ chất

Là công nhân may ở TPHCM đã 12 năm, chị Nguyễn Thế Thùy Dương (38 tuổi, quê Vĩnh Long) đã chuyển việc 4 lần. Một lần chuyển việc do xa nhà, 3 lần chuyển việc do bất bình về chất lượng các bữa ăn.

“Tôi là con nhà nghèo, lên TPHCM mưu sinh nên chẳng dám mơ ăn ngon, ăn đủ chất dinh dưỡng. Tôi chỉ muốn ăn uống no, hợp vệ sinh là mãn nguyện rồi. Tuy vậy, không phải công ty nào cũng quan tâm đến việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm”, chị Dương tâm sự.

Chị Dương cho rằng, nhiều doanh nghiệp đã thay đổi bữa ăn cho công nhân hơn lúc chị mới lên TP rất nhiều. Tuy vậy, không ít công nhân vẫn phải ấm ức vì bữa ăn chỉ “lèo tèo ít rau và vài miếng thịt mỏng như tờ giấy”. Thậm chí, tình trạng đồ ăn có “dị vật” hay ôi thiu vẫn xuất hiện trong bữa ăn của công nhân.

Bữa cơm cho công nhân chỉ 15.000 đồng sao đủ chất - 4

“Phải làm công nhân mới hiểu hết được bữa ăn ở trên công ty quan trọng thế nào. Có thể giảm một chút lương để thêm thức ăn chúng tôi cũng đồng ý. Tuy vậy, nếu công ty không giảm lương mà nâng cao chất lượng bữa ăn, chúng tôi cảm ơn rất nhiều”, anh Thanh Tùng, công nhân ở quận Bình Tân chia sẻ.

Theo anh Tùng, nhiều nam công nhân sau bữa cơm ở công ty vẫn phải ra ngoài ăn thêm vì không đủ no. Nhiều người nấu cơm ở nhà mang đi để tiết kiệm, có trường hợp mua bánh mì, bánh ngọt để sẵn.

“Mình phải ăn 4 chén mới no được nhưng cơm ở công ty chỉ được hơn một chén, ăn không đủ no. Nhiều chị em phụ nữ lại dư cơm nên san sẻ cho anh em. Nếu ăn không no thì ra ngoài mua bánh mì, bánh bao hoặc mì tôm ăn rồi tranh thủ vô công ty nghỉ ngơi trước khi làm việc. Công nhân mà được ăn no, ăn sạch là mừng rồi”, anh Tùng thông tin thêm.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-11 / by / in ,
Đề nghị tăng 7,4% lương hưu từ ngày 1/1/2022

Trả lời chất vấn trước Quốc hội chiều 10/11, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung cho biết sẽ đề xuất điều chỉnh tăng 7,4 % lương hưu từ 1/1/2022 chứ không chờ tới 1/7/2022.

Tại phiên chất vấn, đại biểu Vương Thị Hương, đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang đưa ra câu hỏi: “Người nghỉ hưu trước 1995 đã cao tuổi và mức lương hưu rất thấp. Trước tác động của dịch Covid-19, nhiều người vẫn chật vật với khó khăn của cuộc sống và là đối tượng dễ bị tổn thương. Vậy, Bộ trưởng sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?”.

Trả lời câu hỏi của đại biểu, Bộ trưởng cho biết, vấn đề điều chỉnh lương hưu đã được nhắc tới nhiều ở nhiệm kỳ Quốc trước và tới Nghị quyết 34 của Quốc hội cũng đã đề cập tới vấn đề này. Trong điều kiện tình hình dịch bệnh hiện nay, Chính phủ đã báo cáo với Quốc hội và tạm dừng vấn đề cải cách tiền lương.

Tuy nhiên trong đề xuất của Chính phủ với Quốc hội, Bộ trưởng khẳng định, nội dung điều chỉnh lương hưu vẫn được đề cập tới, đặc biệt là quan tâm tới những người nghỉ hưu trước năm 1995 và những người có lương hưu thấp.

Bộ trưởng giải thích thêm: “Đây là vấn đề đã từng được Bộ đề cập và tôi không quên việc thực hiện lời hứa này. Thời gian qua, Bộ tổ chức nhiều cuộc đánh giá về vấn đề lương hưu. Cho tới lúc này, Chính phủ đang lấy ý kiến các thành viên Chính phủ về việc này”.

