Thêm kết quả...

Tiêu chuẩn độ phủ sơn tĩnh điện không gỉ

Độ phủ là một chỉ số quan trọng, đáng được quan tâm nhiều hơn trong lĩnh vực sơn nói chung, sơn tĩnh điện không gỉ nói riêng. Vậy tiêu chuẩn độ phủ sơn tĩnh điện là gì? Tiêu chuẩn chính xác nào là nền tảng để đối chiếu cho một sản phẩm sơn hoàn hảo, đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu người sử dụng ?

Tiêu chuẩn độ phủ sơn tĩnh điện không gỉ là gì?

Độ phủ của sơn là số mét vuông mà 1 lít hoặc 1 kg sơn có thể phủ kín bề mặt và đạt độ dày theo tiêu chuẩn đề ra của nhà sản xuất.

Phương pháp xác định lượng sơn cần dùng:

  • Trước tiên, cần phải xác định chính xác diện tích bề mặt cần sơn.
  • Sau đó, tra cứu thông tin về độ phủ loại sơn sử dụng. Thông tin này đã được nhà sản xuất ghi trong hướng dẫn sử dụng.
  • Từ đó, tính được lượng sơn cần dùng.

Nên sử dụng sơn bột vì chúng có độ phủ cao. Với 1kg sơn bột sẽ cho độ phủ bề mặt sơn rộng hơn nhiều lần so với các sản phẩm sơn thông thường. Từ đó sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí đầu tư cho việc sơn. Đặc biệt là với các dự án có diện tích sơn lớn. Hơn nữa, độ phủ của sơn cao thì dòng sơn thường có chất lượng vượt trội và sơn càng cao cấp thì độ phủ càng lớn.

Bảng độ phủ sơn tĩnh điện tiêu chuẩn

Công thức tính độ phủ sơn trên lý thuyết:

Độ phủ (m2/kg)= 1000 / (tỷ trọng x chiều dày màng sơn).

 Chú ý: do là công thức trên lý thuyết nên chưa tính đến sự thiếu hụt hay mất mát trong quá trình phun. Sự mất mát tùy thuộc vào từng hệ thống phun sơn cụ thể. Để xác định được chính xác độ phủ của từng loại sơn, bạn nên tham khảo kỹ tài liệu kỹ thuật của nhà sản xuất.

Dưới đây là bảng độ phủ bột sơn (m2/kg) theo tỷ trọng và chiều dày màng sơn:

Bảng độ phủ sơn tĩnh điện không gỉ

Nguồn: sontinhdiencongnghiep.com

2021-10-29 / by / in
Quy trình sơn tĩnh điện giá kệ

1. Về máy móc sơn tĩnh điện

Một quy trình phun sơn tĩnh điện cho thành phần thường phải trải qua các bước rất nghiêm ngặt trong phòng sơn kín giúp xử lý bề mặt, làm khô sản phẩm. Quy trình này thường do máy móc thực hiện để tránh những sai sót, giúp sản phẩm được hoàn thiện với giá trị, chất lượng cao nhất. Các hệ thống máy móc trong quy trình phun sơn tĩnh điện gồm:

– Dây chuyền treo hàng cần sơn số lượng 1

– Phòng sơn có 2 thợ chuyên để phun sơn

– Lò chuyên sấy và hấp hiện đại

Dây chuyền máy móc sơn tĩnh điện hiện đại

2. Nguyên liệu sử dụng

Trong suốt hơn 10 năm kinh doanh các sản phẩm kệ lưu trữ, kệ siêu thị chúng tôi nhận ra nước sơn của sản phẩm có tầm quan trọng vô cùng lớn. Nó sẽ bảo vệ giá kệ khỏi các tác động bên ngoài, tạo ra sự khác biệt đẹp mắt so với các sản phẩm khác.

Khách hàng luôn đánh giá sản phẩm qua vẻ bề ngoài (lớp sơn) của mỗi sản phẩm. Chính vì vậy nên cần chú trọng cho khâu sản xuất này để mang lại sản phẩm có chất lượng tốt nhất tới tay khách hàng.

Trong bột sơn Jotun và bột sơn Akzonobel không chứa những dung môi do vậy phát sinh rất ít mùi làm ô nhiễm môi trường.

3. Quy trình sơn tĩnh điện các bộ giá kệ

Bước 1 : Xử lý bề mặt

Trước khi tiến hành phun sơn tĩnh điện, các sản phẩm kệ chứa hàng bắt buộc phải được xử lý bề mặt. Bởi quá trình gia công cơ khí trước đó đã làm cho sản phẩm bị dính các loại dầu mỡ công nghiệp, nên nếu chúng ta bỏ qua giai đoạn này thì màu sắc sắc được phun sơn lên sẽ không được chuẩn. Ngoài ra, các nguyên liệu để sản xuất kệ là sắt nên chúng ta nhất định phải loại bỏ dầu nhớt để tránh sắt thép bị gỉ sét.

Thực hiện bước này chúng tôi dùng các chất hóa học trong bể hóa chất để xử lý bề mặt. Những thành phần hóa học bao gồm: loại hóa chất dùng để tẩy dầu mỡ, các loại hóa chất axit tẩy rỉ sét như HCl hay H2SO4, chất định hình bề mặt, bể chứa các loại photphas hóa bề mặt.

Bước 2 : Làm khô

Sau khi đã được xử lý bề mặt, kệ siêu thị sẽ được làm khô. Mục đích của bước này là làm khô hơi nước dính trên bề mặt để đưa vào sơn.

Các cây sắt thép sẽ được treo ở trên và đẩy vào lò sấy với nhiệt độ của lò bằng nhiệt độ của các loại bếp hồng ngoại.

Bước 3 : Phun Sơn

Tiếp đến sản phẩm sẽ được đưa trực tiếp vào buồng phun và thu hồi sơn. Công nghệ sơn tĩnh điện sử dụng loại sơn bột, không phải dạng sơn nước thông thường, vì vậy đặc tính của chúng là bám dính nhờ lực tĩnh điện. Chúng đặc biệt có chức năng tự thu hồi sơn phun và trộn thêm vào sơn phun mới để tái sử dụng, giúp tiết kiệm chi phí nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

Bước 4 : Sấy trong lò

Đây là bước cuối cùng của công đoạn sơn tĩnh điện, nhiệt độ chuẩn của lò sấy là từ 1800 độ C đến 2000 độ C. Thời gian sấy phải đảm bảo từ 10 đến 15 phút để định hình màu sơn lại trên sản phẩm.

Đầu tiên các bộ phận của kệ sẽ được xử lý qua hóa chất như ngâm dầu, rửa nước, ngâm nước định hình, ngâm photphat, sau đó xịt sạch phơi khô. Trong trường hợp các bộ phận này bị gỉ sét thì phải ngâm axit.

Các thợ sơn sẽ sử dụng súng phun sơn để sơn lên bề mặt kệ. Phải đảm bảo nguyên liệu thật sự được rửa sạch trước khi đưa vào phòng phun sơn. Bột sơn mang điện tích dương còn giá kệ cần sơn mang điện tích âm. Khi phun sơn lên giá kệ chúng lập tức bám dính vào nhau rất chắc chắn (tĩnh điện).

Lò sấy có nhiệt độ tối thiểu là 200 độ C, đây là nơi sấy khô giá kệ sau khi được sơn. Giá kệ sau khi sấy khô sẽ được kiểm tra độ dày, độ đều, độ bóng trước khi xuất hàng. Nếu sản phẩm không đạt sẽ được xử lý lại từ đầu. Dây chuyền sẽ hoạt động và tiến hành sơn những đợt tiếp theo thành dây chuyền.

4. Kiểm định chất lượng đầu ra

Khi tiến hành phun sơn tĩnh điện phải luôn phải để ý từng công đoạn từ xử lý hóa chất, đến khi đưa giá kệ vào lò sấy, nghiêm ngặt và khó tính trong mọi khâu sản xuất để tạo ra những sản phẩm tốt nhất cho người tiêu dùng.

Nguồn: vinatech.net.vn

I am text block. Click edit button to change this text. Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Ut elit tellus, luctus nec ullamcorper mattis, pulvinar dapibus leo.

I am text block. Click edit button to change this text. Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Ut elit tellus, luctus nec ullamcorper mattis, pulvinar dapibus leo.

2021-10-29 / by / in
Ưu Điểm Của Công Nghệ Sơn Tĩnh Điện

Một trong những ngành công nghệ phát triển mạnh mẽ và được ứng dụng rộng rãi trong thiết kế nội thất ( đặc biệt là sắt sơn tĩnh điện) hiện nay chính là công nghệ sơn tĩnh điện. Tuy nhiên không phải ai cũng biết đến sơn tĩnh điện là gì? Và những ưu điểm mà công nghệ sơn tĩnh điện mang lại.

Sơn tĩnh điện là gì?

Sơn tĩnh điện là việc phủ một lớp chất dẻo lên bề mặt các chi tiết cần che phủ, có 2 loại chất dẻo phổ biến trong sơn tĩnh điện chính là nhựa nhiệt dẻo và nhựa nhiệt cứng. Nhựa nhiệt dẻo chính là chất hình thành một lớp phủ mà không cần phải trải qua quá trình biến đổi cấu trúc phân tử (như polyetylen, polypropylene, nylon, polyvinyclorua và nhựa nhiệt dẻo polyester), còn nhựa nhiệt rắn được xếp chéo qua nhau tạo ra một lớp màng vĩnh cửu chịu nhiệt và sẽ không bị tan chảy lại (epoxy, hybrit, uretan polyester, acrylic, polyester triglycidyl isoxyanuric).

Bên cạnh đó, sơn tĩnh điện còn được gọi là sơn khô vì tính chất phủ ở dạng bột và khi đưa vào sử dụng nó sẽ được tích một loại điện tích dương (+), khi đi qua một thiết bị được gọi là sung sơn tĩnh điện, đồng thời vật sơn cũng sẽ được tích một điện tích âm (-) để tạo ra hiệu ứng giữa bột sơn và vật được sơn.

Bột sơn tĩnh điện là gì?

Khái niệm

Bột sơn tĩnh điện là nguyên liệu được sử dụng trong công nghệ sơn tĩnh điện, gồm 3 thành phần: nhựa, bột màu và các chất phụ gia khác.

Phân loại bột sơn tĩnh điện

Hiện nay bột sơn tĩnh điện có 4 loại phổ biến: bóng (gloss), mờ (matt), cát (texture), nhăn (wrinkle). Các loại bột sơn được sử dụng cho hai điều kiện trong nhà và ngoài trời.

Điều kiện bảo quản bột sơn tĩnh điện

Bột sơn tĩnh điện rất an toàn vì không sợ cháy nổ do nó ở dạng bột khô và không chứa dung môi. Chỉ cần đáp ứng đúng những điều kiện sau là chúng ta có thể bảo quản bột sơn an toàn và hiệu quả:
– Để bột nơi khô ráo và thoáng mát
– Bảo quản ở nhiệt độ dưới 33oC (phù hợp với khí hậu của Việt Nam)
– Khi chất bột sơn không nên để quá 5 lớp.

Ưu điểm vượt trội của công nghệ sơn tĩnh điện

Hầu hết các nhà khoa học trên thế giới đều công nhận một điều: Rất hiếm có một công nghệ hiện địa nào như sơn tĩnh điện, được phát minh và đưa vào sử dụng phục vụ sản xuất, thay thế cho công nghệ cũ mà lại cho chất lượng cao, hạ được giá thành sản phẩm trong khi chi phí đầu tư vẫn như công nghệ cũ,

Ưu điểm về kinh tế

– Không cần phải sử dụng đến sơn lót khi phun sơn bằng công nghệ sơn tĩnh điện
– 99% sơn được sử dụng triệt để, trong quá trình phun sơn nếu sơn không bám vào sản phẩm có thể dễ dàng thu hồi và tái sử dụng cho các lần sau.
– Tiết kiệm thời gian hoàn thiện sản phẩm
– Nếu phun sơn không đạt yêu cầu hoặc những khu vực khác bị ảnh hưởng có thể lau chùi dễ dàng.

Ưu điểm về đặc tính sử dụng

– Do dung hệ thống phun sơn bằng súng tự động nên quy trình sơn có thể được thực hiện tự động hóa dễ dàng
– Khi bột sơn bám lên người có thể dễ dàng lau chùi, không cần dùng dung môi hay chất tẩy rửa để làm sạch.

