Thêm kết quả...

Các yếu tố đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng thương mại

Mặc dù vốn là yếu tố cơ bản để đánh giá về mặt tài chính của ngân hàng, nhưng ngoài yếu tố vốn ta cần phải tính đến hàng loạt các yếu tố khác như: thanh khoản của ngân hàng, cấu trúc rủi ro tích sản, tính chất biến động của các loại tiền gởi và chất lượng quản lý ngân hàng.

Theo quan điểm của Mỹ và một số nước phương Tây, muốn đánh giá một ngân hàng người ta sử dụng 5 chỉ tiêu:

  Chỉ tiêu   Ghi chú
  Tỉ lệ vốn   Các tỉ số về vốn (Vốn chủ sở hữu/Tổng Tài sản, Vốn chủ sở hữu/Tài sản có …)
  Chất lượng tài sản có   Chất lượng tín dụng và các khoản đầu tư
  Tiền lãi   Các tỉ số về thu nhập
  Thanh khoản   Tính thanh khoản trên tài sản, trên cổ phiếu ….
  Chất lượng quản lý   Đội ngũ quản lý, nhân viên, mạng lưới, công nghệ…

Các cơ quan ngân hàng căn cứ vào các tiêu chuẩn trên để chấm điểm và phân loại ngân hàng tốt, khá, yếu…

ĐỐI VỚI TÀI SẢN CÓ

Trong quản lý tài sản, có một mặc định rằng Ngân hàng thương mại phải tôn trọng các tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mặc khác phải tránh các rủi ro để tồn tại và kinh doanh có lãi.

Trong cơ chế thị trường các ngân hàng hoạt động trong môi trường đầy rủi ro và không chắc chắn, cũng như lãi suất tương lai và giá cả các loại chứng khoán sẽ ra sao là những điều khó lường trước. Vì thế, những nhà quản lý ngân hàng phải có tầm nhìn xa hơn những lý do kiếm lời đơn thuần.

Để duy trì khả năng thanh toán, một mặt, Ngân hàng thương mại phải đảm bảo toàn bộ giá trị tài sản có phải lớn hơn các khoản nợ phải thanh toán ở mọi thời điểm. Có  trường hợp một ngân hàng có đủ khả năng trừ nợ nhưng lại thiếu thanh khoản để trang trải các nợ tức thời, cũng coi như ngân hàng đó thiếu khả năng thanh toán và có nguy cơ dẫn đến phá sản.

Trong kinh doanh, muốn đứng vững và cạnh tranh được thì ngân hàng phải giữ rủi ro trong giới hạn nhất định, phải đẫm bảo thanh khoản theo mức độ cần thiết trong kết cấu tài sản có và mức độ sinh lãi có thể chấp nhận được. Nếu quá chú trọng đến yếu tố này hoặc yếu tố khác thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh.

Khi quản lý kết cấu tài sản có, các ngân hàng thường tính toán và sắp xếp thứ tự ưu tiên như sau:

Dự trữ thứ cấp: bao gồm các loại chứng khoán có khả năng chuyển thành tiền dể dàng như: trái phiếu kho bạc, giấy chấp nhận trả tiền của ngân hàng… Dự trữ thứ cấp được dùng để hổ trợ cho dự trữ sơ cấp về các nhu cầu rút tiền, thanh toán giữa các ngân hàng và vay mượn của khách hàng đã được dự kiến trước.

Dự trữ sơ cấp: là các khoản mục về ngân quỹ tiền mặt, tiền gởi ở Ngân hàng Trung ương, tiền gởi các ngân hàng khác. Các khoản dự trữ này được sử dụng để dự trữ theo quy định của Ngân hàng Trung ương và đáp ứng nhu cầu bất thường về tiền mặt cho khách hàng hoặc để thực hiện các khoản thanh toán cho ngân hàng khác trong việc thanh toán giữa các ngân hàng.

ĐỐI VỚI TÀI SẢN NỢ

Ngày nay các nhà ngân hàng đã bắt đầu quan tâm nhiều đến tài sản nợ và coi việc quản lý tài sản nợ như là một yếu tố để nâng cao hiệu quả quản lý, cũng như tăng nguồn bổ sung đối với khả năng thanh toán của ngân hàng.

Quản lý tài sản nợ tức là sử dụng các nghiệp vụ bên nợ của bảng tổng kết tài sản để mở rộng các quỹ nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán như bù đắp các khoản dự trữ, hoặc điều tiết những nhu cầu mới về tín dụng. Như vậy, việc quản lý tài sản nợ là việc thu hút nhanh chóng các khoản tiền tệ trên thị trường để tạo khả năng thanh toán

Kỹ thuật quản lý tài sản nợ là nhằm khai thác các nguồn bổ sung quan trọng về khả năng thanh toán của ngân hàng. Tuy nhiên, việc quản lý này chỉ là bổ sung, chứ nó không thay thế cho việc quản lý cho tài sản có. Nếu như chú trọng quá đến việc khai thác các nguồn bổ sung mà xem thường các khoản dự trữ thuộc tài sản có sẽ có hậu quả xấu trong hoạt động của ngân hàng, có thể dẩn đến khủng hoảng trầm trọng.

Nguồn: Sưu tầm

2021-10-28 / by / in
Ngân hàng bán buôn là gì? Giải đáp các thắc mắc về ngân hàng bán buôn

Ngân hàng bán buôn là gì? 

Khái niệm ngân hàng bán buôn ít khi được nhắc đến trong từ điển ngôn ngữ Việt Nam. Bởi lẽ, đây không phải là tên gọi chính thức của nhóm ngân hàng cụ thể nào đó mà chỉ đơn giản là một loại hình dịch vụ. Bản chất của loại hình dịch vụ này là hoạt động giao dịch tín dụng giữa các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính.

Dịch vụ ngân hàng được cho là “bán buôn” chỉ khi đối tượng giao dịch là các ngân hàng thương mại, tập đoàn tài chính lớn mạnh, các cơ quan Chính phủ Nhà nước, các quỹ hưu trí, quỹ phúc lợi,… Họ phải là những đơn vị hành chính sự nghiệp có quy mô, sức ảnh hưởng và có nhu cầu trong việc tài trợ thiết bị, cho vay quy mô lớn, tài trợ thiết bị, uỷ thác và các dịch vụ khác.

Ngân hàng bán buôn là ngân hàng chuyên doanh hay không?

Để trả lời câu hỏi, trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm “chuyên doanh”.

Theo từ điển Kinh tế học – Đại học Kinh tế Quốc dân, Ngân hàng chuyên doanh (merchant bank) là định chế tài chính chuyên môn hóa vào việc tư vấn cho các công ty khách hàng về vấn đề phát hành cổ phiếu, trái phiếu mới, bảo lãnh, tư vấn cho các công ty về sáp nhập, thôn tính và thực hiện nhiều chức năng ngân hàng cho các công ty lớn.

Hầu hết các ngân hàng bán buôn tại Việt Nam hiện nay đều cung cấp các dịch vụ này. Tuy nhiên, về tính chuyên môn hoá thì lại có sự khác biệt ở từng đơn vị khác nhau. Vì vậy, câu hỏi này sẽ đúng với những ngân hàng chỉ chuyên về dịch vụ bán buôn, sai với những đơn vị đa dạng hoá cả hoạt động bán buôn và bán lẻ.

Ngân hàng bán buôn có gì khác với ngân hàng bán lẻ?

Như đã nói ở khái niệm ngân hàng bán buôn là gì, đối tượng của ngân hàng bán buôn là các tổ chức giao dịch lớn, cùng thực hiện dịch vụ trao đổi quy mô lớn. Trong khi đó, ngân hàng bán lẻ lại tập trung phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ với đối tượng là cá nhân hay tổ chức nhỏ lẻ. Đây cũng chính là khác biệt cơ bản giữa hai loại hình ngân hàng này.