Đề xuất tăng 15% lương hưu, trợ cấp hàng tháng cho 8 nhóm đối tượng - Báo  Người lao động

Về lộ trình, Bộ trưởng cho biết: “Tôi tin là trong tháng 12 năm nay, Bộ sẽ trình Thủ tướng xem xét. Hiện nay trước tình hình khó khăn hiện nay, nhiều người nghỉ hưu gặp khó khăn, Bộ đang đề nghị Chính phủ nghiên cứu xem xét việc điều chỉnh tăng từ 1/1/2022 chứ không chờ tới thời điểm 1/7/2022, như thường lệ”.

Theo đó, lương hưu dự kiến được đề nghị tăng thêm 7,4% so với mức của tháng 12/2021. Tổng số kinh phí điều chỉnh là khoảng 12.650 tỷ đồng.

“Trong đó ngân sách Nhà nước sẽ đầu tư và bổ sung cho người nghỉ hưu trước năm 1995 là 3.648 tỷ đồng”. Với những người đã được điều chỉnh tăng nhưng lương vẫn dưới 2,5 triệu đồng/tháng, Bộ sẽ đề xuất bổ sung lên tối thiểu 250.000 đồng/người nhưng trường hợp hỗ trợ cao nhất cũng không vượt quá mức lương 2,5 triệu đồng/tháng.

Cũng tại phiên chất vấn, Bộ trưởng cho biết thêm: “Thủ tướng đã đồng ý về chủ trương. Do đó, Bộ sẽ cố gắng hoàn thiện thủ tục và hồ sơ trình Chính phủ trước ngày 1/1/2022…”.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-11 / by / in
Công nhân lo “mất” Tết nếu không được tăng ca

“Giờ chỉ mong công ty có đơn hàng liên tục để được đi làm đều, kiếm tiền trả nợ. Làm xuyên Tết cũng được, tăng ca 8 giờ/ngày cũng được, nghỉ mấy tháng ở nhà, nợ chồng chất rồi”, chị An tâm sự.

1. Không được tăng ca, không mơ Tết

Những ngày qua, trên các diễn đàn tâm sự công nhân có nhiều chia sẻ về “Kiến nghị tăng số giờ làm thêm lên 400 giờ/năm”. Theo các chuyên gia, doanh nghiệp thì việc nới “trần” làm thêm 300 giờ/năm lúc này là để bù đắp việc thiếu hụt lao động sau dịch Covid-19. Với nhiều công nhân, đây là hướng giải quyết giúp họ có thêm tiền trang trải chi phí. Người lao động chấp nhận làm thêm vì “không có tiền khổ lắm”.

Chị Nguyễn Thùy An (ngụ tại Quận 12, công nhân khu chế xuất Linh Trung) bày tỏ, 4 tháng nghỉ dịch, nhiều công nhân đã lâm vào cảnh khó khi bị ngưng việc, mất việc. Bản thân chị cũng nợ bạn bè gần 20 triệu đồng sau thời gian giãn cách. Từ đầu tháng 10, dù đã đi làm trở lại nhưng thu nhập của chị vẫn chưa thực sự ổn định.

“Công nhân như chúng tôi 10 người thì 9 người có hoàn cảnh khó khăn, vừa nuôi gia đình vừa phụ giúp cha mẹ ở quê, lương hàng tháng lĩnh xong, có khi chỉ một tuần là sạch trơn. Chúng tôi mong làm thêm càng nhiều càng tốt. Tăng 6 giờ, 8 giờ mỗi ngày cũng được, cứ có tiền là công nhân chấp nhận, mệt chút nhưng có tiền vẫn vui”, chị An cho hay.

Theo chị An, càng gần Tết, công nhân càng mong được tăng ca nhiều. Nếu cuối năm mà công ty không yêu cầu tăng ca, nhiều công nhân buồn ra mặt.

Công nhân lo mất Tết nếu không được tăng ca - 2

“Cận Tết mà không tăng ca là Tết không vui rồi, tiền ít sao vui được. Nhiều người còn mong được tăng ca xuyên Tết. Năm nay chắc ít người về quê nên tăng ca vừa có thêm tiền, vừa đỡ buồn khi ở lại thành phố ăn Tết. Tiền tăng ca để gửi về quê cho bố mẹ, để trả nợ”, chị An nói thêm.