Ưu điểm về chất lượng

– Sơn tĩnh điện bền, bóng, mịn tuyệt đối
– Không bị gỉ mặc dù thường xuyên tiếp xúc với những tác động xấu từ thời tiết ngoài trời, nên bạn có thể vô tư để tạo nên những sản phẩm ngoài trời.
– Màu sơn tĩnh điện đa dạng và phong phú.
Ngoài những ưu điểm trên thì sơn tĩnh điện còn có rất nhiều những ưu điểm khác có lợi cho người tiêu dùng và nhà sản xuất. Hy vọng những thông tin mà chanhairpin.com cung cấp bên trên về sắt sơn tĩnh điện sẽ giúp mọi người hiểu hơn, đặc biệt là áp dụng để phục vụ trong cuộc sống của mình một cách hiệu quả nhất.

Nguồn: chanhairpin.com

2021-10-29 / by / in
Sơn tĩnh điện là gì ?

Công nghệ kĩ thuật và đời sống con người ngày càng trở nên tiên tiến hiện đại hơn. Nhờ các phát minh khoa học hiện đại tiên tiến và ứng dụng thực tế để phục vụ nhu cầu của con người. Khi đời sống vật chất càng đi lên thì yêu cầu về thẩm mỹ cũng tăng theo.

Trong thị trường kinh tế cạnh tranh như hiện nay thì mỗi sản phẩm làm ra đều phải mang tính thẩm mỹ cao, giá thành thật tốt mới đứng vững được. Kể đến đây phải nói đến một ngành công nghệ đã được đã phát minh và phát triển nhất hiện nay. Đó là công nghệ sơn tĩnh điện – một loại công nghệ ưu tú về sơn được ứng dụng nhiều trong ngành thiết kế nội thất.

Chắc hẳn nhiều người đã nghe đến “sơn tĩnh điện” rồi đúng không nào ? Vì công nghệ này đã được sử dụng phổ biến rộng rãi. Nhất là trong các quảng cáo về những sản phẩm kim loại có chất sơn bền màu. Vậy sơn tĩnh điện là gì ? Các ưu điểm và công nghệ của nó như thế nào ? Chúng ta cùng tìm hiểu nhé!

Tìm hiểu công nghệ Sơn tĩnh điện 

Sơn tĩnh điện tiếng Anh là gì

Công nghệ sơn tĩnh điện tiếng anh là Electro Static Power Coating Technology. Công nghệ này được phát minh đầu năm 1950 bởi nhà khoa học TS. Erwin Gemmer. Sau nhiều giai đoạn được cải tiến bởi các nhà khoa học khác nhau thì đến nay nó đã trở nên hoàn hảo về cả chất lượng và tính thẩm mỹ.

Sơn tĩnh điện là gì

Sơn tĩnh điện là phủ một lớp chất dẻo (nhựa nhiệt dẻo: polyetylen, polypropylene, nylon, polyvinyclorua và polyester hoặc nhựa nhiệt rắn epoxy, hybrit, uretan polyester, acrylic, polyester triglycidyl isoxyanuric (TGIC)) lên các bề mặt vật liệu cần được che phủ thường là kim loại như sắt, nhôm, kẽm…

Sơn tĩnh điện là sơn khô vì sử dụng bột sơn ở dạng khô có tích điện dương (+). Dựa theo nguyên lí tĩnh điện người ta bỏ bột vào súng sơn tĩnh điện rồi phun lên bề mặt vật liệu kim loại có tích điện âm (-) bột và bề mặt vật sơn tạo ra hiệu ứng tạo thành một liên kết vững chắc giữa bột sơn và vật cần sơn.

Theo nguyên lý tĩnh điện thì điện tích dường (+) và điện tích âm (-) luôn gắn kết chặt chẽ với nhau. Nên lớp sơn tĩnh điện của bề mặt vật liệu luôn bám chắc và khó bị bong tróc hơn các loại sơn thường.

Bột sơn tĩnh điện

Bột sơn tĩnh điện là một thành phần không thể thiếu trong quy trình sơn tĩnh điện. Nó được sản xuất theo công nghệ tiêu chuẩn của Nhật để giúp cho độ bám dính cao hơn. Màu sắc đa dạng, phong phú, nó có thể chịu đựng được trước điều kiện nắng mưa và thời tiết khắc nghiệt.

Thành phần của bột sơn gồm nhựa, bột màu và các chất phụ gia. Bột sơn tĩnh điện chia làm 4 loại cơ bản là sơn bóng (gloss), sơn mờ (matt), sơn cát (texture), sơn nhăn (wrinkle) tuỳ theo sản phẩm và mục đích sử dụng người ta sẽ chọn loại sơn phù hợp.

Những lưu ý trong việc bảo quản bột sơn tĩnh điện

Để bột nơi thoáng mát, khô ráo tránh tiếp xúc với nước và ánh sáng trực tiếp.

Bảo quản nơi có nhiệt độ dưới 30 độ C

Khi đã mở bao sử dụng nhưng chưa hết thì phải buộc kín miệng lại không nên để tiếp xúc với không khí.

Khi sắp xếp vận chuyển hay lưu kho không được chồng quá 5 lớp thùng hoặc bao.

Phân loại sơn tĩnh điện

Sơn tĩnh điện có 2 loại là sơn tĩnh điện trong nhà và sơn tĩnh điện ngoài nhà.

Quy trình sơn tĩnh điện

Xử lí bề mặt vật cần sơn

Bề mặt vật sơn phải được xử lí thật sạch sẽ để độ bám dính sơn tốt hơn.

Hấp khô

Vật cần sơn phải đưa vào hấp khô để không ảnh hưởng đến điện tích của bột sơn và vật dụng khi sơn.

Phun sơn

Cho bột sơn vào súng và dựa vào nguyên lí tĩnh điện để tiến hành sơn. Chọn bột và điều chỉnh số lượng bột phun ra theo chế độ và hình dáng bề mặt, vật liệu.

Sấy khô

Sau khi sơn xong các vật sơn sẽ được  đưa vào buồng sấy ở nhiệt độ thích hợp. Sau khi xong hết các bước thì kiểm tra lại một lần nữa về bề mặt sơn đã khô chưa đúng yêu cầu chưa.

Ưu điểm nội bật của sơn tĩnh điện

Sơn tĩnh điện được xem như là một phát minh công nghệ hiện đại tiên tiến rất hữu dụng. Phát mình này thay thế cho công nghệ cũ với nhiều ưu điểm hơn về cả chất lượng, giá thành và thẩm mỹ.

Trước tiên là nói đến sức khoẻ con người trong bột sơn có chứa ít dung môi và các chất hoá học độc hại hơn các loại sơn thông thường nên không ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ người dùng. Sơn tĩnh điện cũng không gây ra mùi khó chịu như phun sơn truyền thống.

Sơn tĩnh điện đa dạng màu sắc (ngoài các màu thông thường thì có thể làm thêm các màu xám trắng, đen tuyền, giả vân gỗ, kim tượng, xám ghi,…) có thể tạo độ bóng, mờ, ngả ánh vàng, cát, nhăn,… tạo hiệu ứng đẹp cho bề mặt vật liệu sơn cũng như có tính thẩm mỹ cao hơn.

Về kinh tế thì sơn tĩnh điện và đầu tư các máy móc không tốn nhiều chi phí. Điều này làm giá thành của sơn tĩnh điện thấp, phù hợp với khách hàng. Sơn tĩnh điện không cần sơn lót trước khi phun, trong quá trình phun nếu bột sơn không bám vào bề mặt vẫn có thể thu gom lại dễ dàng và tái sử dụng.

Độ bám của sơn lên bề mặt rất bền chắc, chống trầy xước và mài mòn. Khi tiếp xúc với các điều kiện thời tiết khắc nghiệt màu sơn vẫn được đảm bảo nên có thể để ngoài trời thoải mái.

Ứng dụng của sơn tĩnh điện

Với nhiều ưu điểm vượt trội nên sơn tĩnh điện được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực. Phổ biến nhất  trong các ngành nghề như điện tử, dân dụng, công nghiệp chế tạo (xe, tàu, máy bay,…),nhôm kính,…

Trong ngành nhôm kính thì sử dụng công nghệ sơn tĩnh điện nhiều nhất. Vì bền màu, chống gỉ và bề mặt sơn cũng quyết định được chất lượng các loại nhôm đó có tốt hay không. Sắt cũng được sơn tĩnh điện nhưng ít hơn nhôm vì sắt dù có sử dụng lớp sơn tốt cũng  dễ bị oxi hoá và ăn mòn.

Trong gia đình và máy móc công nghiệp cũng ứng dụng rất nhiều như : Sơn hàng rào, cổng, lò nướng, máy công nghiệp, khung cửa,…

Tất cả những chia sẻ về sơn tĩnh điện ở trên cho thấy rằng đây là công nghệ tân tiến. Có thể đáp ứng được mọi nhu cầu của chúng ta về một sản phẩm hội đủ các yếu tố : chất lượng, kinh tế, thẩm mỹ, an toàn cho sức khoẻ. Chính vì vậy nó được xem là lựa chọn phù hợp nhất trong các loại phương pháp sơn hiện nay.

Nguồn: webvatlieu

2021-10-29 / by / in
Ứng dụng của bột Sơn tĩnh điện

1. Máy móc gia dụng

Bột sơn tĩnh điện được sơn trên mặt trước và mặt tấm của các thiết bị như: tủ lạnh, máy giặt, máy sấy, máy nước nóng, kệ rửa chén, và lò vi ba. Sơn tĩnh điện cũng được sử dụng để thay thế men sứ trên nhiều máy giặt và máy sấy.

2. Ô tô

Các ngành công nghiệp ô tô sử dụng sơn tĩnh điện trên bánh xe, thiết bị giảm xóc, nắp chụp trục bánh xe, tay nắm cửa, viền trang trí và các bộ phận bê xe tải, bộ tản nhiệt, bộ lọc, và nhiều bộ phận động cơ khác. Một lớp phủ bột đã được phát triển để bảo vệ thân xe tự động. BMW và Volvo đang sử dụng nó trên mẫu xe mới của họ, và GM, Ford và Chrysler đã thành lập một liên minh để kiểm tra kỹ thuật này trên dây chuyền sản xuất của họ.

3. Kiến trúc / Xây dựng 

Bột sơn tĩnh điện thường được sử dụng trong kiến trúc và xây dưng trên các khung cửa sổ, cửa ra vào và các đồ nội thất. Nhiều đường cao tốc và các dự án xây dựng sử dụng sơn tĩnh điện trên cột đèn, lan can, cọc đường, và hàng rào.

4. Sản phẩm hàng ngày 

Bột sơn tĩnh điện được sử dụng trong vô số sản phẩm hàng ngày như: đèn, ăng-ten, và các thiết bị điện. Nông dân sử dụng bột sơn tĩnh điện trong máy kéo và các thiết bị nông nghiệp. Chủ cửa hàng thường sơn tĩnh điện trên các kệ trưng bày, kệ giá, cửa hàng đồ đạc, và các máy bán hàng tự động. Nhân viên văn phòng sử dụng đồ nội thất bằng kim loại, tủ máy tính, đinh bấm, và phụ kiện bàn khác được sơn tĩnh điện. Tất cả đều được hưởng lợi từ bột sơn tĩnh điện.

Nguồn: kitsappowdercoating.com

2021-10-29 / by / in
Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Xét căn cứ đặc thù lịch sử, quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể chia ra thành bốn giai đoạn gồm thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ miền Bắc Việt Nam 1954-1975, thời kỳ miền Nam Việt Nam 1954-1975 và thời kỳ từ sau thống nhất đất nước 1975 đến nay.

1. Hệ thống ngân hàng Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc

Trước khi người Pháp đặt chân đến Việt Nam năm 1858, Việt Nam chưa có tổ chức ngân hàng và tín dụng. Vào cuối thế kỷ thứ 19, khi nền đô hộ đã được thiết lập trên toàn cõi Đông Dương, Việt Nam trở thành một thị trường độc chiếm của Pháp.