Ngân hàng bán buôn có gì khác với ngân hàng bán lẻ?

Bên cạnh nhóm đối tượng mục tiêu tách biệt thì danh mục sản phẩm cung ứng của ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ cũng có sự khác nhau. Cụ thể, ngân hàng bán lẻ cung cấp dịch vụ điển hình là tín dụng, ATM, ghi nợ, tiết kiệm, thế chấp. Ngân hàng bán buôn ngoài các loại hình cơ bản trên còn phục vụ các dịch vụ đặc biệt như tài trợ quỹ lương/ quỹ hưu trí, cho vay ngân hàng thương mại khác hay quản lý tiền mặt.

Danh sách ngân hàng bán buôn tại Việt Nam

Tại Việt Nam, hình thức ngân hàng bán buôn vẫn còn khá ít được biết đến. Song, thực tế các “ông lớn” trong ngành hiện nay đều sở hữu loại hình dịch vụ bán buôn. Tiêu biểu nhất trong số đó phải kể đến:

  • Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Vietcombank
  • Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Agribank
  • Ngân hàng TMCP Công Thương Vietinbank
  • Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV
  • Ngân hàng TMCP Quân đội MBBank
  • Ngân hàng TMCP kỹ thương Techcombank
  • Ngân hàng TMCP Á Châu

Trong cuộc chiến bán buôn, các ngân hàng trực thuộc nhà nước luôn chiếm nhiều ưu thế nhờ tận dụng được nguồn vốn giá rẻ. Khối đơn vị này luôn có lãi suất cho vay thấp hơn các ngân hàng thương mại cổ phần khác (tận dụng từ nguồn vốn giá rẻ từ các đối tác lớn). Ngoài ra, ngân hàng nhà nước cũng có sức cạnh tranh mạnh hơn trong nguồn tiền gửi từ dân cư. Tuy nhiên, bên cạnh các đơn vị “kinh doanh dòng tiền” thuộc sở hữu Nhà nước, cũng có không ít đơn vị tư nhân có sức cạnh tranh mạnh trong bán buôn mà Techcombank là một dẫn chứng tiêu biểu. Với khởi điểm là một ngân hàng bán lẻ chuyên phục vụ khách hàng cá nhân, Techcombank đã phát triển khối bán buôn vào năm 2012 và đến nay đã trở thành một trong những ngân hàng lớn nhất cả nước.

Ngân hàng bán buôn là ngân hàng không chi nhánh?

Hoàn toàn sai khi nhận định định ngân hàng bán buôn không có chi nhánh. Hầu hết các ngân hàng bán buôn tại Việt Nam hiện nay đều có chi nhánh rộng khắp tỉnh thành. Việc sở hữu nhiều chi nhánh giúp các ngân hàng hiện thực tốt hơn mục tiêu cung cấp dịch vụ khách hàng cá nhân và cả khách hàng tổ chức. Điểm cung cấp dịch vụ của các ngân hàng bán buôn trải dọc khắp tỉnh thành và tập trung nhiều hơn ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh,… Đặc điểm chung của những khu vực này là có lượng dân cư lớn, khối doanh nghiệp nhiều, dẫn đến lượng cầu cao.

Nguồn: jobsgo

2021-10-28 / by / in
Điều kiện để thành lập ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam

1. Giấy phép thành lập và hoạt động Ngân hàng thương mại cổ phần

1.1. Có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định là 3.000 tỷ đồng

1.2. Cổ đông sáng lập là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tài chính để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đủ khả năng tài chính để góp vốn

Điều kiện đối với chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là cổ đông sáng lập do Ngân hàng Nhà nước quy định

1.3. Người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định:

1.3.1. Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:

– Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật các tổ chức tín dụng

– Có đạo đức nghề nghiệp

– Là cá nhân sở hữu hoặc người được ủy quyền đại diện sở hữu ít nhất 5% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp là thành viên Hội đồng thành viên, thành viên độc lập của Hội đồng quản trị hoặc có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật hoặc có ít nhất 03 năm là người quản lý của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp hoạt động trong ngành bảo hiểm, chứng khoán, kế toán, kiểm toán hoặc có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp tại các bộ phận nghiệp vụ trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, kiểm toán hoặc kế toán.

Thành viên độc lập của Hội đồng quản trị phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại mục 1.3.1 nêu trên và các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:

– Không phải là người đang làm việc cho chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng đó hoặc đã làm việc cho chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng đó trong 03 năm liền kề trước đó

– Không phải là người hưởng lương, thù lao thường xuyên của tổ chức tín dụng ngoài những khoản phụ cấp của thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định

– Không phải là người có vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em và vợ, chồng của những người này là cổ đông lớn của tổ chức tín dụng, người quản lý hoặc thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng;

– Không trực tiếp, gián tiếp sở hữu hoặc đại diện sở hữu từ 1% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng; không cùng người có liên quan sở hữu từ 5% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng;

– Không phải là người quản lý, thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng tại bất kỳ thời điểm nào trong 05 năm liền kề trước đó.

Thành viên Ban kiểm soát phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:

– Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật các tổ chức tín dụng

– Có đạo đức nghề nghiệp;

– Có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật, kế toán, kiểm toán; có ít nhất 03 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, kế toán hoặc kiểm toán; nhiệm

– Không phải là người có liên quan của người quản lý tổ chức tín dụng

– Thành viên Ban kiểm soát chuyên trách phải cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm

Tổng giám đốc (Giám đốc) phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:

– Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật các tổ chức tín dụng

– Có đạo đức nghề nghiệp;

– Có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật

– Có ít nhất 05 năm làm người điều hành của tổ chức tín dụng hoặc có ít nhất 05 năm làm

Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng mức vốn pháp định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật hoặc có ít nhất 10 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, kế toán hoặc kiểm toán;

– Cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm

Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng, Giám đốc Chi nhánh, Giám đốc công ty con và các chức danh tương đương phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:
  • Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 33 của Luật các tổ chức tín dụng; đối với Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật các tổ chức tín dụng
  • Có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật hoặc lĩnh vực chuyên môn mà mình sẽ đảm nhiệm; hoặc có bằng đại học trở lên ngoài các ngành, lĩnh vực nêu trên và có ít nhất 03 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính hoặc lĩnh vực chuyên môn mà mình sẽ đảm nhiệm;
  • Cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm.

Có Điều lệ phù hợp với quy định

Có Đề án thành lập, phương án kinh doanh khả thi, không gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng; không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ chức tín dụng.

Điều kiện đối với cổ đông sáng lập

Chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính hợp pháp của nguồn vốn góp

Cam kết hỗ trợ ngân hàng thương mại cổ phần về tài chính để giải quyết khó khăn trong trường hợp ngân hàng thương mại cổ phần khó khăn về vốn hoặc khả năng thanh khoản

Không phải là cổ đông sáng lập, chủ sở hữu, thành viên sáng lập, cổ đông chiến lược của tổ chức tín dụng khác

Có tối thiểu 02 cổ đông sáng lập là tổ chức;

Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 50% vốn điều lệ khi thành lập ngân hàng thương mại cổ phần, trong đó các cổ đông sáng lập là tổ chức phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 50% tổng số cổ phần của các cổ đông sáng lập;

Ngoài các điều kiện quy định tại mục 1.6.1, 1.6.2, 1.6.3, 1.6.5 nêu trên, cổ đông sáng lập là cá nhân phải đáp ứng các điều kiện sau:

  • Mang quốc tịch Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật
  • Không thuộc những đối tượng bị cấm theo quy định của Luật Doanh nghiệp
  • Có khả năng về tài chính để góp vốn thành lập ngân hàng thương mại cổ phần; không được dùng vốn ủy thác, vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác để góp vốn
  • Là người quản lý doanh nghiệp kinh doanh có lãi trong ít nhất 03 năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép hoặc có bằng đại học, trên đại học chuyên ngành kinh tế hoặc luật
Ngoài các điều kiện quy định tại mục 1.6.1, 1.6.2, 1.6.3, 1.6.5 nêu trên, cổ đông sáng lập là tổ chức phải đáp ứng các điều kiện sau:
  • Được thành lập theo pháp luật Việt Nam
  • Có khả năng về tài chính để góp vốn thành lập ngân hàng thương mại cổ phần và cam kết không được dùng vốn ủy thác, vốn huy động, vốn vay, của các tổ chức, cá nhân khác để góp vốn
  • Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế và bảo hiểm xã hội theo quy định đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép
  • Có vốn chủ sở hữu tối thiểu 500 tỷ đồng trong 05 năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép
  • Kinh doanh có lãi trong 05 năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép
  • Trường hợp là doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề kinh doanh có yêu cầu vốn pháp định, phải đảm bảo vốn chủ sở hữu trừ đi vốn pháp định tối thiểu bằng số vốn góp cam kết theo số liệu từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của năm liền kề thời điểm gửi hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép;
  • Trường hợp là doanh nghiệp Nhà nước, phải được cấp có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản cho phép tham gia góp vốn thành lập ngân hàng thương mại cổ phần theo quy định của pháp luật
  • Trường hợp là tổ chức được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm phải tuân thủ việc góp vốn theo các quy định liên quan của pháp luật
Trường hợp là ngân hàng thương mại:
  • Có tổng tài sản tối thiểu là 100.000 tỷ đồng, tuân thủ đầy đủ các quy định về quản trị rủi ro và trích lập dự phòng đầy đủ theo quy định tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và đến thời điểm cấp Giấy phép
  • Không vi phạm các tỷ lệ về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và đến thời điểm cấp Giấy phép
  • Tuân thủ điều kiện, giới hạn mua, nắm giữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng theo quy định tại khoản 6 Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng
  • Đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và đáp ứng đầy đủ điều kiện sau khi góp vốn thành lập ngân hàng thương mại cổ phần

Văn bản quy phạm pháp luật

  • Khoản 9 Điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12
  • Điều 18, 20, 21 và 50 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12
  • Nghị định số 141/2006/NĐ-CP
  • Nghị định số 10/2011/NĐ-CP
  • Điều 9 Mục 2 Chương II Thông tư số 40/2011/TT-NHNN

Nguồn: Tuvanvietluat

2021-10-28 / by / in
Xu hướng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của các ngân hàng thương mại

Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ là phù hợp với xu hướng tất yếu trong hoạt động của các ngân hàng thương mại trong khu vực, trên thế giới nói chung và của các ngân hàng thương mại Việt Nam nói riêng. Bởi lẽ, việc mở rộng phục vụ nhóm đối tượng là khách hàng các cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng thị trường, quản lý rủi ro hữu hiệu hơn nhờ đó giúp ngân hàng đạt hiệu quả kinh doanh tối ưu.

Đặt vấn đề

Hoạt động ngân hàng bán lẻ (NHBL) luôn được coi là một hoạt động cốt lõi. Dịch vụ NHBL có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn của các thành phần kinh tế để cho vay cải thiện đời sống dân cư, hạn chế thanh toán tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng. Dịch vụ NHBL giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho ngân hàng, góp phần đa dạng hóa hoạt động ngân hàng, đem lại doanh thu chắc chắn, ít rủi ro, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ phi ngân hàng, từ đó gia tăng và phát triển mạng lưới khách hàng hiện tại và tiềm năng của các ngân hàng thương mại (NHTM).

Hiện nay, Việt Nam có khoảng trên 95 triệu dân, là nước đông dân thứ 15 trên thế giới. Theo dự báo của Bộ Công Thương, năm 2020, cả nước sẽ có khoảng 1.500 siêu thị, 180 trung tâm thương mại, 157 trung tâm mua sắm và hơn 1.500 cửa hàng tiện lợi… Dân số đông và sự phát triển nhanh chóng của hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, cửa hàng tiện lợi góp phần đưa thị trường bán lẻ trở thành mối quan tâm hàng đầu của mọi DN, trong đó có các ngân hàng. Đây là cơ hội để ngân hàng cơ cấu lại nguồn thu, dịch chuyển dần từ thu dịch vụ tín dụng sang thu dịch vụ thông qua phát triển cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng tiện ích, đáp ứng nhu cầu thanh toán của người dân.

Vai trò của phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ

Phát triển dịch vụ NHBL làm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các chủ thể trong xã hội, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, phát triển bền vững. Dịch vụ NHBL đem lại sự thuận tiện, an toàn, tiết kiệm cho DN và người dân trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình. Dịch vụ NHBL là cầu nối vững chắc giữa ngân hàng và khách hàng trong hiện tại và tương lai. Mặt khác, dịch vụ NHBL phát triển tốt sẽ kéo theo các loại hình dịch vụ khác phát triển theo, tạo nên hệ thống các sản phẩm dịch vụ đa dạng hỗ trợ tích cực cho nhau.

Phát triển dịch vụ NHBL, gia tăng quá trình luân chuyển vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế và đảm bảo chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đứng trên giác độ kinh tế xã hội, việc phát triển dịch vụ NHBL có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế. Dịch vụ NHBL sẽ làm rút ngắn thời gian giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng, làm cho tiền tệ có thể nhanh chóng chuyển từ tay khách hàng đến ngân hàng và ngược lại. Những đồng vốn huy động được sẽ nhanh chóng được tái đầu tư để phát triển kinh tế, giúp cải thiện đời sống dân cư.

Phát triển dịch vụ NHBL góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và các thành phần kinh tế theo hướng tiến bộ và hiện đại; đồng thời, góp phần tích cực trong việc khơi thông nguồn vốn trong xã hội phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân. Các dịch vụ NHBL phát triển sẽ tạo điều kiện tốt để các DN nhỏ và vừa (DNNVV), các hộ kinh doanh cá thể có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn tín dụng và các dịch vụ NHBL tiên tiến khác. Bên cạnh đó, phát triển dịch vụ NHBL góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hình thành các ngành kinh tế mới có giá trị gia tăng cao, các khu vực, vùng kinh tế phát triển năng động, hiệu quả, bền vững.

Ngoài ra, dịch vụ NHBL góp phần thúc đẩy các DNNVV phát triển, tạo nên tính năng động, hiệu quả trong phát triển loại hình DN này. Các DNNVV có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Do vậy, các NHTM lớn hiện nay tại Việt Nam đều hết sức quan tâm, dành các nguồn lực tài chính, ưu tiên cán bộ có năng lực trình độ, phát triển các sản phẩm dịch vụ đa dạng nhằm hướng tới đối tượng khách hàng tiềm năng là các DNNVV.

Thực trạng sử dụng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam

Những năm gần đây, các ngân hàng đều quan tâm và tập trung khai thác thị trường bán lẻ nên đã đạt được những kết quả đáng khích lệ như đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, phát triển các loại hình dịch vụ mới, đa tiện ích và đã được xã hội chấp nhận như máy giao dịch tự động (ATM), internet banking, home banking, PC banking, mobile banking… Các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng và linh hoạt hơn như tiết kiệm lãi suất bậc thang, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm rút lãi và gốc linh hoạt, tiết kiệm lãi suất theo số dư tiết kiệm kết hợp bảo hiểm, tiết kiệm gửi góp, phát hành giấy tờ có giá, dịch vụ gửi một nơi-giao dịch tại nhiều nơi.