Cùng tâm sự như chị An, chị Trần Thị Lụa (công nhân ở quận Tân Phú) nhấn mạnh: “Chưa khi nào công nhân, người lao động mong được tăng ca như năm nay. Tăng ca càng nhiều công nhân càng thích. Dịch Covid-19 khiến nhiều công nhân đã nghèo nay còn nghèo hơn. Dù vẫn được hỗ trợ nhưng chúng tôi cũng mong muốn kiếm được đồng tiền do chính tay mình làm ra”.

Chị Lụa cho biết, hơn 10 năm mưu sinh ở TPHCM, chưa năm nào chị không về quê dịp Tết. Tuy vậy, năm nay chị chấp nhận ăn Tết xa nhà vì “thực sự không còn tiền, không dám mơ Tết, nghĩ đến Tết là sợ”. Năm nay, hai vợ chồng dự định sẽ làm xuyên Tết để kiếm tiền trả nợ và mua thêm đồ dùng học tập cho 3 con.

2. Giải pháp tạm thời

Ông Huỳnh Bảo Toàn (Giám đốc doanh nghiệp nội thất ở Quận 12) cho rằng, việc nới “trần” giờ làm thêm cần phải được nghiên cứu kỹ để đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp và người lao động.

“Tăng thời gian làm thêm thì phải hài hòa giữa lợi nhuận của doanh nghiệp và người lao động. Làm thêm càng nhiều giờ thì càng cần phải có chính sách hỗ trợ đặc biệt cho người lao động, không chỉ tăng tiền lương mà còn phải tăng dinh dưỡng bữa ăn, hỗ trợ tiền phòng trọ… để công nhân an tâm sản xuất, đạt năng suất cao”, ông An chia sẻ.

Từ thực tế, ông Toàn nhận định, hiện rất nhiều doanh nghiệp cần người lao động tăng giờ làm để kịp hồi phục sản xuất. Đặc biệt, dịp cuối năm, các doanh nghiệp sẽ phải “gồng mình” kéo lỗ cho thời gian giãn cách nên việc tăng giờ làm là thực sự cấp bách. Chưa dừng lại ở đó, năm 2022, các doanh nghiệp cũng sẽ luôn cần lao động để khôi phục sản xuất nhằm đáp ứng thị trường sau dịch.

“Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng đã khuyến khích kéo dài thời gian làm thêm nhưng phải đảm bảo phòng tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Họ nhấn mạnh đến sức khỏe của người lao động vì nếu thu nhập tăng mà sức khỏe giảm thì không còn ý nghĩa. Tuy vậy, đây cũng chỉ là giải pháp nhất thời, về lâu dài, các doanh nghiệp vẫn cần chú trọng tăng năng suất lao động hơn là tăng thời gian lao động”, ông Toàn thông tin thêm.

Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Ngọ Duy Hiểu cũng cho rằng việc nới “trần” thời gian làm thêm trong tháng, trong năm chỉ nên là giải pháp tạm thời. Công đoàn Việt Nam đề nghị chỉ nên quy định thời gian áp dụng việc tăng giờ làm thêm trong 2 năm từ 1/1/2022 – 31/12/2023. Nếu được áp dụng, thời gian làm thêm của người lao động có thể lên đến 104 giờ/tháng, gấp 2,5 lần so với bình thường.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-11 / by / in
Mục tiêu của Quy hoạch ngành công nghiệp hóa chất trong tương lai

Ngành kinh tế Việt Nam hầu như phụ thuộc vào nền nông nghiệp và ngành công nghiệp hóa chất mới xuất hiện. Kết quả là, cả nước phải nhập khẩu các hóa chất nông nghiệp và các sản phẩm hóa chất khác.

Ngành hóa chất Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn trứng nước khi chỉ sản xuất các loại hóa chất cơ bản hạn chế. Hóa chất sử dụng cho ngành công nghiệp không đáp ứng được nhu cầu nội địa và chỉ đủ dùng cho sản xuất thuốc trừ sâu và các loại sản phẩm cơ bản khác. Ngoài ra, trong nước không sản xuất hóa chất tinh khiết và đặc biệt. Về mặt hóa chất, mỗi năm có khoảng từ 70% nhu cầu u rê được nhập khẩu trong khi amoni phosphate nhập khẩu 100%.

Công nghệ sản xuất hóa chất của Việt Nam bị xem là lạc hậu so sánh với cả thế giới nói chung. Sản phẩm hóa chất có hiệu suất ít cạnh tranh hơn với các nước trong cùng khu vực và Việt Nam ít có nhận thức cao về rủi ro hóa học. Điều đó dẫn đến việc mất mát các tài nguyên thiên nhiên và cả nước cũng đối mặt với vấn đề 6 nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hiện tại, thị trường hóa chất nông nghiệp Việt Nam chiếm chừng 0.5% thị trường quốc tế.