Nhiều hoạt động kinh tế của người Pháp ở Đông Dương bành trướng mạnh nên chính phủ buộc phải thành lập các ngân hàng để hỗ trợ các hoạt động đó. Lúc đầu có 2 ngân hàng có trụ sở tại Pháp và các chi nhánh trên toàn Đông Dương là Ngân hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine) thành lập từ 1873 và Pháp-Hoa Ngân hàng (Banque Franco-Chinoise) được thành lập với mục đích hỗ trợ các giao dịch thương mại giữa Pháp, Đông Dương và Trung Hoa cũng như với một vài nước khác ở Á Đông như Nhật, Thái Lan. Hai ngân hàng này ngoài độc quyền phát hành tiền tệ như một Ngân
hàng Trung ương, nó còn là một ngân hàng kinh doanh thương mại, cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế của người Pháp ở Đông Dương. Phải tới năm 1927, một số tư bản người Việt Nam mới thành lập ngân hàng đầu tiên của Việt Nam lấy tên là An Nam ngân hàng (sau đổi tên là Việt Nam ngân hàng) nhằm hỗ trợ vốn cho các hoạt động nông nghiệp. Cho đến năm 1954, người Việt có ngân hàng thứ hai là Việt Nam công thương ngân hàng.

2. Hệ thống ngân hàng Việt Nam ở miền Bắc giai đoạn 1954 đến 1975

Ngày 06/05/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam với nhiệm vụ chính như phát hành tiền tệ, quản lý tiền tệ, và thực hiện chính sách tín dụng nhằm phát triển hoạt động sản xuất. Ngày 21/01/1960, Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam ở Miền Bắc có thể được chia làm hai thời kỳ từ 1951 đến 1954 và thời kỳ từ 1955 đến 1975. Trong thời kỳ đầu, ngân hàng quốc gia Việt Nam hoạt động độc lập trong hệ thống tài chính với chức năng như phát hành tiền tệ, thu hồi tiền tài chính, quản lý Kho bạc Nhà nước nhằm tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân sách và phát triển tín dụng ngân hàng nhằm phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá. Đến thời kỳ tiếp theo 1955 đến 1975, Ngân hàng Quốc gia với nhiệm vụ củng cố thị trường tiền tệ, ổn định tiền tệ nhằm góp phần bình ổn vật giá, tạo thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế.

3. Hệ thống ngân hàng Việt Nam ở miền Nam giai đoạn 1954 đến 1975

Sau Hiệp định Geneve, chính phủ Pháp ký một loạt hiệp định với Nam Việt Nam, Campuchia và Lào, chính thức phá bỏ tình trạng hợp nhất tiền tệ và quan thuế giữa ba nước Đông Dương, khẳng định nguyên tắc mỗi quốc gia được quyền tự do phát hành và kiểm soát tiền tệ.

Từ đó, cùng với chủ quyền về chính trị, người Việt Nam bắt đầu được làm chủ về hoạt động ngân hàng và phát triển trên qui mô nhà nước. Sự phát triển của ngành ngân hàng miền Nam Việt Nam giai đoạn này có thể được chia thành 2 thời kỳ từ 1954 đến 1964 và từ 1965 đến 1975. Thời kỳ 1954 đến 1964, người dân vẫn tiếp tục sử dụng các ngân hàng của người Pháp, Anh, Hong Kong, Đài Loan có chi nhánh tại Việt Nam. Thời kỳ từ 1965 đến 1975 là giai đoạn chuyển biến của hoạt động ngân hàng Việt Nam, tạo tiền đề và điều kiện cho một thời kỳ phát triển rầm rộ từ năm 1965 đến năm 1972. Trong 7 năm đầu của thời kỳ này, 18 ngân hàng mới được thành lập, nâng tổng số lên đến 31 ngân hàng với 178 chi nhánh ở các tỉnh vào năm 1972. Đến thời kỳ trước 04/1975, hệ thống ngân hàng ở Miền Nam gồm 1 ngân hàng trung ương, 32 ngân hàng thương mại với 180 chi nhánh, 2 ngân
hàng phát triển và 60 ngân hàng nông thôn.

4. Hệ thống ngân hàng Việt Nam từ năm 1975 đến nay

Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ năm 1975 đến nay có thể chia thành có thể chia thành 3 thời kỳ từ 1975 đến 1985, 1986 đến 1990, và 1991 đến nay. Thời kỳ 1975-1985, sau 1975, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ở miền Nam được quốc hữu hoá và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước. Thời kỳ 1986 -1990 là giai đoạn manh nha của các cải cách bước đầu, làm tiền đề cho việc hình thành và phát triển một hệ thống Ngân hàng Việt Nam một cách căn bản và toàn diện hơn.

Với những yêu cầu về đổi mới hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam, tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơ chế Hệ thống tài chính Việt Nam hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp. Trong đó, cấp 1 là Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng. Và cấp 2 là các ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các Định chế tài chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện như ngân hàng cổ phần, liên doanh, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài, Hợp tác xã tín dụng, Quỹ tín dụng nhân dân và công ty tài chính.

Thời kỳ 1991 đến nay là giai đoạn hệ thống ngân hàng Việt Nam có rất nhiều chuyển biến dần theo hướng một hệ thống ngân hàng hai cấp hiện đại. Luật NHNN 2010 đã có một số thay đổi quan trọng so với Luật NHNN 1997, làm rõ hơn địa vị pháp lý của NHNN, đồng thời xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của NHNN với tư cách là ngân hàng trung ương, thực hiện các chức năng về quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa hai chức năng quan trọng của một ngân hàng trung ương là thực thi chính sách tiền tệ và giám sát an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Nguồn: Luanvanaz