Nguồn vốn huy động của các ngân hàng từ dân cư đã tăng mạnh và chiếm 35-40% vốn huy động. Lượng kiều hối chuyển qua các ngân hàng ngày càng tăng (năm 2007 đạt khoảng 6,5 tỷ USD), góp phần tạo nguồn ngoại tệ đáng kể cho các ngân hàng và tăng thu nhập từ phí thanh toán. Các hình thức cho vay cũng được mở rộng hơn: cho vay mua nhà, mua xe ô tô, du học, chứng minh tài chính, cho vay cán bộ công nhân viên, thấu chi… tạo điều kiện cải thiện đời sống nhân dân khi tích lũy chưa đủ. Các NHTM đã có những cải thiện đáng kể về năng lực tài chính, công nghệ, quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức và mạng lưới kênh phân phối, hệ thống sản phẩm dịch vụ. Nhiều loại hình dich vụ NHBL đã được triển khai thực hiện như dịch vụ tài khoản, séc, thẻ, quản lý tài sản, tín dụng, cầm cố.

Bên cạnh những kết quả đạt được, dịch vụ NHBL của các NHTM Việt Nam còn nhiều bất cập, đó là các ngân hàng chưa xây dựng được phương án phát triển dịch vụ NHBL một cách đồng bộ và hiệu quả. Các sản phẩm dịch vụ NHBL chưa phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Các dịch vụ NHBL hiện đại được triển khai chậm, dịch vụ thanh toán thẻ còn hạn chế về phạm vi sử dụng và chưa phát triển sâu rộng trong đại bộ phận công chúng, dịch vụ internet banking mới dừng lại chủ yếu ở mức truy vấn thông tin, chưa cho phép thực hiện thanh toán, các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt như séc cá nhân gần như không được sử dụng, tiện ích thanh toán thẻ còn hạn chế…

Định hướng giải pháp phát triển ngân hàng bán lẻ trong xu thế mới

Một là, xây dựng mô hình kinh doanh lấy khách hàng làm trung tâm theo mô hình kinh doanh truyền thống, ngân hàng nên để mang đến cho khách hàng các sản phẩm dịch vụ dịch vụ NHBL mà ngân hàng có để khách hàng lựa chọn. Theo mô hình lấy khách hàng làm trung tâm, mỗi khách hàng là một đối tượng nghiên cứu, ngân hàng cần đầu tư vào việc phân tích khách hàng, nắm được tiềm năng giá trị của khách hàng, mô hình chi tiêu, đầu tư và kinh doanh để đưa ra các đề nghị đúng với mục tiêu của khách hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng cần chú trọng việc tạo ra các trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng để nâng cao sự hài lòng, dẫn đến lòng trung thành và hướng đến mục tiêu đạt được doanh thu cao hơn từ một đối tượng cụ thể.

Bên cạnh những kết quả đạt được, dịch vụ ngân hàng bán lẻ của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn nhiều bất cập, đó là các ngân hàng chưa xây dựng được phương án phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ một cách đồng bộ và hiệu quả. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ chưa phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.

Hai là, phát triển mạng lưới, gia tăng sự thuận tiện và tiện ích cho khách hàng, trong đó, chú trọng phát triển mạng lưới cứng và mạng lưới mềm. Cụ thể, đối với mạng lưới cứng: Khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng bán lẻ, sự thuận tiện luôn là một yếu tố được đề cao. Trong đó, sự thuận tiện về vị trí địa lý, khoảng cách và thời gian tiếp cận. Do vậy, việc không ngừng phát triển các điểm giao dịch mới như chi nhánh, phòng giao dịch, điểm liên doanh liên kết, điểm giao dịch ngân hàng tự động… là rất cần thiết để gia tăng sự tiện lợi cho khách hàng sử dụng dịch vụ. Phát triển mạng lưới mềm: Là các phương thức giao dịch được tạo ra mà không cần đến các điểm giao dịch chính thức như hệ thống các điểm chấp nhận dịch vụ (siêu thị, nhà hàng…) và các phương thức thực hiện dịch vụ thông qua các hình thức khác nhau như web, app, các đối tác bán chéo dịch vụ như grab, now.vn, foody…

Ba là, phát triển hệ thống công nghệ thông tin hiện đại. Một hệ thống ngân hàng lõi (Core banking system – CBS) tốt là nền tảng công nghệ thông tin để khách hàng có thể thao tác mọi dịch vụ một cách chính xác, thuận tiện, nhanh và tốt nhất. Hệ thống CBS tốt cũng giúp cho ngân hàng, nhân viên, đối tác có thể phát triển các sản phẩm dịch vụ và các tiện ích tốt nhất cũng như hướng đến mục tiêu quản trị hiệu quả. Dựa trên hệ thống CBS hiện đại và hiệu quả, ngân hàng cần phát triển các tiện ích về công nghệ để nhằm gia tăng sự thuận tiện cho khách hàng, đặc biệt là các ứng dụng sử dụng trên điện thoại thông minh.

Bốn là, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng khách hàng. Với mô hình lấy khách hàng làm trung tâm, ngân hàng cần xây dựng các sản phẩm dịch vụ chuyên biệt dành cho từng nhóm đối tượng cụ thể. Đối với các đối tượng khách hàng có tiềm năng, mức độ chuyên biệt hóa càng được yêu cầu ở mức cao nhất. Bên cạnh đó, cần có các sản phẩm được thiết kế đặc thù cho 1 hoặc 1 số ít đối tượng cụ thể, những khách hàng có mức độ ảnh hưởng cao đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Năm là, xây dựng quy trình chuẩn và đồng nhất. Đặc thù của dịch vụ bán lẻ là có số lượng lớn đối tượng khách hàng có cùng 1 đặc điểm. Để nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ và phục vụ công tác quản trị, việc xây dựng quy trình dịch vụ bán cần hướng đến mục tiêu ngắn gọn, minh bạch, đơn giản.

Sáu là, tăng cường đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng dịch vụ. Để cung cấp đến khách hàng các dịch vụ NHBL tốt nhất, công tác đào tạo nhân viên ngân hàng cần chú trọng đến: Sản phẩm dịch vụ và quy trình nghiệp vụ; Kỷ luật nghiệp vụ và năng lực quản lý công việc; Các kỹ năng mềm trong công việc; Kỹ năng chăm sóc khách hàng, phân tích, tư vấn và xây dựng chiến lược dịch vụ.

Bảy là, xây dựng hệ sinh thái đa tương tác. Với xu thế phát triển của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào cuộc sống, trào lưu sử dụng điện thoại thông minh, sự phát triển của hoạt động kinh doanh trực tuyến, kết hợp với việc có một số lượng khách hàng lớn, NHBL cần hướng đến mục tiêu xây dựng một hệ sinh thái đa tương tác để gia tăng chất lượng dịch vụ và sự lựa chọn cho khách hàng, cũng như phát triển hoạt động kinh doanh và bán chéo sản phẩm. Các mục tiêu cần hướng đến bao gồm: Xây dựng các tiện ích và ứng dụng sử dụng dịch vụ của ngân hàng và các đối tác liên kết, đặc biệt trong việc thanh toán các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ thiết yếu trong cuộc sống như điện, nước, viễn thông… Liên kết với các đối tác cung cấp dịch vụ công nghệ như grab, now.vn… để cung cấp tiện ích cho khách hàng, bán chéo sản phẩm và phát triển khách hàng mới…

Tám là, không ngừng đổi mới sáng tạo. Đổi mới là yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng trong hoạt động cung cấp dịch vụ NHBL. Ngân hàng cần xây dựng chính sách khuyến khích và hệ thống nghiên cứu và phát triển sản phẩm dịch vụ mới, phát minh mới, cải tiến nâng cao chất lượng và hiệu quả để không ngừng mang đến những trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Tài liệu tham khảo:

1. Phan Thị Thu Hà (2013), Ngân hàng thương mại, NXB Đại học Kinh tế quốc dân;

2. Tô Khánh Toàn (2014), Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Học viện Hành chính Quốc gia;

3. Nguyễn Thị Hiền, Đỗ Thị Bích Hồng (2017), Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tới lĩnh vực tài chính – ngân hàng, Tạp chí Tài chính;

5. https://babuki.vn/quy-mo-thi-truong-ban-le-sap-cham-nguong-179-ty-usd/.