Cơ hội đầu tư vào lĩnh vực hóa chất:

Mục tiêu của Quy hoạch ngành công nghiệp hóa chất

Ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đang vươn mình lớn mạnh với tỉ lệ tăng trưởng mỗi năm 12%, trở thành một trong những ngành kinh tế trọng điểm và được ưu tiên để đáp ứng các nhu cầu cho các ngành công nghiệp khác và nền kinh tế nói chung. Sản xuất chất tẩy rửa và mỹ phẩm đang được mở rộng nhanh chóng ở Việt Nam. Những công ty Việt Nam như NET, LIX, Daso và các liên doanh cũng như các công ty với 100% vốn nước ngoài chẳng hạn Lever Việt Nam, P&G cung đã mang lại cho người tiêu dùng các sản phẩm mới chất lượng và mẫu mã đẹp. Việc sản xuất sơn và các sản phẩm cao su cũng tăng là kết quả của các công ty như Đông Á, Đồng Nai và Casumina.

 

Ngành công nghiệp hóa chất rất quan trọng cho sự phát triển của những ngành công nghiệp khác. Theo Nghị quyết 207/2005/QD-TTg, Thủ tướng đã phê duyệt kế hoạch phát triển ngành hóa chất đến 2010 và phát triển tận 2020. Theo quyết định này, ngành công nghiệp hóa chất được xem là một trong những ngành then chốt và được ưu tiên. Vì thế, tất cả các nguồn lực trong và ngoài nước sẽ tập trung vào toàn diện ngành hóa chất, bao gồm các lĩnh vực chủ yếu như phân bón, cao su thông dụng và chuyên dụng, hóa chất cơ bản (bao gồm hóa chất hữu cơ và vô cơ), hóa dầu, hóa chất tinh khiết, hóa dượng và hóa chất tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu nội địa và yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực và cả thế giới.

 

Thêm vào đó, kế hoạch đã khuyến khích việc áp dụng công nghệ hiện đại cho sản phẩm hóa chất chất lượng cao với giá cả cạnh tranh và giảm thiểu các tác động bất lợi của việc sản xuất hóa chất lên môi trường. Ngoài ra, kế hoạch phát triển cũng phải đi đôi với việc chuyển đổi cơ cấu ngành công nghiệp và kinh tế nói chung.

Tái cơ cấu Tập đoàn Hóa chất Việt Nam - Báo điện tử của Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương

Bộ kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản (Meti) và Bộ công nghiệp và thương mại Việt Nam bắt đầu hợp tác ngày 15 tháng Bảy. “Luật hóa chất” là một phần của kế hoạch an toàn hóa chất bền vững tại châu Á, do Nhật Bản đề xuất tại hội nghị thường đỉnh Nhật Bản- ASEAN tháng Mười, 2010, nhằm đảm bảo các nước châu Á đưa vào hệ thống quản lí hóa chất dựa trên đánh giá rủi ro khoa học. Luật hóa chất dự đoán sẽ giúp Việt nam xây dựng, cũng cố hệ thống quản lí thông qua các chính sách đối thoại cũng như hỗ trợ kĩ thuật được thiết kế để giúp xây dựng chính sách và qui định.

Đây là những nội dung thiết thực của sự hợp tác:

 

_Phát triển kế hoạch thực hiện lắp đặt hệ thống quản lí hóa chất dựa trên đánh giá và quản lí rủi ro.

 

_Phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu cho hóa chất và danh sách hóa chất để hỗ trợ việc thực hiện Luật hóa chất tại Việt Nam.

 

_Cung cấp các kiến nghị và nguyên tắc chỉ đạo phát triển tài liệu thực hiện, chẳng hạn như hướng dẫn cho Luật hóa chất bao gồm văn bản thực hiện cho Hệ thống hài hòa toàn cầu về phân loại và ghi nhãn cho hóa chất (GHS).

 

_Khóa đào tạo cho các cán bộ chính phủ và doanh nghiệp tư nhân để phát triển năng lực đánh giá và quản lí rủi ro hóa chất.

 

_Khóa đào tạo cho quản lí an toàn hóa chất độc hại trong nhà máy.