2021-10-29 / by / in
Cạnh tranh và ổn định hệ thống ngân hàng tại Việt Nam
Ảnh hưởng của cạnh tranh đến ổn định hệ thống ngân hàng là chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà hoạch định chính sách trong hơn hai thập kỷ vừa qua, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 – 2008.
Hiện nay, trong giới học thuật nổi lên hai quan điểm chính: (i) quan điểm cạnh tranh có ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định hệ thống ngân hàng (cạnh tranh – bất ổn), và (ii) quan điểm cạnh tranh có ảnh hưởng tích cực đến ổn định hệ thống ngân hàng (cạnh tranh – ổn định). Nhiều học giả đã kiểm định mối liên hệ này tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tuy nhiên, kết quả thu được lại rất khác nhau. Mục tiêu của bài nghiên cứu này là xem xét mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định hệ thống ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 – 2017. Sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính GMM (Generalised Methods of Moments) để ước lượng mối quan hệ giữa các biến về ổn định hệ thống ngân hàng (chỉ số Z-score, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản) và cạnh tranh (chỉ số Lerner, HHI tiền gửi và HHI cho vay), kết quả thực nghiệm cho thấy, cạnh tranh có thể dẫn đến bất ổn. Đây là một kết quả phù hợp với điều kiện của Việt Nam cũng như một số nước có hệ thống tài chính ngân hàng đang phát triển. Cạnh tranh quá mức trong khi luật pháp chưa đủ chặt chẽ để kiểm soát, điều chỉnh sẽ dễ dẫn đến các vấn đề cạnh tranh không lành mạnh, làm suy giảm sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
1. Đặt vấn đề
Hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực tài chính một cách hiệu quả tới các đối tượng có nhu cầu. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng cũng chính là kênh truyền dẫn bất ổn đến các khu vực khác của nền kinh tế qua sự sụp đổ của thị trường liên ngân hàng và các cơ chế thanh toán cũng như sự sụt giảm nguồn cung tín dụng và tình trạng đóng băng tiền gửi (Berger và các cộng sự, 2009), từ đó gây ra các tác động tiêu cực kéo dài đối với nền kinh tế thực và chi phí tốn kém cho việc khắc phục khủng hoảng tài chính. Đây là một trong những lý do khiến các nhà hoạch định chính sách đặc biệt chú trọng đến việc thiết lập các quy định, chính sách nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của khu vực ngân hàng.
Một trong những yếu tố quan trọng có thể gây ra rủi ro cho khu vực ngân hàng là sự cạnh tranh giữa các ngân hàng. Làm thế nào để quản lý, giám sát ngân hàng theo hướng vừa đảm bảo cạnh tranh lành mạnh vừa duy trì ổn định hệ thống ngân hàng là vấn đề được quan tâm hơn bao giờ hết. Theo Beck (2008), cần phải có sự phát triển hài hòa mối quan hệ giữa cạnh tranh và quản lý, giám sát ngân hàng nhằm ổn định hệ thống ngân hàng. Nếu cạnh tranh đi đôi với các quy định, chính sách không phù hợp thì sẽ tạo nên một sự kết hợp rất nguy hại cho nền kinh tế. Tuy nhiên, việc xác định vấn đề cạnh tranh ngân hàng ảnh hưởng như thế nào đến ổn định hệ thống ngân hàng nhằm đưa ra các chính sách thoả đáng đến nay vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Về vấn đề này, hiện nay, trong giới học thuật, nổi lên hai quan điểm chính: (i) quan điểm cạnh tranh có ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định hệ thống ngân hàng (cạnh tranh – bất ổn); và (ii) quan điểm cạnh tranh có ảnh hưởng tích cực đến ổn định hệ thống ngân hàng (cạnh tranh – ổn định). Nhiều học giả đã kiểm định mối liên hệ này tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tuy nhiên kết quả thu được lại rất khác nhau. Các kết quả trái ngược này gây khó khăn cho việc đưa ra chính sách về cạnh tranh phù hợp và tác động đến việc thiết kế hệ thống quản lý, giám sát ngân hàng hiệu quả. Nhận thấy sự cần thiết và vai trò quan trọng trong việc cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định hệ thống ngân hàng Việt Nam làm thông tin tham khảo cho các cơ quan quản lý có thẩm quyền, bài viết này nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố cạnh tranh và tính ổn định của hệ thống ngân hàng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa cạnh tranh và ổn định hệ thống ngân hàng.
2. Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
2.1. Cơ sở lý thuyết
Quan điểm cạnh tranh – bất ổn theo mô hình của Keeley (1990) và Marcus (1984) cho rằng, cạnh tranh làm suy yếu ổn định hệ thống ngân hàng. Mối quan hệ này được thể hiện thông qua kênh truyền dẫn về giá trị thương hiệu [1] (franchise value). Mức độ cạnh tranh tăng lên sẽ làm quyền lực ảnh hưởng thị trường của ngân hàng giảm đi (Berger, Klapper and Turk-Ariss, 2008), qua đó làm giảm giá trị thương hiệu của ngân hàng (Keeley, 1990). Giá trị thương hiệu của ngân hàng càng thấp thì chi phí phá sản của ngân hàng càng thấp. Do đó, các ngân hàng có động cơ chấp nhận rủi ro cao hơn, qua đó tăng nguy cơ phá sản. Ngoài kênh truyền dẫn giá trị điều lệ, Allen và Gale (2000) phát hiện ra rằng, cạnh tranh với sự tham gia của nhiều ngân hàng là điều kiện lý tưởng cho sự lan truyền các cú sốc tài chính. Bên cạnh những ảnh hưởng trực tiếp, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và cấu trúc thị trường còn có thể gián tiếp gia tăng hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. Cạnh tranh ngân hàng có thể tạo ra bất ổn và hệ quả là sự tháo chạy của người gửi tiền/nhà đầu tư. Tự do hóa tài chính dưới hình thức chuyển đổi dần từ trạng thái độc quyền sang cạnh tranh có thể gia tăng tổn thương (Chang và Velasco, 2001). Khi cạnh tranh trở nên gay gắt, các ngân hàng chạy đua về lãi suất. Điều này có thể mang lại lợi ích cho khách hàng, tuy nhiên, lại khiến các ngân hàng đối mặt với nguy cơ rủi ro.
Tuy nhiên, theo quan điểm cạnh tranh – ổn định, cạnh tranh không phải là yếu tố gây tổn thương (về mặt cấu trúc) cho hệ thống ngân hàng. Xét về một khía cạnh nào đó, nếu ngân hàng gặp phải những vấn đề liên quan đến rủi ro đạo đức dẫn tới phải đối mặt với rủi ro về thanh khoản thì việc ngân hàng đó đứng trước nguy cơ phá sản trong một môi trường đầy tính cạnh tranh là cần thiết để ngân hàng điều chỉnh hành vi và cách thức hoạt động phù hợp hơn. Cạnh tranh là cần thiết để tăng cường ổn định tài chính do khắc phục được những hạn chế của thị trường độc quyền (Caminal and Matute, 2002). Hệ thống ngân hàng có mức độ tập trung thấp hạn chế nguy cơ khủng hoảng tài chính. Theo Boyd và Runkle (1993) và Mishkin (1999), quan điểm này dựa trên hai lập luận chính – vấn đề quá lớn để sụp đổ và vấn đề quá lớn để giám sát. Lập luận đầu tiên bắt nguồn từ thực tế các ngân hàng hoạt động trong một thị trường quá tập trung có thể trở nên quá lớn, quá trọng yếu đối với nền kinh tế và quá liên kết với nhau đến nỗi sự sụp đổ của các ngân hàng này có khuynh hướng gây ra tác động kéo dài đối với nền kinh tế thực và chi phí xã hội tốn kém, do đó buộc chính phủ phải cứu trợ khi các ngân hàng này đối mặt với nguy cơ phá sản. Khả năng các ngân hàng lớn sẽ được cứu trợ có thể tạo ra vấn đề rủi ro đạo đức vì các ngân hàng này sẵn sàng chấp nhận rủi ro quá mức khi biết rằng sẽ được chính phủ cứu trợ nếu thất bại. Điều này có thể khiến cho sự ổn định của hệ thống trở nên mong manh. Lập luận thứ hai cho rằng, quy mô của một ngân hàng tỷ lệ thuận với mức độ phức tạp, do đó, các ngân hàng nhỏ sẽ dễ quản lý và giám sát hơn là các ngân hàng lớn. Các ngân hàng lớn cũng thường đi liền với vấn đề quá lớn để giám sát. Thực tế này có thể khuyến khích các ngân hàng chấp nhận rủi ro quá mức vì họ biết rằng các cơ quan quản lý có thể không phát hiện được rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải. Như vậy, sự tập trung, độc quyền trong ngành Ngân hàng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng, hay cạnh tranh sẽ giúp tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
2.2. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm
Nhiều nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng ủng hộ cho quan điểm cạnh tranh – bất ổn. Keeley (1990) sử dụng số liệu của hệ thống ngân hàng Mỹ giai đoạn 1970 – 1986 để nghiên cứu mối quan hệ giữa cạnh tranh và giá trị điều lệ và phát hiện ra rằng, mức độ tập trung tỷ lệ thuận với mức độ ổn định. Saunders và Wilson (1996) cũng sử dụng dữ liệu của hệ thống ngân hàng Mỹ nhưng trong khoảng thời gian dài hơn và tìm thấy bằng chứng làm vững thêm lập luận của Keeley. Hellman và các cộng sự (2000) cho rằng, mức độ cạnh tranh ngày càng tăng của khu vực tài chính Nhật Bản (chủ yếu do quá trình tự do hóa tài chính vào những năm 1990) là nhân tố đã khiến cho ổn định hệ thống ngân hàng suy yếu và có thể góp phần gây ra khủng hoảng tài chính Đông Á (Jimenez và các cộng sự, 2010). Allen và Gale (2000) tìm được nhiều kết quả cho thấy hệ thống ngân hàng tập trung nhiều khả năng có tính ổn định cao hơn do các ngân hàng thu được nhiều lợi nhuận hơn, đa dạng hơn và dễ kiểm soát hơn. Nghiên cứu của Besanko và Thakor (2004) ủng hộ quan điểm cho rằng, cạnh tranh gay gắt hơn khiến cho các ngân hàng lựa chọn các chiến lược rủi ro hơn. Edwards và Miskin (1995) cũng lập luận rằng, cạnh tranh có khuynh hướng giảm lợi thế chi phí khi huy động vốn và làm suy yếu vị thế của ngân hàng trên thị trường cho vay. Carletti và Vives (2009) kết luận rằng quyền lực ảnh hưởng thị trường tiết chế hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. Sau khi phân tích mẫu gồm 821 ngân hàng đến từ 60 quốc gia đang phát triển, Turk-Ariss (2010) tìm thấy mối tương quan thuận giữa quyền lực ảnh hưởng thị trường và ổn định hệ thống ngân hàng, điều này ngụ ý quyền lực ảnh hưởng thị trường tăng có thể tăng cường an toàn hoạt động ngân hàng và góp phần ổn định kinh tế.
Cần phải có sự phát triển hài hoà mối quan hệ giữa cạnh tranh và quản lý, giám
sát ngân hàng nhằm ổn định hệ thống ngân hàng
Trong khi đó, nghiên cứu của các tác giả như Boyd và các cộng sự (2006), De Nicolo và Loukoianova (2007), và Uhde và Heimeshoff (2009) tìm thấy bằng chứng ủng hộ cho quan điểm cạnh tranh – ổn định. Boyd và các cộng sự (2006) đã sử dụng hai hệ thống dữ liệu độc lập (bao gồm một hệ thống dữ liệu về các ngân hàng tại Mỹ và một hệ thống dữ liệu về các ngân hàng tại hơn 100 quốc gia) để nghiên cứu mối liên hệ giữa ổn định hệ thống ngân hàng và cấu trúc thị trường và phát hiện thấy mối quan hệ ngược chiều giữa Z-score (thước đo về ổn định hệ thống ngân hàng) và HHI (thước đo về quyền lực ảnh hưởng thị trường), điều này có nghĩa là quyền lực ảnh hưởng thị trường tăng có khuynh hướng khiến cho ổn định khu vực tài chính giảm. Nhận định này tiếp tục nhận được sự ủng hộ từ Uhde và Heimishoff (2009) sau khi phân tích 2600 ngân hàng hoạt động tại khu vực đồng euro trong giai đoạn 1997 – 2005. De Nicolo và các cộng sự cũng tìm thấy các kết luận tương tự. De Nicolo và các cộng sự (2004) sử dụng dữ liệu từ 500 tổ chức tài chính lớn nhất trong giai đoạn 1993 – 2000 để nghiên cứu tác động của việc củng cố ngân hàng đối với ổn định hệ thống ngân hàng và phát hiện ra rằng, các hệ thống ngân hàng tập trung hơn thường có mức độ rủi ro hệ thống cao hơn các hệ thống ngân hàng ít tập trung hơn. De Nicolo và Loakoianova (2007) sử dụng dữ liệu ngân hàng từ 133 quốc gia chưa công nghiệp hoá trong giai đoạn 1993 – 2004 để nghiên cứu mối quan hệ giữa phá sản ngân hàng và cấu trúc thị trường. Họ đã tìm thấy mối tương quan cùng chiều giữa tập trung và phá sản ngân hàng.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Mô tả dữ liệu
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ số liệu thống kê của các tổ chức trong nước (như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM và Hà Nội, các NHTM) và quốc tế (như IMF, Worldbank, Heritage Foundation) trong giai đoạn từ năm 2006 – 2017. Các ngân hàng trong mẫu bao gồm 7 ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, 32 ngân hàng thương mại cổ phần và 6 ngân hàng có 100% vốn nước ngoài. Dữ liệu có cấu trúc dữ liệu bảng không cân bằng.
3.2. Mô hình nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sẽ sử dụng mô hình định lượng để tìm hiểu tác động của cạnh tranh lên hệ thống ngân hàng tại Việt Nam. Về mô hình nghiên cứu định lượng, đã có khá nhiều nghiên cứu học thuật sử dụng mô hình hồi quy GMM để nghiên cứu sự tác động này như Berger và cộng sự (2009), Liu và Wilson (2011), Liu và cộng sự (2013), Hope và cộng sự (2013), Iskenderoglu và Tomak (2013), Tomaliwan (2013), Maghyereh và Awartani (2015), Kim (2017) với kết quả có độ tin cậy cao. Tại Việt Nam, Hoàng Thị Phương Anh và cộng sự (2018) đã sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với hiệu ứng cố định chuẩn với kết quả là cạnh tranh có thể ảnh hưởng không tốt tới sự ổn định hệ thống ngân hàng.
Để kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu trên, nghiên cứu này kế thừa phương pháp của Berger và cộng sự (2009) và áp dụng mô hình hồi quy System GMM đối với dữ liệu bảng gồm 45 ngân hàng trong giai đoạn 12 năm từ 2006 đến 2017. Phương pháp System GMM kết hợp phương pháp difference GMM của Arellano and Bond (1991) và phương pháp level GMM của Blundell and Bond (1998) với một lợi thế là có thể tìm các biến công cụ ngay trong bảng dữ liệu bằng cách lấy các biến trễ của các biến liên quan. Đây là phương pháp rất phổ biến trong xử lý dữ liệu bảng, đặc biệt là những dữ liệu bảng có tính động, nghi ngờ có mối quan hệ nội sinh. Phương pháp này rất phù hợp với trường hợp có nhiều đối tượng quan sát nhưng quãng thời gian quan sát lại ngắn, biến phụ thuộc có thể có hiện tượng tự tương quan, các biến độc lập cũng không phải hoàn toàn có tính chất ngoại sinh.
Về định tính, mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định được thể hiện bởi hàm số sau:
Ổn định hệ thống = f(Các biến cấu trúc thị trường, Các biến kiểm soát hệ thống ngân hàng, Các biến về môi trường kinh doanh).
Để ước lượng hàm trên, nghiên cứu sẽ tiến hành ba bước tính toán gồm (i) lượng hóa tính ổn định của hệ thống ngân hàng; (ii) lượng hóa cạnh tranh; và (iii) ước lượng hồi quy mối quan hệ giữa các biến về ổn định hệ thống ngân hàng và cạnh tranh sử dụng phương pháp system GMM.
Về ước lượng các biến về ổn định hệ thống ngân hàng, nghiên cứu sẽ sử dụng Z-index, tỷ lệ nợ xấu (NPL) và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EA). Cụ thể, chỉ số Z-index là thước đo kết hợp về khả năng sinh lời, tỷ số vốn vay và biến động lợi nhuận. Chỉ số này được tính toán như sau:
Theo đó, Zit là biến đảo nghịch xác xuất phá sản của ngân hàng i, ROAi là hệ số thu nhập trên tài sản trung bình kỳ của ngân hàng i, EAi là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản của Ngân hàng i và là độ lệch chuẩn trung bình kỳ của tỷ lệ ROA của ngân hàng i. Chỉ số Z-index tăng khi khả năng sinh lời và mức độ vốn hoá tăng; chỉ số này giảm khi lợi nhuận không ổn định (phản ánh độ lệch chuẩn của ROA tăng).
Ngoài ra, tỷ lệ nợ xấu cũng được sử dụng để ước lượng chất lượng tín dụng và rủi ro của danh mục cho vay. Tỷ lệ này càng cao có nghĩa là rủi ro ngày càng tăng lên.
Về chỉ số cạnh tranh, nghiên cứu sẽ ước lượng hệ số Lerner Index là hệ số đại diện cho chi phí giá vốn cộng lãi đối với chi phí biên và là một chỉ số đại diện cho sức mạnh cạnh tranh độc quyền trên thị trường:
Theo hàm trên, Lernerit là Lerner Index của Ngân hàng i tại thời điểm t, Pit là tỷ lệ giữa tổng doanh thu và tổng tài sản của ngân hàng i, do đó, đại diện cho giá bán, và MCit là chi phí biên của tổng tài sản của ngân hàng i tại thời điểm t. Khi cạnh tranh hoàn hảo thì Pit bằng MCit và Lernerit = 0. Khi giá cả lớn hơn chi phí biên thì Lernerit tăng lên cho thấy mức độ độc quyền của ngân hàng i tại thời điểm t.
Để tính chi phí biên, bài nghiên cứu tiếp tục áp dụng phương pháp Berger và cộng sự (2009) và Beck và cộng sự (2012) đã sử dụng. Phương pháp này giả định một ngân hàng tạo ra tổng tài sản Qit từ ba yếu tố đầu vào là giá vốn tiền  gửi w1it, giá vốn vật chất w2it, và giá lao động w3it. Theo phương pháp ước lượng của Berger và cộng sự (2009) và Beck và cộng sự (2012), chi phí cận biên MC được tính như sau:

Trong đó, các hệ số được ước lượng từ hàm sau:

Sau khi ước lượng các biến đại diện cho tính ổn định và tính cạnh tranh của hệ thống ngân hàng, bước tiếp theo, bài nghiên cứu sẽ xem xét mối quan hệ giữa các biến này. Hàm số sẽ được ước lượng có dạng như sau:

Trong đó:
– Sit là chỉ số ổn định hệ thống gồm chỉ số Z-index, Nợ xấu (NPL) và Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên Tổng tài sản (EA);
– MPit là chỉ số về tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng bao gồm Lerner Index, HHI Cho vay (là tỷ lệ giữa lượng cho vay của ngân hàng và tổng cho vay toàn thị trường) và HHI Tiền gửi (là tổng tiền gửi tại ngân hàng trên tổng tiền gửi toàn thị trường), đại diện cho sức mạnh thị phần của mỗi ngân hàng;
– Xit là ma trận các biến kiểm soát gồm LnQit, LTAit, FATit, State_own_bank và Foreign_bank lần lượt là Logarit của Tổng tài sản ngân hàng, Tỷ lệ cho vay trên Tổng tài sản, Tỷ lệ tài sản cố định trên Tổng tài sản, Tỷ lệ các ngân hàng có vốn của nhà nước và của nước ngoài trên tổng số các ngân hàng trong nghiên cứu. Các biến này thể hiện thành phần cấu thành tài sản mỗi ngân hàng, quy mô của ngân hàng cũng như đặc điểm cạnh tranh qua công nghệ mới của nước ngoài.
Lưu ý là so với mô hình của Berger và cộng sự (2009), mô hình trong bài nghiên cứu loại bỏ biến GDP trên đầu người do tác động đa cộng tuyến. Trong điều kiện thông thường, mỗi cá nhân có thu nhập hàng năm ổn định và được sử dụng cho các khoản chi tiêu cố định như tiền thuê nhà, tiền học, tiền sinh hoạt, điện, nước… nên có một tỷ lệ tiết kiệm ổn định. Với dịch vụ tài chính ngân hàng tại Việt Nam chủ yếu vẫn là các dịch vụ ngân hàng truyền thống, người dân thường lựa chọn gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng. Ngân hàng lại sử dụng một phần số tiền trên để cho vay sau khi để lại dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, có thể thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa GDP trên đầu người và tài sản ngân hàng tại Việt Nam. Trong nghiên cứu của Berger và cộng sự (2009) với trên 7.500 ngân hàng, việc đưa cả hai biến là tài sản ngân hàng và GDP trên đầu người vào mô hình có thể không phải là vấn đề do luật số lớn trong xác suất thống kê, tuy nhiên, trong nghiên cứu về Việt Nam với các sản phẩm ngân hàng truyền thống và chỉ có 45 ngân hàng thì phải cân nhắc tác động đa cộng tuyến.
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Kết quả hồi quy giữa biến phụ thuộc là tính ổn định hệ thống với biến độc lập là tính cạnh tranh của hệ thống

Kết quả hồi quy system GMM cho thấy, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam có thể hướng theo luồng quan điểm cạnh tranh quá gay gắt sẽ dẫn tới bất ổn hệ thống, đúng như kết quả bài nghiên cứu của Berger và cộng sự (2009) và Hoàng Thị Phương Anh và cộng sự (2018) đã tìm ra. Theo kết quả hồi quy tại cột (1) Bảng 1, biến Lerner Index có hệ số tương quan dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 10% cho thấy chỉ số Lerner Index càng cao, tức là càng ít cạnh tranh thì hệ thống càng vững mạnh. Kết quả tại Bảng 2 cũng cho hệ số tương quan dương với ý nghĩa thống kê có ý nghĩa rất cao ở mức 1% giữa biến EA đại diện cho tính lành mạnh của các ngân hàng và các biến Lerner Index đại diện cho tính cạnh tranh hệ thống, HHI_deposit đại diện cho thị phần huy động tiền gửi, HHI_loan đại diện cho thị phần cho vay. Điều này cho thấy, các ngân hàng càng ít cạnh tranh, có thị phần lớn thì có tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản càng cao và càng lành mạnh. Theo kết quả tại cột (2) và (3) Bảng 3, tỷ lệ nợ xấu có hệ số tương quan âm với ý nghĩa thống kê ở mức 10% đối với biến HHI_deposit và ở mức 5% đối với biến HHI_loan. Điều này cho thấy, các ngân hàng có thị phần lớn hơn thì có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn. Kết quả này phù hợp với kết quả hồi quy tại Bảng 1 và Bảng 2 là các ngân hàng ít bị cạnh tranh hơn và có thị phần lớn hơn thì có hoạt động ngân hàng lành mạnh hơn.

Có một lưu ý là phương pháp lấy mẫu để tiến hành nghiên cứu ở Bảng 3 khác với Bảng 1 và Bảng 2. Nếu như ở Bảng 1 và Bảng 2 chúng tôi áp dụng phương pháp hồi quy system GMM với toàn bộ 45 ngân hàng trong giai đoạn 2006 đến 2017 thì tại Bảng 3, chúng tôi chỉ sử dụng số liệu từ 2013 đến 2017. Nguyên nhân của sự thay đổi này là sự thành lập của VAMC năm 2013 để xử lý các khoản nợ xấu bằng cách phát hành trái phiếu đặc biệt của VAMC. Với việc thành lập của VAMC, nợ xấu của hệ thống đang ở mức khá cao được xử lý tương đối hiệu quả và giảm xuống dẫn đến kết quả nghiên cứu không phản ánh đúng tác động của nợ xấu đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Bài nghiên cứu đã áp dụng phương pháp hồi quy system GMM đối với biến Nợ xấu (NPL) cho toàn bộ giai đoạn 2006-2017 nhưng không tìm được bất cứ kết quả có ý nghĩa nào (Kết quả thể hiện tại cột (4), (5), (6)). Tuy nhiên, khi áp dụng số liệu giai đoạn 2013-2017 sau khi hệ thống “reset” thì kết quả khá khả quan (Cột (1), (2), (3)).

4.2. Kết quả hồi quy giữa biến phụ thuộc là tính ổn định hệ thống với biến độc lập là các biến khác.
Về tác động của Tài sản ngân hàng (lnQ) và Tỷ lệ cho vay trên Tổng tài sản (LTA) đối với sự ổn định hệ thống, Berger và cộng sự (2009) đã khẳng định đây là mối tương quan nghịch. Điều này cho thấy ở một thị trường tài chính ngân hàng đã bão hòa, cạnh tranh khốc liệt và tồn tại thông tin bất cân xứng, sự cố gắng quá mức của các ngân hàng trong việc đẩy mạnh các khoản cho vay hay tăng tài sản bằng mọi giá có thể để lọt những dự án rủi ro cao làm ảnh hưởng sự lành mạnh của ngân hàng. Tương tự kết quả nghiên cứu của Berger và cộng sự (2009), kết quả nghiên cứu của chúng tôi tại cột (3) Bảng 1 cho thấy quan hệ tương quan nghịch với độ tin cậy 10% giữa Tổng tài sản ngân hàng (lnQ) và và Z_index. Tương tự Bảng 1, kết quả hồi quy tại Bảng 2 cũng chỉ ra quan hệ tương quan trái chiều với độ tin cậy rất cao ở mức 1% giữa Tổng tài sản ngân hàng (lnQ) và hệ số Vốn chủ sở hữu trên Tổng tài sản (EA). Kết quả trên tiếp tục được khẳng định tại Bảng 3 khi hai biến lnQ và NPL có hệ số tương quan dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%.
Về quan hệ giữa Tỷ lệ cho vay trên Tổng tài sản với Z_index và Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên Tổng tài sản, nghiên cứu không mang lại kết quả có ý nghĩa thống kê cao như nghiên cứu của Berger và cộng sự (2009), tuy nhiên kết quả hồi quy tại cột (2) và (3) Bảng 3 lại khẳng định trong bối cảnh thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam thời gian qua, tăng Tỷ lệ cho vay trên Tổng tài sản sẽ dẫn đến Tỷ lệ nợ xấu cao hơn. Kết quả này có ý nghĩa thống kê ở mức rất cao 1%.
Về việc sự có mặt của các ngân hàng có yếu tố nước ngoài tác động như thế nào đối với sự ổn định hệ thống, đáng tiếc là cả nghiên cứu của Berge và cộng sự (2009) và của nhóm nghiên cứu đều không thể đưa ra một kết luận thống nhất. Nếu như sự tham gia của các ngân hàng có yếu tố nước ngoài làm giảm Z_index tại Bảng 1 thì lại làm tăng Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên Tổng tài sản tại Bảng 2 và giảm tỷ lệ nợ xấu tại Bảng 3. Đây là hai luồng tác động ngược chiều nhau chứ không thống nhất như tác động của các biến đại diện cho cạnh tranh, Tổng tài sản, Tỷ lệ cho vay trên Tổng tài sản đối với sự ổn định hệ thống.
Về tác động của các ngân hàng có vốn nhà nước lên sự ổn định hệ thống, kết quả hồi quy tại Bảng 1 cho thấy, sự tác động này có ý nghĩa thống kê và tác động là trái chiều.
5. Kết luận và khuyến nghị chính sách
Cạnh tranh là động lực để các ngân hàng Việt Nam nâng cao năng suất lao động cũng như hiệu quả hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận tài chính cho người dân, góp phần tích cực cho quá trình đổi mới và phát triển kinh tế của nước ta trong thời gian vừa qua. Cạnh tranh không phải là nguồn gốc gây ra tính dễ tổn thương của ngân hàng, nhưng thực tế cho thấy, có sự đánh đổi đánh đổi giữa cạnh tranh và ổn định hệ thống ngân hàng trên một số khía cạnh. Kết quả thực nghiệm 45 NHTM ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2006 – 2017 cho thấy, mức độ cạnh tranh cao giữa các ngân hàng trong hệ thống trong bối cảnh luật pháp và khuôn khổ quản lý, giám sát còn chưa đầy đủ gây ra sự phát triển thiếu bền vững của hệ thống. Về nguyên tắc, sự đánh đổi này có thể được điều tiết bằng các quy định pháp lý, tuy nhiên trong thực tiễn cuộc sống, luật pháp lại không hoàn hảo. Điều này dẫn đến hai hệ quả quan trọng sau đây: Thứ nhất, chính sách cạnh tranh là cần thiết đối với sự phát triển của ngành Ngân hàng, tuy nhiên, cần tính đến những đặc thù của Ngành và các điều kiện lịch sử thực tiễn của Việt Nam; Thứ hai, cần có sự phối hợp giữa chính sách cạnh tranh và chính sách an toàn hoạt động ngân hàng. Do đó, thay vì hạn chế cạnh tranh để tăng cường ổn định, Chính phủ nên xây dựng và thực thi các quy định, chính sách hướng tới các động cơ đúng đắn nhằm đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng, đồng thời khuyến khích cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngành.
Về chính sách cạnh tranh
Để có một môi trường cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền có hiệu quả với thực trạng hiện nay của nước ta, có thể xem xét một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất, rà soát, giảm thiểu các rào cản thể chế đối với việc gia nhập thị trường theo hướng đơn giản hóa tối đa, cắt giảm các chi phí không cần thiết và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng chuyển đổi ngân hàng như từng bước nâng cao hiểu biết về tài chính, đặc biệt là kiến thức về những phương án tài chính thay thế cho người dân và hỗ trợ phát triển các “gói chuyển đổi” để đơn giản hoá các thủ tục hành chính khi chuyển đổi ngân hàng.
Thứ hai, duy trì hoạt động của thị trường và theo dõi, giám sát chặt chẽ những méo mó thị trường do các biện pháp can thiệp, điều tiết của Chính phủ gây ra trong giai đoạn tái cấu trúc và ổn định hệ thống, xúc tiến việc xử lý các ngân hàng yếu kém gắn với xử lý nợ xấu.
Về quản lý, giám sát ngân hàng
NHNN cần xây dựng và thực thi một khuôn khổ quản lý, giám sát ngân hàng phù hợp và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo sân chơi bình đẳng cho tất cả các ngân hàng. Để thực hiện mục tiêu này, NHNN cần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế nhằm đảm bảo các ngân hàng tham gia thị trường tuân thủ “luật chơi” đã quy định. Đây là nền tảng quan trọng, đảm bảo cho nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển ổn định, cạnh tranh lành mạnh và hội nhập hiệu quả. Các quy định về quản lý, giám sát ngân hàng trong dài hạn cần có sự kết hợp giữa việc áp dụng hình thức bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở rủi ro [2] và tăng cường các yêu cầu về vốn (các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng có tầm quan trọng hệ thống phải đảm bảo duy trì tỷ lệ các mức vốn mang tính hệ thống – là mức vốn có tính đến chi phí xã hội khi ngân hàng đổ vỡ và cường độ cạnh tranh về huy động vốn trên thị trường). Bên cạnh đó, NHNN nên tăng cường áp dụng các biện pháp an toàn vĩ mô để hạn chế việc chuyển đổi kỳ hạn các khoản vay, ngăn ngừa rủi ro tập trung tín dụng vào một lĩnh vực nhất định và kiểm soát tình trạng bùng nổ tín dụng.
Về các giải pháp hỗ trợ khác
Thứ nhất, Bộ Tài chính tiếp tục đẩy mạnh rà soát, bổ sung, hoàn thiện đồng bộ các văn bản hướng dẫn chế độ kế toán nhà nước, doanh nghiệp, bao gồm cả kế toán TCTD, doanh nghiệp bảo hiểm, các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, các quỹ tài chính nhà nước, các tổ chức tài chính có hoạt động đặc thù; tiếp tục xây dựng ban hành đầy đủ các chuẩn mực kế toán (tiệm cận đến IAS/IFRS), đồng thời xem xét hướng dẫn việc áp dụng chuẩn mực đối với các doanh nghiệp hoạt động đặc thù; thực thi đầy đủ, giám sát thực hiện Nghị định số 105/2013/NĐ-CP xử lý vi phạm hành chính đối với lĩnh vực kế toán và kiểm toán để tăng cường kỷ luật thị trường đối với lĩnh vực này.
Thứ hai, Bộ Công thương tăng cường phối hợp với NHNN trong việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Cạnh tranh năm 2018 nhằm đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách cạnh tranh và các quy định an toàn hoạt động ngân hàng, hướng đến phát huy hiệu quả cao nhất của cạnh tranh trong khi tính đến những đặc thù của hoạt động ngân hàng.
Thứ ba, các TCTD hoàn thiện, và áp dụng các quy định về quản trị ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế; phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh ngân hàng có trình độ chuyên môn cao, ý thức tuân thủ pháp luật, có đạo đức và tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp tốt; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào điều hành và quản lý, phân tích và phòng ngừa rủi ro, tạo tiền đề cho việc xây dựng ngân hàng hoạt động hiệu quả và có khả năng cạnh tranh tốt với các ngân hàng trong khu vực.
 [1] Giá trị thương hiệu là tài sản vô hình mà một ngân hàng có thể mất đi nếu bị phá sản hoặc bị cơ quan giám sát ra quyết định đóng cửa” (Acharya, 1996). Giá trị điều lệ còn được hiểu là giá trị thu nhập ròng hiện tại hay giá trị chiết khấu của thu nhập tương lai kỳ vọng của một ngân hàng, dựa trên uy tín, thị phần và thông tin khách hàng của ngân hàng đó (Guttentag và Herring, 1983).
[2] Phí bảo hiểm được quyết định trên cơ sở mức lãi suất chào bán và mức độ rủi ro của các tài sản của ngân hàng để loại bỏ hoặc giảm đặc điểm trách nhiệm hữu hạn của các ngân hàng.
Tài liệu tham khảo:
1. Acharya (1996). Charter value, minimum bank capital requirement and deposit insurance pricing in equilibrium. Journal of Banking and Finance 20, 351^375.
2. Allen, F., & Gale, D. (2000). Comparing financial systems. Cambridge, MA and London: MIT Press Books, 1.
3. Arellano, M., and S. Bond. 1991. Some tests of specification for panel data: Monte Carlo evidence and an application to employment equations. Review of Economic Studies 58: 277–297.
4. Beck, T. (2008). Bank Competition and Financial Stability: Friends or Foes? Policy Research Working Paper Series 4656, The World Bank.
5. Beck, T., De Jonghe, O. and Schepens, G. (2012). Bank competition and stability: cross-country heterogeneity. Journal of Financial Intermediation.
6. Berger, A. N., Klapper, L. F., & Turk-Ariss, R. (2009). Bank Competition and Financial Stability. Journal of Financial Services Research, 35(2), 99–118.