Nguồn: Tạp chí tài chính

2021-10-28 / by / in
Nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bối cảnh hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đang đặt ra không ít những khó khăn thách thức đối với hệ thống ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại. Bởi theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của ngân hàng thương mại phải từ 9% trở lên, nếu tỷ lệ này không đảm bảo, ngân hàng thương mại sẽ không đủ khả năng mở rộng hoạt động, thậm chí còn đứng trước nguy cơ phá sản. Do vậy, nâng cao năng lực tài chính sẽ giúp ngân hàng thương mại thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa rủi ro, đảm bảo an toàn vốn trong hoạt động, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra đối với ngân hàng thương mại.

Những bất cập sau 10 năm gia nhập “sân chơi” WTO

Khảo sát cho thấy, sau một thập kỷ tham gia vào “sân chơi” Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) (2007-2017), nền kinh tế Việt Nam giờ đây đã có những chuyển biến đáng kể về cơ cấu nền kinh tế, quản lý xã hội và tốc độ tăng trưởng sản xuất – kinh doanh.

Sự tiến bộ này biểu hiện cụ thể qua định hướng xây dựng kinh tế thị trường, sự gia tăng tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đặc biệt là cơ chế quản lý doanh nghiệp đã được cải thiện đáng kể… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) vẫn còn biểu hiện khá nhiều bất cập, cụ thể:

Thứ nhất, Việt Nam vẫn là nền kinh tế kém phát triển, năng suất lao động thấp. Năng suất lao động của người Việt Nam hiện nay chỉ bằng 1/5 của Thái Lan, bằng 1/15 của Singapore… và kém xa so với các nước Tây Âu. Năng suất lao động thấp, làm hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.

Thứ hai, tốc độ cổ phần hóa DNNN còn chậm và không triệt để. Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống các DN này còn quá nhiều bất cập, đó là: năng lực tài chính kém, tổ chức quản lý chưa kịp đà phát triển của kinh tế thị trường, tình trạng lãng phí tài nguyên, nhân lực và thất thoát tài chính còn khá phổ biến.

Thứ ba, số lượng NHTM Việt Nam còn lớn. Bên cạnh việc hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, hệ thống NHTM cũng biểu hiện nhiều cấp cập như: (1) Năng lực tài chính kém; (2) Chất lượng nhân lực không cao; (3) Phân bố không hợp lý; (4) Năng lực cạnh tranh yếu và không lành mạnh… Đây là những điểm yếu khi Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Thứ tư, vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam hiện nay giao động quanh ngưỡng từ 3.000 – 49.209 tỷ đồng. Con số này cho thấy, NHTM Việt Nam chỉ như một doanh nghiệp nhỏ trong “làng NHTM” của thế giới.

Thứ năm, nợ xấu hệ thống NHTM Việt Nam lớn, vượt tầm kiểm soát gây bất ổn đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Những vấn đề cần tập trung thực hiện

Nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại trên, hệ thống ngân hàng, nhất là các NHTM, ngoài việc nâng cao năng lực tài chính, thời gian tới cần tập trung vào một số vấn đề trọng tâm sau:

Một là, tăng vốn chủ sở hữu – yếu tố quyết định năng lực tài chính để mở rộng kinh doanh: Việc tiếp tục tăng vốn chủ sở hữu của các NHTM trong nước là vô cùng cần thiết nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là giúp NHTM có điều kiện thu hút thêm vốn, phát triển nhân lực, đầu tư công nghệ hiện đại, mở rộng mạng lưới, tăng cường cơ sở vật chất, tiếp thu kinh nghiệm quản trị điều hành theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế.

Theo đó, các NHTM sẽ phải chủ động thực hiện quy mô tăng vốn trong thời gian tới như: Tăng vốn chủ sở hữu nhằm ứng phó với rủi ro, đáp ứng yêu cầu về vốn theo khung an toàn Camel, nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; Đảm bảo đúng nguyên tắc tín dụng, thu hồi vốn cho vay đúng hạn; Kiểm tra nghiêm ngặt các dự án đầu tư, đảm bảo nguyên tắc có lợi nhuận mới đầu tư…

Đồng thời, đẩy mạnh việc triển khai các phương án kinh doanh và nâng cao năng lực tài chính. Bởi vì, mục tiêu kinh doanh của NHTM là hướng đến ổn định, tích cực, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh; nâng cao khả năng cạnh tranh, giữ vững vai trò chủ lực trên thị trường tiền tệ; cung ứng sản phẩm dịch vụ chất lượng cao, hoạt động kinh doanh tăng trưởng, an toàn, hiệu quả, bền vững.

Các NHTM cần sớm triển khai hoạt động kinh doanh theo hướng lấy hiệu quả làm mục tiêu trọng tâm, phấn đấu tăng tỷ lệ thu lãi nội bảng, thu nợ đã xử lý rủi ro, giảm chi phí trích dự phòng rủi ro và các chi phí khác; Nâng cao khả năng tài chính và tăng lợi nhuận cho NHTM, đảm bảo ổn định và cải thiện thu nhập, đời sống cho người lao động.

Hai là, nâng cao chất lượng tín dụng: Để nâng cao chất lượng tín dụng, các NHTM cần xây dựng riêng cho mình một hệ thống quản lý rủi ro tín dụng chặt chẽ hơn, cụ thể: Xác lập mục tiêu tín dụng, trong đó mức độ rủi ro từ hoạt động tín dụng phải đo lường được; đồng thời, chất lượng của dự nợ tín dụng không chỉ được quan tâm ở tài sản có nội bảng, mà còn được chú ý ở các khoản mục tài sản ngoại bảng; Xây dựng, cập nhật chiến lược và chính sách quản lý rủi ro tín dụng, phù hợp với các quy định mới pháp luật Việt Nam và với các chuẩn mực quản trị rủi ro quốc tế.

Ba là, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng: Triển khai giải pháp này, thời gian tới các ngân hàng cần luôn “làm mới” mình để đáp ứng nhu cầu hội nhập thông qua việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ. Bên cạnh việc duy trì các sản phẩm dịch vụ truyền thống, cần đẩy mạnh khai thác phát triển những sản phẩm mới như: Sản phẩm phái sinh, thu hút nguồn kiều hối trên cơ sở phối hợp với các công ty xuất khẩu lao động, các công ty dịch vụ kiều hối, các ngân hàng đại lý nước ngoài…

Cùng với đó, các ngân hàng cũng có chính sách khai thác và tạo điều kiện thuận lợi phát triển dịch vụ chuyển tiền kiều hối qua hệ thống ngân hàng; triển khai dịch vụ quản lý tài sản, ủy thác đầu tư, cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng… Đặc biệt là phát triển và mở rộng các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần hạn chế giao dịch tiền mặt bất hợp pháp, nâng cao tính thanh khoản của tiền đồng và hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.

Đồng thời, đẩy mạnh các dịch vụ tài khoản tiền gửi với thủ tục đơn giản, an toàn nhằm thu hút nguồn vốn của cá nhân trong thanh toán và phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, séc thanh toán, tiết kiệm…

Bốn là, nâng cao năng lực phát triển nguồn nhân lực ngân hàng: Muốn tăng cường năng lực cạnh tranh trong hội nhập, nhân sự của các NHTM không những phải đạt yêu cầu về số lượng mà còn phải đảm bảo về cả chất lượng, không chỉ ở nhân viên tác nghiệp mà ngay cả đối với nhân sự quản lý.