 

UNDP và Việt Nam hợp tác:

Cục hóa chất- Bộ công thương Việt Nam (VCA) dưới Bộ công nghiệp và thương mại cùng chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP) ngày 31/10 đã hợp tác khởi động dự án quản lí hóa chất. UNDP và chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEP) đã tài trợ kinh phí hơn 400,000 USD. Ngoài ra, dự án cũng củng cố lại năng suất để hợp nhất các phương pháp quản lí hóa chất tối ưu trong quá trình phát triển và lập kế hoạch (SAICM). Nguyên nhân do dự án này là UNDP thấy rằng dù ngành công nghiệp hóa chất tại Việt Nam chỉ chiếm chừng 10% giá trị sản xuất công nghiệp Việt Nam và sử dụng 10% số lao động công nghiệp, nhưng có thể gây ảnh hưởng xấu lên môi trường và sức khỏe con người. Điều đó chứng minh rằng sự quản lí hóa chất tại Việt Nam cần nhiều hỗ trợ, sự thiếu liên kết, đồng bộ giữa các Bộ và cơ quan có liên quan, nhận thức thấp về rủi ro hóa học và qui trình an toàn có thể dẫn đến nhiều tái hại xấu. Vì thế, UNDP kì vọng rằng Việt Nam có thể thành lập cơ chế điều phối để quán lí hóa chất tốt ưu cùng phương pháp thống nhất và nâng cao nhận thức đầy đủ giữa chính phủ và các tổ chức liên quan để đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Nguồn: hoachatcongnghiep.com

2021-11-11 / by / in
Tổng quan về ngành công nghiệp hóa chất tại Việt Nam hiện nay

Ngành công nghiệp hóa chất tại Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ. Đặc điểm nổi bật của nó là sự đa dạng về các loại hình sản phẩm nhằm phục vụ cho tất cả các ngành kinh tế kỹ thuật. Nó đóng vai trò quan trọng, góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế của cả nước.

1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngành công nghiệp hóa chất tại Việt Nam

Ngành công nghiệp hóa chất đã không còn quá xa lạ với người dân Việt Nam.

– Năm 1954, nền công nghiệp hóa chất bắt đầu được xây dựng trên quy mô lớn. Trải qua hơn một thập kỷ, nền công nghiệp hóa chất ngày càng phát triển mạnh mẽ và dần trở thành 1 ngành kinh tế về kỹ thuật độc lập.

Lịch sử hình thành và phát triển của ngành công nghiệp hóa chất tại Việt Nam

– Những năm 1980 – 1985, nó dần chiếm được vị thế cao trong toàn bộ ngành công nghiệp Việt Nam.

– Năm 1985, bắt đầu thời kỳ đổi mới, nền công nghiệp hóa chất nước ta phát triển ổn định.

– Từ năm 1992 – 1995, nó đạt mức độ tăng trưởng cao nhất – 20% / năm.

– Những năm cuối thế kỷ XX đến nay, công nghiệp hóa chất nước ta cũng tăng trưởng ở tất cả các thành phần kinh tế.

Ngành công nghiệp hóa chất đã hình thành và phát triển từ rất lâu đời. Vậy hóa chất là gì? Tất cả sẽ được Hoàng Phát JSC sẽ được giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng.

2. Thực trạng của ngành công nghiệp hóa chất ở việt nam hiện nay

Công nghiệp hóa chất là cái tên không qua xa lạ với người dân Việt Nam. Nó có mặt ở khắp các ngành công nghiệp, từ các khâu sản xuất hay ở các xí nghiệp, nhà xưởng đến sản xuất lương thực thực phẩm.

Ngành này có đặc điểm chính là sự đa dạng các sản phẩm, có thể phục vụ cho tất cả các ngành công nghiệp khác. Chính vì thế, nó khai thác các tài nguyên của đất nước. Từ khoáng sản, dầu khí cho đến sản phẩm, phụ phẩm và thậm chí là cả phế thải của công nghiệp, nông nghiệp. Nó đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế của một đất nước

Thực trạng nền công nghiệp hóa chất tại Việt Nam

Sự phát triển mạnh mẽ của ngành này dẫn đến sự gia tăng lượng chất thải, tác độc mạnh mẽ đến môi trường. Không những thế, các dây chuyền về sản xuất hóa chất có thể thiếu nhiều trang bị an toàn, gây nguy hiểm cho người lao động. Đồng thời, các công nghệ làm sạch vẫn chưa được sử dụng rộng rãi. Nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất vẫn còn thiếu hệ thống để xử lý chất thải.