7. Hoàng Thị Phương Anh và cộng sự (2018). Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế: Những thay đổi trong khung chính sách tiền tệ. Nhà xuất bản Lao động, trang 399-412.

TS. Nguyễn Đức Trường

ThS. Hà Tú Anh
ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

Nguồn: TCNH số 23/2018

2021-10-29 / by / in
Tổng quan về hệ thống ngân hàng tại Việt Nam

Sự phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam có thể được đánh dấu từ sự ra đời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vào ngày 06/05/1951. Tuy nhiên, trước 1990, hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ thống một cấp, không có sự tách biệt giữa chức năng quản lý và chức năng kinh doanh. NHNN vừa đóng vai trò Ngân hàng Trung ương vừa là Ngân hàng thương mại. Đến năm 1990, do nhu cầu chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh doanh xã hội chủ nghĩa sang cơ chế thị trường có sựđiều tiết của nhà nước trong chủ trương phát triển nền kinh tếđa thành phần, ngày 23/05/1990, Hội đồng Nhà Nước ban hành pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và pháp lệnh về các tổ chức tín dụng.

Hai pháp lệnh này đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ hệ thống một cấp sang hệ thống hai cấp. Từ đó, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được tổ chức tương tự như hệ thống ngân hàng các nước có nền kinh tế thị trường: chức năng của NHNN được thu hẹp lại, chỉ còn giám sát chính sách tiền tệ, phát hành tiền, quản lý hệ thống tín dụng, giám sát các ngân hàng thương mại, quản lý dự trữ ngoại hối với mục tiêu hàng đầu là bình ổn tiền tệ và kiểm soát lạm phát, trong khi chức năng trung gian tài chính (huy động và phân bổ vốn) được chuyển sang cho các ngân hàng thương mại.

Cải cách hệ thống ngân hàng năm 1990 đã xoá bỏ được tính chất độc quyền nhà nước, góp phần đa dạng hoá hoạt động ngân hàng về mặt hình thức sở hữu cũng như về số lượng ngân hàng. Cụ thể, số lượng ngân hàng TMCP (NHTMCP) đã tăng lên nhanh chóng. Từ năm 1991-1993, số lượng NHTMCP nhảy vọt từ 4 ngân hàng lên đến 41 ngân hàng và đạt đỉnh điểm là 51 ngân hàng vào năm 1997. Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997, một số NHTMCP do kinh doanh không hiệu quả, bị phá sản hoặc rút giấy phép hoạt động nên con số này đã giảm.

Giai đoạn 2000 – 2007, là giai đoạn đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu lại toàn diện hệ thống ngân hàng nhằm củng cố và phát triển theo hướng tăng cường năng lực quản lý về tài chính, đồng thời giải thể, sáp nhập, hợp nhất hoặc bán lại các NHTMCP yếu kém về hiệu quả kinh doanh. Do đó, thời kỳ này số lượng các ngân hàng TMCP đã giảm xuống đôi chút so với những năm cuối của thập kỷ 1990. Ngoài ra, số lượng các chi nhánh và đại diện của các ngân hàng nước ngoài có xu hướng gia tăng theo các cam kết đã ký, trước hết là hiệp định thương mại Việt-Mỹ, hiệp định khung về thương mại dịch vụ (AFAS) của ASEAN. Kết quả là, tỷ trọng về số lượng NHTMCP giảm xuống so với toàn hệ thống ngân hàng thương mại, từ đỉnh cao 73% ở năm 1993 xuống còn 40% vào năm 2007. Đến năm 2008 và 2009, do hai ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) là ngân hàng Ngoại thương và ngân hàng Công thương lần lượt chuyển đổi sang hình thức cổ phần nên tỷ lệ này đã tăng lên chiếm khoảng 42% năm 2008 và 43% năm 2009 so với toàn ngành.

Số lượng các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn tương đối ổn định, từ bốn NHTMNN được thành lập ban đầu tăng lên 7 ngân hàng trong năm 2015. Trong số các NHTMNN, có bốn ngân hàng lớn nhất hệ thống: NHTMCP Ngoại thương (VCB), NHTMCP Công thương (CTG), NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank). Các ngân hàng còn lại bao gồm Ngân hàng TNHH MTV Dầu khí toàn cầu (GP Bank), Ngân hàng TNHH MTV Đại Dương và Ngân hàng TNHH MTV Xây dựng. Số lượng các ngân hàng được chia thành các nhóm ngân hàng nhà nước (NHNN), ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), chi nhánh ngân hàng nước ngoài (CNNHNN) và ngân hàng liên doanh được thể hiện cụ thể tại bảng cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại giai đoạn 2009-2015 dưới đây:

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2009-2015

Nguồn: Thống kê của NHNN

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Thu Nga (2017). Phân tích mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng với hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam. Luận án tiến sĩ kinh tế. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
  2. Berger, A. N., De Young, R. (1997), ‘Problem loans and cost efficiency in commercial Banks’, Journal of Banking And Finance, (21) 6, pp. 849-870.
  3. Williams, J., ( 2004), ‘Determining management behaviour in European Banking’ Journal of Banking and Finance 28, pp. 2427-2460.
  4. Rossi, S., Schwaiger, M., and Winkler, G. (2005), ‘Managerial Behaviour and Cost/Profit Efficiency in the Banking Sectors of Central and Eastern European Countries’, Working Paper, No. 96, Austrian National Bank.

Nguồn: ditiep.com

2021-10-29 / by / in
Quy mô hệ thống ngân hàng đã thay đổi thế nào trong 5 năm trở lại đây?

Từ lúc chỉ có 4 ngân hàng có tổng tài sản trên 10 tỷ đô cuối năm 2013 thì đến 2018 đã có 11 ngân hàng – đều là những ngân hàng có sức ảnh hưởng rất lớn khi thị phần tiền gửi và tín dụng chiếm đến hơn 2/3 thị trường.

Chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây, quy mô của hệ thống TCTD Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Từ mức tổng tài sản hơn 5,7 triệu tỷ đồng cuối năm 2013, đến cuối năm 2018 con số này đã vượt qua mốc 11 triệu tỷ, tức tăng gần gấp đôi sau 5 năm.

Tổng tài sản của hệ thống đang tập trung ở các NHTM Nhà nước (tỷ trọng 44%), sau đó là các NHTM cổ phần (41%). Tổng tài sản của các ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài chỉ chiếm 10%. 3% còn lại là của các loại hình TCTD khác như công ty tài chính, cho thuê tài chính, ngân hàng hợp tác xã, ngân hàng chính sách xã hội, các quỹ tín dụng nhân dân.

Cuối năm 2013, cả nước chỉ có 4 ngân hàng có tổng tài sản đạt trên 10 tỷ USD và đều là các ngân hàng có vốn chi phối của nhà nước. Tuy nhiên, đến cuối năm 2018, con số này đã lên tới 11 ngân hàng bao gồm: BIDV, Agribank, VietinBank, Vietcombank, SCB, Sacombank, MB, ACB, SHB, VPBank và Techcombank. Trong đó, BIDV và Agribank đang có tổng tài sản lớn nhất, đạt trên 1,3 triệu tỷ đồng.

11 cái tên này đang có sức ảnh hưởng rất lớn trên thị trường khi ước tính có thị phần tiền gửi và tín dụng trên 2/3 toàn thị trường, ngày càng tỏ ra cách biệt với những ngân hàng nhỏ phía sau.

SCB, VPBank, Sacombank, BIDV và Vietcombank là 5 ngân hàng có tăng trưởng tổng tài sản nhanh nhất trong nhóm này, lần lượt tăng 176%, 167%, 152%, 139% và 129%.

Trong khi tổng tài sản tăng theo cấp số nhân, vốn tự có và vốn điều lệ của các ngân hàng lại tăng khá chậm chạp. Đến cuối năm 2018, tổng số vốn tự có của hệ thống TCTD đạt hơn 806 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 339 nghìn tỷ tương đương tăng 73% so với cuối năm 2013. Trong đó, vốn tự có của các công ty tài chính, cho thuê tài chính tăng mạnh nhất với hơn 10 lần. Còn các NHTM Nhà nước có vốn tự có tăng chậm nhất (tăng 59%).

Trong 5 năm, vốn điều lệ của hệ thống được bổ sung hơn 152 nghìn tỷ đồng, tương đương tăng 36%. Theo đó, cuối năm 2018, tổng vốn điều lệ của cả hệ thống TCTD đạt trên 576 nghìn tỷ đồng. Trong đó, vốn điều lệ của khối ngân hàng cổ phần là lớn nhất và cũng tăng nhanh nhất trong 5 năm qua ( tăng 38%).

Tuy nhiên, trên thực tế trong nhóm ngân hàng cổ phần cũng có sự phân hóa rõ rệt. Những ngân hàng Top đầu như VPBank, Techcombank, MBBank, ACB,…có được nhiều thuận lợi trong việc tăng vốn nhờ kết quả kinh doanh ấn tượng, cổ phiếu tăng trưởng tốt và nhận được sự quan tâm của các nhà đầu tư ngoại. Trong khi đó, hàng loạt ngân hàng nhỏ có vốn điều lệ quanh 3.000 tỷ đồng vẫn đang loay hoay tìm đường tăng vốn nhưng bế tắc.