Tuy nhiên, để có được một lực lượng nhân sự đảm bảo cả về chất và lượng, các NHTM cần xây dựng một chiến lược phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển của đơn vị. Theo đó, cơ cấu, sắp xếp, bố trí cán bộ có năng lực, trình độ, kinh nghiệm thực tế phù hợp với yêu cầu hoạt động kinh doanh trước mắt cũng như lâu dài.

Đồng thời, tăng cường tuyển dụng mới những lao động trẻ, năng động để góp phần trẻ hoá đội ngũ lao động; Nghiên cứu áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong quản lý sử dụng nhân lực có hiệu quả, đánh giá nhân viên gắn liền với tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp, lấy hiệu quả công việc làm thước đo chủ yếu, coi trọng sử dụng nhân tài và khuyến khích tài năng nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong từng giai đoạn phát triển.

Cùng với đó, tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực quản lý điều hành, kiến thức ngoại ngữ, khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại… từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách đồng đều và vững chắc theo hướng vừa chuyên sâu vừa tổng hợp, có khả năng cạnh tranh cao, luôn hướng tới khách hàng.

Ngoài ra, nghiên cứu, cải thiện đổi mới chính sách duy trì nguồn nhân lực như về chế độ tiền lương, chế độ phúc lợi, cơ hội thăng tiến… nhằm động viên nhân viên tận tâm, nhiệt thành với công việc, nâng cao năng suất làm việc.

Năm là, bảo toàn và nâng cao thương hiệu: NHTM cần có kế hoạch và lộ trình để bồi dưỡng, cập nhật các chính sách mới, đồng thời, quan tâm đào tạo các kỹ năng mềm cho cán bộ tác nghiệp, để đón trước thời cơ mở rộng giao dịch với khách.

Kỹ năng chuyên nghiệp cho đội ngũ giao dịch viên và chuyên viên quan hệ khách hàng tại NHTM cũng rất quan trọng, do vậy, các NHTM cần coi trọng việc đa dạng hóa phương thức đào tạo, quan tâm thích đáng đến hình thức đào tạo trực tuyến, đào tạo từ xa nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học về kiến thức, về không gian, thời gian.

Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại không những hỗ trợ cho công tác quản trị, điều hành và kinh doanh của ngân hàng mà còn đem lại lợi ích cho khách hàng.

Công nghệ hiện đại đã tạo ra một bước đột phá mới trong khai thác sản phẩm, dịch vụ cả về số lượng và chất lượng, mang lại sự tiện dụng cho khách hàng, đồng thời tăng lợi nhuận và khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác, qua đó khẳng định được đẳng cấp, tên tuổi, hình ảnh của ngân hàng. Dưới góc độ quản lý, nhờ có công nghệ thông tin mà việc quản lý nội bộ trong ngân hàng chặt chẽ hơn và công tác quản lý điều hành của Ban giám đốc sẽ tốt hơn.

Sản phẩm dịch vụ phong phú đa dạng dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Các sản phẩm đã triển khai đều được người tiêu dùng đánh giá có giá trị cạnh tranh: sản phẩm thẻ, chuyển tiền trong nước dựa vào lợi thế cạnh tranh riêng có về mạng lưới và máy rút tiền ATM rộng khắp toàn quốc.

Quy trình thực hiện giao dịch thống nhất cũng đã phần nào đơn giản hoá các giấy tờ, thủ tục gây phiền hà cho khách hàng. Việc thực hiện theo đúng quy trình khiến cho các hoạt động diễn ra nhanh chóng, chính xác và chuẩn hóa tối đa; Các sai sót dễ được phát hiện và kịp thời khắc phục.

Chất lượng phục vụ của NHTM cần được nâng cao tạo điều kiện để người tiêu dùng ngày càng có nhiều cơ hội lựa chọn các dịch vụ phù hợp. Tuy nhiên, khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng hiện đại thường có xu thế ít trung thành hơn so với những khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng truyền thống, do vậy, NHTM phải nghiêm túc đổi mới sản phẩm để thu hút khách hàng và nâng cao chất lượng đội ngũ giao dịch viên như là một yếu tố tất yếu để giữ chân khách hàng, bảo đảm sự phát triển ổn định và bền vững.

Sáu là, phát triển các dịch vụ ngân hàng số, ứng dụng công nghệ hiện đại: Trong bối cảnh hội nhập, việc áp dụng ngân hàng số, là bước đi bắt buộc trong tương lai gần đối với các NHTM. Tuy nhiên, để tiến tới trở thành Digitan Banking, các NHTM cần mở rộng các dịch vụ Internet Banking, Mobile Banking (E.Banking)… để nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ ngân hàng và quan trọng hơn là mở rộng được thị trường – khách hàng, giảm thiểu chi phí và gia tăng lợi nhuận.

Thực tế cho thấy, Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với kỹ thuật số điều khiển các hoạt động sản xuất – kinh doanh, trong đó có hoạt động của các NHTM đã trở thành hiện thực ở nhiều quốc gia; Mở ra triển vọng tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh của nhiều NHTM ở các quốc gia có nền công nghiệp phát triển.

Do đó, nếu các NHTM Việt Nam ứng dụng được kỹ thuật ngân hàng số (Digital Banking), thì sẽ trở thành là ngân hàng hoàn hảo trong giai đoạn Cách mạng công nghiệp 4.0 với nhiều tính năng dịch vụ như: Chuyển tiền trong và ngoài hệ thống ngân hàng; Thanh toán các loại hóa đơn của khách hàng; Xử lý các dịch vụ tín dụng; Giải quyết nhu cầu gửi tiền của dân cư và các tổ chức kinh tế – xã hội; Thực hiện các dịch vụ quản lý do các tổ chức và thể nhân ủy quyền…

Tài liệu tham khảo

1. TS. Nguyễn Trọng Tài, Cạnh tranh của các NHTM – Nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn;

2. Tạp chí Kế toán, Chiến lược cho các NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế;

3. Viện nghiên cứu Khoa học ngân hàng, Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập;

4. TS. Võ Trí Thành, TS. Lê Xuân Sang, Tái cấu trúc hệ thống tài chính Việt Nam: vấn đề và định hướng những giải pháp cơ bản;

5. Các website: sbv.gov.vn, mof.gov.vn, sav.gov.vn, tapchitaichinh.vn…

Nguồn: Tạp chí tài chính

2021-10-28 / by / in
Hệ thống ngân hàng thương mại: Tiếp tục hỗ trợ, chia sẻ khó khăn với người dân, doanh nghiệp

Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về các giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch bệnh, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn tỉnh tiếp tục chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đồng hành chia sẻ khó khăn với khách hàng.

 

Đồng hành cùng khách hàng

Dịch bệnh lan rộng đã ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh đó, hệ thống NHTM tại Bình Dương đã có nhiều hành động, giải pháp thiết thực để chia sẻ khó khăn với người dân và doanh nghiệp (DN). Các NHTM tiếp tục xem xét, đơn giản hóa quy trình, thủ tục giải quyết hồ sơ đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ, vay vốn, miễn giảm lãi vay, giãn nợ, giảm, miễn phí… cho khách hàng.

Điển hình như NHTM Cổ phần Việt Nam Thịnh vượng (VPbank) có chính sách dành cho các DN xuất khẩu nông thủy sản với việc giảm lãi suất cho vay 1,5%/năm đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm và 1% năm đối với các khoản vay có tài sản bảo đảm. Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) cũng triển khai gói giải pháp “Đồng hành cùng DN mùa dịch Covid-19”. Giải pháp này hướng đến 3 mục tiêu chính là hỗ trợ DN về mặt tài chính với ưu đãi giảm lãi suất cho vay tới 1%/năm và miễn giảm tới 20 loại phí giao dịch. Từ đầu quý II-2021, Vietinbank đã giảm lãi suất cho vay tối đa 1%/năm đối với các khoản dư nợ hiện hữu và giải ngân mới của khách hàng.