Sự phát triển của ngành càng phát triển mạnh mẽ, chính vì thế các công ty hóa chất mọc lên như nấm. Tuy nhiên không phải công ty nào cũng uy tín chất lượng. Cùng HoangphatJSC tổng hợp top những công ty hóa chất tốt nhất thị trường Việt Nam hiện nay.

3. Đánh giá của nền công nghiệp hóa chất 

Ngành công nghiệp hóa chất của nước ta nhìn chung vẫn còn rất lạc hậu, năng suất lao động thấp. Với một số ngành cơ bản như hóa dầu, hóa hữu cơ về cơ bản chưa hình thành hoặc mới bắt đầu. Nền công nghiệp hóa chất vẫn chưa đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu của các ngành kinh tế khác.

Đánh giá của nền công nghiệp hóa chất ở Việt Nam

Công nghiệp hóa chất ở Việt Nam chủ yếu nhằm phục vụ nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và tiêu dùng. Các ngành đó bao gồm:

– Hóa chất để phục vụ cho nông nghiệp: Phân bón như phân lân, phân đạm, phân NPK,…

– Hóa chất dùng để bảo vệ thực vật

– Hóa chất vô cơ cơ bản: Soda, xút, axit sulfuric, axit photphoric, axit clohydric,…

– Hóa chất của ngành công nghiệp: Đất đèn, oxy, cacbonic, than hoạt tính, amoniac, phụ gia của sản phẩm dầu mỏ, que hàn, nguyên liệu nhựa

– Hóa chất dùng trong tiêu dùng: Xăng dầu, chất tẩy rửa, pin ắc quy, cao su, sơn

Ngành công nghiệp hóa chất của nước ta đang ngày càng phát triển mạnh mẽ. Từng bước xây dựng được nền công nghiệp hóa chất có cơ cấu hợp lý và hiện đại. Liên tục xây dựng hình thành lên các khu công nghiệp tập trung với những công nghệ tiên tiến hiện đại nhất.

Nguồn: hoangphatjsc.com

2021-11-11 / by / in
NHỮNG ĐIỀU BẮT BUỘC PHẢI NHỚ KHI SỬ DỤNG HÓA CHẤT TẨY RỬA CÔNG NGHIỆP

Trong ngành công nghiệp, một số loại chất bẩn, chất thải không thể xử lý được bằng các hóa chất thông thường. Chúng cần đến những loại hóa chất tẩy rửa công nghiệp chuyên dụng. Tuy nhiên, mặc dù có hiệu quả cao trong việc làm sạch nhưng chúng lại chứa nhiều thành phần không tốt cho sức khỏe con người cũng như môi trường xung quanh. Vậy khi sử dụng loại hóa chất này, người dùng phải ghi nhớ những điều gì cho đúng cách, an toàn?

Sử dụng đúng loại hóa chất tẩy rửa công nghiệp đúng công việc của mình

Mỗi một loại hóa chất có công dụng, mục đích sử dụng và chức năng xử lý khác nhau. Có loại dùng để tẩy nấm mốc, có loại sử dụng để làm sạch dầu mỡ,… Do đó, khi sử dụng, bạn cần phải phân biệt cũng như nắm rõ tác dụng, để chọn đúng loại hóa chất cho công việc của mình.

Điều này vừa giúp mang tới hiệu quả tẩy rửa cao vừa tránh các tình huống xấu xảy ra. Bởi đôi khi, hóa chất tiếp xúc, chịu xúc tác với những chất bẩn tạo ra các phản ứng hóa học nguy hiểm, tạo nên các chất có hại cho sức khỏe con người, môi trường xung quanh.

Pha đúng liều lượng theo quy định của nhà sản xuất

Trên mỗi một chai hóa chất, nhà sản xuất luôn có những hướng dẫn sử dụng, cách pha chế đi cùng. Các công thức và cách pha này đều đã được nghiên cứu, tính toán kỹ lượng, tỉ mỉ và vô cùng cần trọng để cho ra một tỷ lệ pha trộn hiệu quả nhất trong công việc mà không làm tổn hại tới con người và môi trường. Do đó, chúng luôn được khuyến cáo đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng.