Việc tăng trưởng quy mô tổng tài sản quá nhanh trong khi vốn điều lệ được bổ sung vào không kịp đã dẫn đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) có xu hướng giảm ở nhiều TCTD. Cuối năm 2018, chỉ số CAR của cả hệ thống TCTD là 12,14%, trong đó, khối NHTM Nhà nước chỉ đạt 9,53%. Khối các ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài vẫn duy trì CAR khá cao, đạt 23,88%.

Nguồn: cafef

2021-10-29 / by / in
Thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị
Tính đến cuối 2010, hệ thống ngân hàng thương mại gồm có 5 NHTM Nhà nước, 37 NHTM cổ phần, 50 chi nhánh NHTM nước ngoài, 5 NHTM liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài.

1. Thực trạng thanh khoản tại các NHTM giai đoạn 2006 – 2017

Về lý thuyết, tính thanh khoản của ngân hàng thương mại (NHTM) được xem như khả năng đáp ứng những nhu cầu tức thời về tiền của NHTM như rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết, chi trả chi phí hoạt động hay những nhu cầu cần phải thanh toán bằng tiền khác. Do đó, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng (NH) không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao.

1.1. Khái quát về hệ thống NHTM Việt Nam
Tính đến cuối 2010, hệ thống NHTM gồm có 5 NHTM Nhà nước, 37 NHTM cổ phần, 50 chi nhánh NHTM nước ngoài, 5 NHTM liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài. (Bảng 1)
Từ năm 2010, do ảnh hưởng của thị trường thế giới cũng như hệ quả của quá trình mở rộng quá nhanh trước đây, hệ thống ngân hàng đã bộc lộ một số vấn đề bất cập. Chất lượng tín dụng sụt giảm, thanh khoản của hệ thống bất ổn, nguy cơ gây ra đổ vỡ hệ thống… Vì vậy, đầu năm 2012, hệ thống NHTM bắt đầu quá trình tái cơ cấu theo Đề án cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2011-2015 (Đề án 254). Sau 05 năm triển khai, đề án cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra, xử lý cơ bản được các NHTM yếu kém và giữ được ổn định chung của toàn hệ thống. Từ năm 2012 đến năm 2015, hệ thống đã giảm đi 5 NHTM cổ phần thông qua hoạt động sáp nhập, hợp nhất (Đệ Nhất, Tín Nghĩa, Nhà Hà Nội, Phương Tây, Đại Á) và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã mua lại 3 NHTM cổ phần (VNCB, OceanBank và GPBank). Đến cuối năm 2015, hệ thống có 7 NHTM Nhà nước (gồm 3 NHTM được Nhà nước mua lại với giá 0 đồng, Agribank và 4 NHTM cổ phần Nhà nước), 28 ngân hàng TMCP, 5 NH 100% vốn nước ngoài, 5 NH liên doanh. Tuy nhiên, hệ thống vẫn tiềm ẩn những vấn đề đáng lo ngại về sở hữu chéo, nợ xấu ở mức cao cũng như năng lực tài chính của các NHTM vẫn ở mức kém.
Chính vì vậy, Đề án Tái cơ cấu NH giai đoạn 2 (2016 – 2020) được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg, với các mục tiêu cụ thể: Tiếp tục cắt giảm tỷ lệ nợ xấu một cách bền vững và cắt giảm đáng kể số NHTM yếu kém; kéo lãi suất cho vay xuống mức trung bình của các nước đang phát triển là khoảng 5%/năm; đảm bảo 70% số NHTM thực hiện đầy đủ Basel II vào năm 2020. Đến nay, sau gần 2 năm, quá trình này đã đạt được kết quả bước đầu. NHNN đã phê duyệt phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của 3/4 NHTM Nhà nước. Các NHTM cổ phần tập trung củng cố, chấn chỉnh toàn diện trên các mặt tài chính, quản trị và hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh. Nợ xấu của toàn hệ thống tiếp tục được kiểm soát và duy trì ở mức dưới 3%. Bên cạnh đó, một số mục tiêu cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện như yêu cầu tăng vốn để đảm bảo an toàn hoạt động. Theo tính toán của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, tới cuối năm 2020 nhu cầu vốn tự có tăng thêm của 3 NH VietinBank, BIDV và Vietcombank dự kiến gấp 1,8 – 2 lần so với thời điểm hiện tại mới có thể đáp ứng quy định của Basel II. Nhưng các NHTM Nhà nước này chưa được sử dụng lợi nhuận giữ lại để tăng vốn, trong khi đó, tăng vốn theo hình thức bán cổ phần bị hạn chế bởi quy định về tỷ lệ nắm giữ cổ phần tối thiểu của Nhà nước.
Hiện nay, hệ thống NHTM đang trong giai đoạn tiếp tục cơ cấu lại để đảm bảo an toàn hoạt động và hướng tới quản trị điều hành theo thông lệ quốc tế. Trong đó, những vấn đề cụ thể được quy định chi tiết trong các văn bản pháp lý riêng. Đặc biệt là quản lý thanh khoản của các NHTM được quan tâm và các quy định được cập nhật liên tục.
1.2. Hiện trạng thanh khoản tại các NHTM
Nghiên cứu thanh khoản hệ thống các NHTM trong giai đoạn 2006-2017, có thể thấy, về cơ bản được đảm bảo an toàn. Trong giai đoạn này, tình trạng khủng hoảng thanh khoản diện rộng không xảy ra. Song cũng có NH đôi lúc còn căng thẳng thanh khoản và những khó khăn thanh khoản cục bộ đối với một số NHTM. Những trường hợp căng thẳng thanh khoản của hệ thống NHTM có thể được nhận biết thông qua biến động lãi suất trên thị trường.
Căng thẳng thanh khoản của hệ thống trong giai đoạn 2006 đến 2011 có 3 lần xảy ra với diễn biến và tính chất khác biệt nhau. Cụ thể từng lần như sau: (Biểu đồ 1)
Lần thứ nhất là vào năm 2008, khi tỷ lệ tín dụng/huy động vốn của hệ thống vượt qua mức 100% từ tháng 1/2008 thì ngay từ tháng 2/2008, lãi suất huy động vốn và cho vay tăng cao. Cụ thể, các NHTM phải áp dụng nhiều hình thức khuyến mại bằng tiền, hiện vật để tìm cách thu hút nguồn vốn. Xuất hiện tình trạng huy động vốn với kỳ hạn rất ngắn, tương tự như thị trường liên ngân hàng (LNH) với mức lãi suất rất cao. Các kỳ hạn đã được huy động là từ 2 đến 6 ngày với mức lãi suất hấp dẫn từ 0,45-0,65%/tháng. Tình trạng này kéo dài đến tháng 7 khiến cho mặt bằng lãi suất trên thị trường bán lẻ liên tục tăng. Mức tăng bình quân theo tháng từ 1 đến 2%/năm. Kết quả là mức lãi suất huy động vốn kỳ hạn 6 tháng tăng mạnh lên mức 10,5%/năm, vượt ngưỡng hơn 0,61%/năm so với quy định về mức lãi suất không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Đồng thời, mức lãi suất cho vay cũng tăng lên đáng kể. Đến tháng 7/2008, mức lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân của các NHTM tăng lên mức 13,8%/năm, trước tháng 2/2008 dao động ổn định quanh mức 12,3-12,7%/năm. Tình hình căng thẳng hơn khi chịu thêm ảnh hưởng của thị trường chứng khoán. Bởi vì, các NHTM không thể thực hiện bán giải chấp với các khoản vay kinh doanh chứng khoán khi thị trường sụt giảm. Nguyên nhân là do VNIndex sụt giảm trên 60% trong 6 tháng đầu năm 2008. Để tránh tình trạng trở nên tệ hơn, Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã vận động ngừng bán giải chấp cổ phiếu.
Lần thứ hai thanh khoản NHTM có biểu hiện căng thẳng là tháng 12/2009 khi lãi suất tái cấp vốn ở mức 8%/năm. Tỷ lệ vốn thanh khoản/tiền gửi huy động từ nền kinh tế tháng 12/2009 giảm ở tất cả các nhóm NHTM so với cuối năm 2008. Trong đó: Nhóm NHTM Nhà nước giảm từ 34,5% xuống 25,8%; Nhóm NHTM cổ phần giảm từ 47,2% xuống 43,4%; Nhóm NH liên doanh và NH nước ngoài giảm từ 65,3% xuống 60,8%. Cuối tháng 12/2009, số dư huy động vốn của các NHTM từ thị trường LNH tăng 65,8% so với cuối năm 2008. Riêng tháng 12/2009, huy động vốn trên thị trường LNH tăng đột biến (gần 21%) so với tháng 11/2009. Theo đó: Tỷ lệ huy động vốn từ thị trường LNH so tổng dư nợ cho vay nền kinh tế tăng từ 21,6% năm 2008 lên 26%; Tỷ lệ chênh lệch (tổng dư nợ tín dụng – huy động vốn trên thị trường I) so với huy động vốn trên thị trường LNH tăng từ -25,3% năm 2008 lên 5,4% năm 2009. Lãi suất LNH qua đêm và 1 tuần tăng mạnh. Trong khi lãi suất thị trường mở và tái cấp vốn chỉ tăng 1% từ mức 7% lên 8%/năm vào tháng 12/2009 thì lãi suất LNH bình quân tăng từ mức trung bình 6%/năm ở các tháng trong năm lên gần 11%/năm vào tháng 12 đối với kỳ hạn qua đêm, tăng từ 8%/năm lên 12%/năm đối với kỳ hạn 1 tuần.
Lần thứ ba trong giai đoạn từ tháng 10/2010 – 1/2011, tỷ lệ tín dụng/huy động vốn VND của toàn hệ thống TCTD tăng đáng kể từ mức 98,6% tháng 10/2010 lên mức 100,07% tháng 11/2010. Mặc dù đến thời điểm cuối năm 2010, tỷ lệ này đã giảm nhẹ xuống còn 99,1%. Nhưng ngay sau đó, vào tháng 1/2011, mức 100% lại tiếp tục bị vượt qua và duy trì đến tháng 5/2011. Nguyên nhân chủ yếu do tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tăng trưởng huy động vốn bằng VND liên tục diễn ra trong vòng 6 tháng kể từ tháng 10/2010. Thậm chí trong 3 tháng đầu năm 2011, số dư huy động vốn VND vào hệ thống NHTM liên tiếp giảm so với các tháng liền trước. Trên thị trường LNH, mức lãi suất qua đêm tăng liên tục. Mặc dù, trước đó, lãi suất đang duy trì xu hướng giảm từ đầu năm 2010 thì xu hướng ngược lại đã được xác lập từ tháng 7 đến cuối năm. Từ tháng 7/2010 đến tháng 10/2010, mức tăng bình quân tháng của mặt bằng lãi suất LNH liên tục là từ 0,1-0,5%/năm. Đến tháng 11/2010, chỉ trong vòng 1 tháng, mức lãi suất đã tăng cao đột biến 2,8%/năm lên mức 10,3%/năm vào tháng 11/2010. Lãi suất bình quân các kỳ hạn từ 1 tuần đến 12 tháng dao động xung quanh mức 13,3-13,5%/năm, cao hơn mức ổn định 7-11%/năm trong các tháng trước đó. Đồng thời, các NHTM tăng vay mượn trên thị trường LNH từ tháng 8/2010. Mức tăng mạnh nhất diễn ra vào tháng 10/2010 với mức tăng theo tháng đạt 19,3%. Sự gia tăng lãi suất này chính là nguyên nhân giúp cho tỷ lệ dư nợ/huy động vốn của các NHTM có dấu hiệu sụt giảm nhẹ vào cuối năm. Bởi vì, số dư huy động vốn VND của các NHTM từ thị trường LNH trong 11 tháng đầu năm tăng khá so với cuối năm 2009, đạt 14,34%. Tỷ lệ vốn huy động từ thị trường LNH/tổng vốn huy động tăng từ mức phổ biến 14% trong 7 tháng liền trước lên mức 17,1% tháng 11/2010 và tăng lên mức cao nhất 21,03% vào tháng 1/2011.
Nguyên nhân gây ra tình trạng rủi ro thanh khoản của các NHTM trong thời gian này là do nhiều yếu tố, từ điều kiện khách quan đến các yếu tố chủ quan của NHTM. Điều kiện khách quan có thể kể đến là ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, điều kiện kinh tế vĩ mô trong nước. Nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là các yếu tố chủ quan của hệ thống khi các NHTM không đáp ứng được các yêu cầu về đảm bảo an toàn thanh khoản của NHNN đưa ra cũng như vấn đề về xử lý khủng hoảng thông tin liên quan đến uy tín, ảnh hưởng của Ban Lãnh đạo NHTM.
1.3. Khung pháp lý về quản lý thanh khoản tại các NHTM