Từ khi dịch bệnh diễn ra đến nay, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đều vào cuộc mạnh mẽ, hỗ trợ hiệu quả cho khách hàng bị ảnh hưởng. Tính đến cuối tháng 6-2021, có 69 tổ chức tín dụng thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho 1.085 khách hàng với giá trị dư nợ 6.011 tỷ đồng; miễn giảm lãi cho 4.865 khách hàng, giá trị dư nợ 7.389 tỷ đồng.

(Ông Võ Đình Phong, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – chi nhánh Bình Dương)

Đồng hành cùng khách hàng

Dịch bệnh lan rộng đã ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh đó, hệ thống NHTM tại Bình Dương đã có nhiều hành động, giải pháp thiết thực để chia sẻ khó khăn với người dân và doanh nghiệp (DN). Các NHTM tiếp tục xem xét, đơn giản hóa quy trình, thủ tục giải quyết hồ sơ đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ, vay vốn, miễn giảm lãi vay, giãn nợ, giảm, miễn phí… cho khách hàng.

Điển hình như NHTM Cổ phần Việt Nam Thịnh vượng (VPbank) có chính sách dành cho các DN xuất khẩu nông thủy sản với việc giảm lãi suất cho vay 1,5%/năm đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm và 1% năm đối với các khoản vay có tài sản bảo đảm. Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) cũng triển khai gói giải pháp “Đồng hành cùng DN mùa dịch Covid-19”. Giải pháp này hướng đến 3 mục tiêu chính là hỗ trợ DN về mặt tài chính với ưu đãi giảm lãi suất cho vay tới 1%/năm và miễn giảm tới 20 loại phí giao dịch. Từ đầu quý II-2021, Vietinbank đã giảm lãi suất cho vay tối đa 1%/năm đối với các khoản dư nợ hiện hữu và giải ngân mới của khách hàng.

Từ khi dịch bệnh diễn ra đến nay, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đều vào cuộc mạnh mẽ, hỗ trợ hiệu quả cho khách hàng bị ảnh hưởng. Tính đến cuối tháng 6-2021, có 69 tổ chức tín dụng thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho 1.085 khách hàng với giá trị dư nợ 6.011 tỷ đồng; miễn giảm lãi cho 4.865 khách hàng, giá trị dư nợ 7.389 tỷ đồng.

(Ông Võ Đình Phong, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – chi nhánh Bình Dương)

Tương tự, ông Nguyễn Thái Minh Quang, Giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) – chi nhánh Bình Dương cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2021 Vietcombank Bình Dương đã triển khai 2 đợt hỗ trợ giảm lãi suất trên diện rộng đối với khách hàng DN và dân cư bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, với tổng dư nợ ưu đãi lãi suất là 10.962 tỷ đồng, tổng số tiền lãi ưu đãi áp dụng 103 tỷ đồng… Tính chung, từ năm 2020 đến nay, Vietcombank đã liên tục triển khai 7 đợt giảm lãi suất để hỗ trợ DN, người dân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 và thiên tai. Hiện Vietcombank đang áp dụng chính sách giảm lãi suất tiền vay giai đoạn 3 năm 2021 đối với tất cả khách hàng trong thời gian từ ngày 15-7 đến hết 31-12-2021. Ngoài các đợt giảm lãi suất, Vietcombank cũng đã thực hiện giảm phí, cơ cấu nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng. Đồng thời, Vietcombank đã cam kết và tài trợ gần 200 tỷ đồng để hỗ trợ các địa phương và ngành y tế trong công tác phòng, chống dịch bệnh.

Ngoài ra, từ đầu mùa dịch bệnh đến nay hệ thống các NHTM trên địa bàn tỉnh luôn đồng hành, hỗ trợ cho công tác phòng, chống dịch bệnh của địa phương như tặng xe cấp cứu, trang thiết bị y tế, nhu yếu phẩm, kinh phí… chung tay cùng tỉnh thực hiện “mục tiêu kép” vừa kiểm soát dịch bệnh vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Chấp nhận giảm lợi nhuận

Theo ông Võ Đình Phong, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – chi nhánh Bình Dương, từ khi dịch bệnh diễn ra đến nay, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đều vào cuộc mạnh mẽ, hỗ trợ hiệu quả cho khách hàng bị ảnh hưởng. Tính đến cuối tháng 6-2021, có 69 tổ chức tín dụng thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho 1.085 khách hàng với giá trị dư nợ 6.011 tỷ đồng; miễn giảm lãi cho 4.865 khách hàng, giá trị dư nợ 7.389 tỷ đồng. Cho vay mới để hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn lũy kế từ ngày 23-1-2021 đến cuối tháng 6-2021 là 147.750 tỷ đồng với số khách hàng còn dư nợ tại cuối kỳ báo cáo là 11.930.

Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo các NHTM cho biết tại thời điểm cuối năm 2020 kế hoạch kinh doanh đều dự kiến sẽ tăng trưởng cao. Tuy nhiên, dịch bệnh bùng phát khiến các ngân hàng phải thay đổi các kế hoạch hoạt động, nhất là phương án tăng trưởng an toàn, lợi nhuận khiêm tốn hơn trong năm 2021. Ông Nguyễn Thái Minh Quang cho biết tính đến ngày 30-6, huy động vốn của ngân hàng tăng 3,2% so với đầu năm, dư nợ cho vay tăng 3,1%. Trong 6 tháng đầu năm, Vietcombank Bình Dương đã ưu đãi lãi suất cho vay đối với khách hàng khoảng 100 tỷ đồng, chủ động giảm lãi suất để tiếp tục hỗ trợ đồng hành cùng DN, dân cư bị ảnh hưởng. Vì vậy, lợi nhuận của Vietcombank ước tính giảm khoảng 10% so với kế hoạch năm 2021.

Tương tự, ông Trần Ngọc Linh, cho biết BIDV chi nhánh Bình Dương đồng loạt triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ DN, vì vậy trong 6 tháng đầu năm hệ thống BIDV đã triển khai các gói tín dụng lãi suất ưu đãi với quy mô lên đến 368.000 tỷ đồng và đã chủ động giảm lợi nhuận để hỗ trợ khách hàng.

THANH HỒNG

Nguồn: baobinhduong

2021-10-28 / by / in
Gian hàng đổi rác lấy rau củ ở Hà Nội

Vào những ngày cao điểm, chương trình thu về tới 250 kg giấy bìa, chai lọ nhựa và cả đồ gia dụng cũ.

doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 1

Đều đặn mỗi sáng suốt một tháng qua, các gian hàng thuộc chương trình “Đổi phế liệu lấy thực phẩm sạch” mở cửa lúc 5h30 tại 2 địa điểm chính ở phố Văn Miếu và phố Quốc Tử Giám (Hà Nội). Người dân có thể mang bìa giấy, chai nhựa, đồ gia dụng cũ để đổi lấy rau củ.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 2

Vào buổi sáng, Ngọc Anh (nhân viên bán hàng) nhận sản phẩm từ nhà cung cấp, phân loại và bày biện rau củ vào từng rổ.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 3

Cô cho biết mọi sản phẩm đều là nông sản hữu cơ, có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo tươi sạch và đạt tiêu chuẩn của VietGap. Bên cạnh rau củ, gian hàng còn cung cấp một số loại hải sản và thực phẩm khô.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 4
Đây là lần thứ 4 anh Nguyễn Văn Quỳnh (Hoàn Kiếm) đem bìa carton tới đổi thực phẩm. “Trước đó, trên đường đi làm qua phố Văn Miếu, tôi thấy một số người mang phế liệu đến rồi xách rau về. Do tò mò, tôi vào hỏi và mới biết đến chương trình”, anh nói.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 5