Tuy nhiên, thực tế, không ít người vì muốn gia tăng hiệu quả xử lý, đã thực hiện pha sai công thức, dùng trực tiếp hóa chất ở dạng đậm đặc để thao tác. Điều này tồn tại rất nhiều nguy hiểm. Chẳng may làm đổ hoặc để hóa chất bắn vào người sẽ dẫn tới hậu quả vô cùng nghiêm trọng.

Trang bị đầy đủ đồ bảo hộ

Đây là một điều nhất định bạn phải nhớ và thực hiện. Bởi đồ bảo hộ sẽ giúp ngăn chặn hóa chất tiếp xúc trực tiếp với cơ thể. Từ đó, các tác động của hóa chất được hạn chế ở mức tối thiểu.

Đồ bảo hộ thông thường sẽ gồm có: quần áo bảo hộ, kính, mũ, khẩu trang, găng tay, ủng, giày,… Khi sử dụng, chúng phải đảm bảo còn nguyên vẹn, đảm bảo được chức năng bảo vệ cao nhất. Nếu rách hoặc hỏng, bạn cần thay thế, chọn đồ mới để dùng.

Xử lý sạch sẽ chất thải sau khi sử dụng hóa chất tẩy rửa công nghiệp

Sau khi sử dụng hóa chất để tẩy rửa các chất thải, bụi bẩn, bạn cần tiến hành xử lý sạch sẽ lượng hóa chất còn sót lại. Điều này đảm bảo môi trường an toàn, không làm ảnh hưởng tới mọi người xung quanh.

Thay vì việc xử lý bằng tay vô cùng nguy hiểm, độc hại cho cơ thể, bạn nên sử dụng máy hút bụi công nghệ để thực hiện công đoạn này. Sau khi sử dụng hóa chất trên nền nhà hay máy móc,… bạn chỉ cần chọn chức năng hút nước, hóa chất, chất thải trên máy hút bụi. Một cách làm vừa nhanh chóng, đơn giản, hiệu quả lại an toàn cho bản thân.

Bảo quản hóa chất an toàn

Bảo quản hóa chất luôn là một trong những khâu vô cùng quan trọng và yêu cầu bắt buộc phải tuân theo quy định của nhà sản xuất. Bởi nếu bảo quản không tốt sẽ vô cùng nguy hiểm, dễ gây ra những tính huống, sự cố đáng tiếc.

Trên mỗi chai hóa chất đều có những nhãn hiệu quy định mức độ gây hại như: dễ cháy, dễ nổ, gây kích ứng, độc,… Bạn cần căn cứ vào đó để phân loại các hóa chất thành từng nhóm giúp việc bảo quản tương ứng với từng loại. Đồng thời, khu bảo quản cần phải ngăn nắp, gọn gàng, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời.

Trên đây, bài viết đã nêu ra những điều cần phải nhớ khi sử dụng hóa chất tẩy rửa công nghiệp. Hi vọng với những chia sẻ này, bạn sẽ biết cách dùng hóa chất một cách an toàn, hiệu quả cao nhất.

Nguồn: soncuong.vn

2021-11-11 / by / in
BĂNG GAI DÍNH ĐÀN HỒI: ĐẶC ĐIỂM, ỨNG DỤNG TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG
băng gai dính đàn hồi được đánh giá cao trong ứng dụng đòi hỏi sự kéo dài vượt trội, bám dính nhanh chóng và dễ dàng trên quần áo và các thiết bị khác. Những thông tin bên dưới sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận rõ hơn về loại băng gai dính này, cũng như công dụng của nó trong sản xuất và đời sống

Sản xuất băng gai dính được xem là ngành vật liệu phụ trợ quan trọng, gắn bó mật thiết với các ngành công nghiệp khác như xây dựng, ô tô, y tế. Sự ra đời của vật liệu băng gai giúp giảm thiểu vật liệu buộc, dính “hạng nặng”, hỗ trợ thao tác nhanh hơn trên sản phẩm, tinh giản chi phí. Để thích nghi với nhiều lĩnh vực cũng như đạt tối đa hiệu quả hỗ trợ, băng gai dính được phân loại theo đặc tính và chất liệu tạo thành. Trong đó, băng gai dính đàn hồi được đánh giá cao trong ứng dụng đòi hỏi sự kéo dài vượt trội, bám dính nhanh chóng và dễ dàng trên quần áo và các thiết bị khác. Những thông tin bên dưới sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận rõ hơn về loại băng gai dính này, cũng như công dụng của nó trong sản xuất và đời sống.