Từ Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD, các định hướng ban đầu về đảm bảo an toàn thanh khoản của các NHTM đã được quy định. Cụ thể gồm có: (i) yêu cầu nhân sự cũng như cách thức quản lý thanh khoản đối với các NHTM. NHNN yêu cầu các NHTM đều phải thành lập bộ phận chuyên biệt dưới sự điều hành của thành viên Ban Giám đốc (Ban Tổng Giám đốc) để quản lý chiến lược và chính sách đảm bảo khả năng chi trả của NHTM. Cụ thể hơn về cách thức vận hành, các quy định về việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và các dự kiến/phương án ứng phó cũng được đưa ra; (ii) mức an toàn tối thiểu về tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ khả năng chi trả cho kỳ hạn 7 ngày và 30 ngày, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn dùng để cho vay trung dài hạn. Có thể nói, Quyết định 457 có vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức về quản lý thanh khoản trong hoạt động của các NHTM.
Trong giai đoạn 2006-2010, NHNN đẩy mạnh hoàn thiện các quy định pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng để đảm bảo an toàn hệ thống. Nổi bật là yêu cầu nâng mức vốn pháp định và tăng cường kiểm soát việc chuyển đổi các NHTM cổ phần nông thôn lên thành các NHTM cổ phần đô thị. Đồng thời, các quy định về đảm bảo an toàn thanh khoản của hệ thống tiếp tục được bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện của hệ thống cũng như tiến gần đến các thông lệ quốc tế. Cụ thể là Thông tư 15/2009/TT-NHNN đã quy định “Quy định về tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn đối với TCTD”. Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 “Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD” quy định chi tiết về tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động.
Trong giai đoạn cơ cấu lại hệ thống theo Đề án 254, NHNN đã phối hợp với các NHTM lành mạnh để cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng yếu để giảm thiểu rủi ro thanh khoản của hệ thống. Ðồng thời, NHNN đã cho các NHTM gia hạn nợ đối với doanh nghiệp (DN) và cho phép một số NHTM mua bán nợ dưới dạng cho DN vay và nợ của các TCTD vay lẫn nhau. Đồng thời, NHNN ban hành Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TT 36). TT 36 đã tập trung được tất cả các quy định trước đây và tiếp tục nâng dần quy định về đảm bảo an toàn thanh khoản của các NHTM. Quy định của TT 36 đã chi tiết hơn về quản trị nội bộ về thanh khoản của NHTM cũng như các tỷ lệ an toàn thanh khoản. Các tỷ lệ về khả năng chi trả đã được quy định tương đối đầy đủ nhằm phòng ngừa rủi ro thanh khoản, rủi ro chênh lệch kỳ hạn của NHTM như: Tỷ lệ dự trữ thanh khoản (báo cáo theo ngày); Tỷ lệ khả năng chi trả trong vòng 30 ngày (theo ngày); Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để đầu tư trung và dài hạn; Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để đầu tư trái phiếu chính phủ; Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi. Trong đó, tỷ lệ khả năng chi trả trong vòng 30 ngày và tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để đầu tư trung và dài hạn có ý nghĩa gần giống với các khuyến nghị về thanh khoản của Basel III (LCR và NSFR).
Đến giữa năm 2016, Thông tư 06/2016/TT-NHNN (TT06) được ban hành nhằm sửa đổi và bổ sung một số điều của TT 36. Trong đó, các nội dung về quản lý thanh khoản đã có những thay đổi quan trọng: (i) Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn điều chỉnh giảm từ 60% xuống 40% đối với NHTM và quy định lộ trình giảm trong 2 năm (2017: 50%, 2018: 40%); (ii) Định nghĩa lại khái niệm NHTM Nhà nước, giữ nguyên tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi đối với nhóm NHTM cổ phần Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ là 80%; (iii) Thay đổi tỷ lệ đầu tư trên vốn ngắn hạn đối với NHTM Nhà nước từ 15% lên 25%, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài từ 15% lên 35%, Ngân hàng Hợp tác xã từ 40% về 35%. Bổ sung nguồn vốn ngắn hạn bao gồm cả các khoản tiền gửi cá nhân và tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức. Như vậy, các quy định về an toàn thanh khoản của hệ thống NHTM được điều chỉnh theo hướng chú trọng hơn đến đảm bảo an toàn thanh khoản trong dài hạn, tránh tình trạng các NHTM lạm dụng chuyển đổi kỳ hạn.
Nhìn lại quá trình phát triển của hệ thống có thể thấy, các vấn đề về thanh khoản của hệ thống đã luôn được NHNN hết sức quan tâm và điều hành sát sao. Bởi vì, chính những yếu kém về thanh khoản là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc phải thực hiện cơ cấu lại hệ thống để đảm bảo an toàn và phát triển lành mạnh.
2. Một số khuyến nghị 
Từ việc nhận biết nguyên nhân của tình trạng khó khăn thanh khoản của NHTM cũng như đánh giá hệ thống pháp lý hiện nay về quản lý thanh khoản được NHNN ban hành, tác giả xin đề xuất một số khuyến nghị nhằm khắc phục tình trạng căng thẳng thanh khoản của các NHTM.
2.1. Đối với cơ quan quản lý
Việc xây dựng được hệ thống hành lang pháp lý phù hợp với hệ thống NHTM là nhiệm vụ hàng đầu và có vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, những vấn đề về cảnh báo và giám sát hệ thống, cùng với công tác phối hợp xử lý khủng hoảng thông tin trong giai đoạn căng thẳng là đặc biệt quan trọng, trong đó cần hướng đến:
Thứ nhất, xây dựng hệ thống chỉ số phản ánh thanh khoản của cả hệ thống: với góc độ của cơ quan quản lý hệ thống, NHNN không chỉ cần quan tâm đến việc xây dựng được các tiêu chuẩn đánh giá cho từng NHTM mà còn phải có hệ thống chỉ số cảnh báo chung cho cả thị trường. Hệ thống cảnh báo sớm về thanh khoản cho toàn thị trường sẽ có vai trò đặc biệt quan trọng với an toàn thanh khoản của cả hệ thống. Hệ thống này sẽ giúp cảnh báo trước được các trường hợp căng thẳng thanh khoản với biểu hiện là lãi suất thị trường liên tục tăng cao như đã phân tích. Việc giám sát an toàn của hệ thống chỉ dựa vào đảm bảo các hệ số của từng NHTM đáp ứng theo yêu cầu là không đủ. Trong điều kiện các NHTM sẽ phụ thuộc lớn vào đặc điểm của thị trường tài chính thì những chỉ báo chung của thị trường sẽ có tác dụng lớn trong việc cảnh báo cho NHNN lường trước những ảnh hưởng có thể có từ môi trường vĩ mô đến hệ thống. Từ đó, NHNN có các chính sách điều tiết thị trường một cách kịp thời. Hệ thống chỉ số của thị trường có thể áp dụng gồm có các mô hình định lượng về cảnh báo sớm rủi ro thanh khoản cho hệ thống NHTM, áp dụng các chỉ số thanh khoản cho toàn hệ thống theo quy định Basel…
Thứ hai, đảm bảo công tác giám sát hệ thống NHTM và có chế tài xử phạt thích đáng. Trường hợp mất thanh khoản của 3 NHTM thực hiện hợp nhất vào năm 2011 được nhìn nhận nguyên nhân do chủ quan trong quá trình hoạt động của bản thân các NHTM. Mặc dù đã được xử lý nhanh chóng, tuy nhiên, những thiệt hại của ngân sách vẫn chưa được công bố. Do đó, vai trò của công tác giám sát hệ thống NHTM là rất quan trọng. Thực hiện giám sát thường xuyên sẽ giúp NHNN sớm phát hiện được trường hợp các NHTM đang có nguy cơ xảy ra rủi ro thanh khoản. Từ đó, NHNN có thể áp dụng các chế tài chấn chỉnh sớm ngay từ thời điểm phát sinh để tránh những rủi ro chung cho hệ thống.
Thứ ba, vấn đề về xử lý khủng hoảng truyền thông là rất quan trọng với thanh khoản. Vai trò thanh khoản của NHTM chỉ thực hiện được khi niềm tin của người gửi tiền được củng cố. Trường hợp ACB xảy ra sự cố về khủng hoảng thanh khoản, có thể nói, nguyên nhân không bắt nguồn từ hoạt động kinh doanh thường xuyên mà là từ vấn đề về truyền thông. Do đó, NHNN cùng các cơ quan chức năng cần hết sức thận trọng khi có bất cứ thông báo nào về tình hình của NHTM. Nếu xảy ra trường hợp bất khả kháng phải công bố về các thông tin tiêu cực liên quan đến các NHTM, NHNN có thể yêu cầu các NHTM có sự chuẩn bị trước và lên các phương án đối phó kỹ lưỡng.
2.2. Đối với các NHTM
Mọi quyết định kinh doanh của NHTM đều phải cân bằng giữa rủi ro và lợi ích. Do đó, với mục tiêu chính là sinh lợi thì việc đảm bảo an toàn thanh khoản thậm chí đôi khi còn được nhìn nhận như là “vật cản”. Tuy nhiên, các trường hợp căng thẳng thanh khoản đã xảy ra cũng cho các NHTM một số bài học. Cụ thể:
Thứ nhất, NHTM phải tuyệt đối tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn trong thanh khoản nói riêng và tuân thủ các quy định về hoạt động kinh doanh trong ngân hàng nói chung. Đối với các tỷ lệ an toàn thanh khoản, thậm chí, trong thực tiễn hoạt động, các NHTM cần duy trì mức độ an toàn cao hơn so với quy định tối thiểu của cơ quan chức năng. Điều này sẽ giúp các NHTM có thêm cơ hội tránh được rủi ro từ các yếu tố bất thường trong kinh doanh. Đối với tuân thủ các quy định về hoạt động kinh doanh, những vi phạm về mặt pháp luật, có khi chỉ từ một thành viên của Ban điều hành, cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn thanh khoản của cả ngân hàng. Do đó, hoạt động giám sát và kiểm tra trong ngân hàng cần phải được thực hiện thường xuyên. Từ đó, có thể kịp thời phát hiện những sai sót và điều chỉnh.
Thứ hai, các NHTM hoạt động kinh doanh cần tránh tình trạng chạy đua lãi suất huy động, cạnh tranh không lành mạnh bằng giá. Phương pháp cạnh tranh này sẽ gây thiệt hại cho chính bản thân các NHTM nhiều nhất. Sự hỗn loạn trên thị trường huy động vốn dân cư trong các giai đoạn căng thẳng của hệ thống cũng phần nào làm cho tình trạng chung trở nên tệ hơn. Thay vào đó, các NHTM có thể cạnh tranh thông qua các chính sách phi giá như nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện tăng cường quan hệ với khách hàng…
Thứ ba, thực hiện tốt quản lý khe hở thanh khoản và các vấn đề liên quan đến rủi ro lãi suất. Các NHTM cần hoàn thiện các quy định liên quan đến huy động và cho vay (nhất là huy động, cho vay trung, dài hạn) theo lãi suất thị trường; cần có cách giải quyết khoa học để không xảy ra tình trạng các khách hàng gửi tiền rút tiền trước hạn khi lãi suất thị trường tăng cao hoặc khi có các đối thủ khác đưa ra lãi suất cao, hấp dẫn khách hàng hơn. Ngoài ra, quản lý sự không cân đối về kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng là nội dung quan trọng để quản lý thanh khoản được hiệu quả.
Có thể nói, dù hệ thống NHTM Việt Nam chưa gặp phải cuộc khủng khoảng thanh khoản hệ thống, tuy nhiên,  quản lý thanh khoản của các NHTM luôn cần được quan tâm và hoàn thiện để đảm bảo an toàn hoạt động và hướng tới quản trị điều hành theo thông lệ quốc tế.

1 VN Economy, Ba ngân hàng hợp nhất là “tự nguyện”, 6 tháng 12 năm 2011. http://vneconomy.vn/20111206101234647P0C6/ba-ngan-hang-hop-nhat-la-tu-nguyen.htm

TS. Đỗ Hoài Linh 
ThS. Lại Thị Thanh Loan 
Nguồn: TCNH số 21-2018
2021-10-29 / by / in