Giới thiệu băng gai dính đàn hồi

So với băng gai dính thông thường, băng gai dính đàn hồi ưu việt nhờ vào khả năng đàn hồi, kéo dãn theo độ dài của băng gai. Thông thường, băng gai đàn hồi có thành phần cấu tạo gồm 92% Polyester, 8% Spandex với thêm một móc gắn kèm với băng gai dính để có thể khóa các vật cồng kềnh. Một cách dễ hiểu thì băng gai dính đàn hồi là sản phẩm kết hợp giữa khả năng bám dính và đàn hồi giúp giữ cố định các vật thể. Để sử dụng băng gai đàn hồi, người dùng chỉ cần thao tác quấn dây đeo xung quanh vật thể với mặt dính hướng lên trên, sau đó trượt dây đeo qua vòng và kéo chặt lên để gập lại, cuối cùng ấn đầu dây vào móc nhựa để cố định băng gai.

 

Băng gai đàn hồi được sử dụng chủ yếu cho các ứng dụng có thể kéo dài, trong khi băng gai dính thông thường sử dụng khi cần buộc, bám dính các đồ vật. Tại Baihe, doanh nghiệp được cung cấp mẫu thử để kiểm tra độ đàn hồi của băng gai, độ  bám dính và cũng như độ giãn có thể chịu được. Bên cạnh đó, các băng gai đàn hồi được cung cấp tại Baihe đảm bảo tiêu chuẩn độ bền và vòng đời sử dụng, không giãn ra theo thời gian nhờ các sợi cao su và sợi tổng hợp đan xen. Do khả năng kéo dài của mình, băng gai đàn hồi được sử dụng phổ biến nhất cho hoạt động treo, buộc, nẹp, cố định vật dụng…

Công dụng của băng gai dính đàn hồi

Tương tự những loại băng gai thông thường, băng gai dính đàn hồi có khả năng dính chặt, giữ hai vật thể hoặc cố định chúng lại với nhau. Tuy nhiên, bởi tính năng đàn hồi nên băng gai này có thể tiếp giúp buộc chặt, cố định các vật từ những vật nhỏ gọn như dây điện, dây cáp, ứng dụng trong vali hay cả các vật cồng kềnh trong xây dựng, vận chuyển. Cải tiến thêm tính năng đàn hồi giúp băng gai dính này đáp ứng nhu cầu buộc chặt cả những vật nặng, cồng kềnh mà băng gai dính thông thường không làm được.

Ngoài ra, băng gai dính đàn hồi còn được thiết kế rộng rãi trong lĩnh vực phụ kiện thể dục thể thao, đai đo huyết áp, may mặc, quần áo, túi xách, đồ nội thất, hành lý, rèm cửa, đồ chơi, lều, găng tay, dây đeo bụng, thiết bị thể thao, thiết bị y tế, điện tử, sản phẩm quân sự, dây an toàn, đồ dùng văn phòng… Tùy thuộc vào nhu cầu và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, băng gai dính đàn hồi được thiết kế, sản xuất theo yêu cầu với kích thước đa dạng, đảm bảo đạt hiệu quả tối ưu.

Ưu điểm nổi bật của băng gai đàn hồi

Băng gai dính đàn hồi (elastic hook and loop) được làm từ polyester (sợi đàn hồi) và cao su có độ đàn hồi mạnh. Hình dạng, màu sắc và kích thước của băng gai có thể được tùy chỉnh theo yêu cầu của các khách hàng doanh nghiệp. Băng gai chất lương cần đảm bảo độ đàn hồi tiêu chuẩn, có thể tái sử dụng, sức bền cao, chịu lực tốt và an toàn trong thời gian sử dụng. Một số ưu điểm nổi bật của băng dính gai đàn hồi:

  • Độ đàn hồi tốt, có thể tăng chiều dài của băng gai dính khi kéo dãn.
  • Thân thiện với môi trường và an toàn khi tiếp xúc với da trong thời gian dài.
  • Băng gai dính tích hợp với đầu khóa bằng nhựa để tăng độ bền, đảm bảo cố định các vật cồng kềnh với nhau.
  • Là giải pháp tuyệt vời cho những buổi cắm trại, sử dụng như dây cáp hay ứng dụng trong y tế chỉnh hình, cố định hàng hóa, hành lý, thiết bị,…
  • Một ưu điểm nữa phải kể đến là băng gai dính đàn hồi có thể tái sử dụng và khá bền.

Nguồn: baihe.vn

2021-11-10 / by / in