Sau khi nhận phế liệu từ khách hàng, nhân viên sẽ cân và quy đổi thành tiền tương ứng. Mỗi 1 kg phế liệu tương đương 3.000-4.000 đồng. Số tiền này được dùng để mua các sản phẩm có tại gian hàng.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 6

Tranh thủ trống tiết, Trang Nhung (21 tuổi) mang một số bìa carton, giấy tờ cũ đến cơ sở Quốc Tử Giám. “Thành quả” đem về của cô là 2 lạng đỗ xanh và 2 quả cà chua. “Tôi thấy hoạt động này vừa giúp ích cho túi tiền của sinh viên, vừa góp phần bảo vệ môi trường. Hy vọng mô hình này sớm được nhân rộng”, cô nói.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 7

Ngoài quy đổi phế liệu, khách hàng có thể mua sản phẩm tại cửa hàng bằng tiền mặt.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 8
Văn Duy, quản lý cơ sở Quốc Tử Giám, cho biết lượng người biết đến chương trình có xu hướng tăng. “Ban đầu, chỉ những người dân sống trong khu vực biết về gian hàng. Dần dần, chúng tôi được đón tiếp nhiều khách sinh sống tại các quận khác nữa”, anh nói.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 9

Vào những ngày cao điểm, gian hàng thu nhận tới 250 kg phế liệu. Thông qua hoạt động tái chế thiết thực, chương trình mong muốn nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân.

 

Nguồn: Tuấn Anh, Hồng Chang – zingnews.vn

2021-10-28 / by / in
Cách ngân hàng thương mại thu hút và giữ chân khách hàng

Nếu trước kia, khách gửi tiết kiệm quan tâm nhất là lãi suất thì giờ đây, các ngân hàng thương mại còn có nhiều cách khác để thu hút nguồn tiền từ người dân.

Trong thời đại omni-channel, những dịch vụ thẻ thanh toán, vay tín dụng, gửi tiết kiệm… được chào bán từ chi nhánh, phòng giao dịch tới hòm thư điện tử, website tin tức và Facebook Newsfeed của từng cá nhân. Nguồn cung đa dạng, lợi ích hấp dẫn khiến các khách hàng ngày càng trở nên thiếu trung thành với ngân hàng. Hoạt động truyền thông và quảng bá thương hiệu cho các ngân hàng thương mại cũng đang vấp phải sự cạnh tranh gay gắt từ nội bộ ngành, từ ngân hàng nước ngoài và từ các ứng dụng tài chính trên mobile.

Trên Social Media, chỉ riêng Quý 2 năm 2017 đã có gần 890,000 lượt thảo luận về ngân hàng thương mại. Trong nội dung thảo luận của khách hàng, những thương hiệu ngân hàng thường được “đặt lên bàn cân” để so sánhvề chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

Hơn 5,000 người dùng tỏ thái độ không hài lòng với trải nghiệm tại ngân hàng. Hơn 250 khách hàng lâu năm sẵn sàng tuyên bố từ bỏ ngân hàng mình đang sử dụng sang thương hiệu mới hoặc thay thế app ngân hàng bằng ví điện tử, để nhận được nhiều ưu đãi và dịch vụ tốt hơn. Các khách hàng ngành tài chính – ngân hàng đang tỏ ra thiếu kiên nhẫn và thiếu trung thành với những ngân hàng “chậm thay đổi”.

Các nghiên cứu cho thấy rằng dù ở bất cứ ngành nghề nào, chỉ cần số lượng khách hàng trung thành tăng lên 5% cũng làm tăng lợi nhuận từ 25% đến 95% ( theo Havard Business Review). Như vậy làm sao để khách hàng hiện tại yêu thích và gắn bó chính là chìa khóa giúp nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng. Để làm được điều đó, các thương hiệu ngân hàng thương mại tại Việt Nam cần nhiều nỗ lực để tối ưu hóa trải nghiệm của khách hàng trên cả hai lĩnh vực: trải nghiệm offline tại chi nhánh, phòng giao dịch và trải nghiệm online tại website, fanpage, mobile app.

*Thông tin trong bài viết được trích từ Báo cáo nghiên cứu phản hồi của người dùng về các thương hiệu ngân hàng thương mại trên Social media Q2 năm 2017 và trình bày trong hội thảo “Discover Unseen Insights & Best Case Studies in Banking & Finance” do YouNet Media và VISA đồng tổ chức. 

Nắm bắt những yếu tố khiến khách hàng yêu thích, gắn bó với ngân hàng

Tuy hiện nay một người tiêu dùng đều sở hữu tài khoản tại nhiều ngân hàng khác nhau nhưng đa số chỉ lựa chọn từ một đến hai ngân hàng cho các giao dịch thường xuyên nhất như thanh toán nội địa, quẹt thẻ online, gửi tiền tiết kiệm. Chính vì thế, việc nắm bắt những yếu tố cân nhắc lựa chọn ngân hàng là hết sức quan trọng, giúp cho thông điệp truyền thông của ngân hàng hấp dẫn hơn.

Số liệu năm 2017 cho thấy ít hoặc miễn phí giao dịch là lợi thế hàng đầu khi khách hàng muốn mở thẻ hoặc chọn sử dụng dịch vụ của một ngân hàng mới (815 thảo luận). Điều đó có thể lý giải được trong thời đại thương mại điện tử và online banking phát triển làm cho khách hàng giao dịch thường xuyên hơn, khiến cho chênh lệch mức phí của các ngân hàng trở nên rõ ràng.

Bên cạnh mức phí, thương hiệu ngân hàng uy tín và thông dụng (181 thảo luận) vẫn là điều kiện quan trọng khi khách hàng muốn làm việc với một ngân hàng. Duy trì một hình ảnh thương hiệu “sạch” và tăng cường hoạt động truyền thông giúp ngân hàng trở nên “phổ biến” trong mắt người dùng, gia tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng.

Ngoài ra, một trong những điều quan trọng đối với người sử dụng dịch vụ ngân hàng là hệ thống ATM hiện đại (19 thảo luận). Nhiều người dùng bày tỏ ý kiến tích cực với những ngân hàng có nhiều cây ATM tại địa phương, hoạt động ổn định, ít lỗi và đặc biệt là “nhả tiền” thông minh nhiều mệnh giá, rút tiền tại ATM không cần thẻ.

Tuy các chương trình khuyến mãi và ưu đãi chiếm 80% nội dung quảng bá trên website, fanpage của ngân hàng nhưng rất ít khách hàng có nhu cầu lựa chọn, gắn bó chỉ vì ngân hàng có nhiều khuyến mãi.

Khắc phục những “hố đen” cảm xúc của khách hàng ngành ngân hàng

Phần lớn nguyên nhân khách hàng quyết định rời bỏ ngân hàng là do những trải nghiệm xấu với dịch vụ chăm sóc khách hàng, đặc biệt là từ các nhân viên tại quầy giao dịch (191 thảo luận). Trong thời đại cạnh tranh gay gắt, nhiều ngân hàng lớn, đặc biệt là ngân hàng nhà nước đã “mất điểm” nghiêm trọng vì thái độ nhân viên lạnh lùng, cau có, thậm chí phân biệt đối xử với khách hàng. Một số người dùng sẵn sàng chia sẻ trải nghiệm xấu của mình trên Social Media, thậm chí kêu gọi tẩy chay ngân hàng có nhân viên thiếu tôn trọng khách hàng.

Khi bàn tới trải nghiệm khách hàng, online banking và mobile banking là vấn đề đáng lưu ý. Hiện nay, người sử dụng dịch vụ ngân hàng đặt sự tiện lợi được đặt lên hàng đầu, hơn cả việc bảo mật tài khoản (34 thảo luận). Nhiều topic trên mạng xã hội chia sẻ nguyên nhân rời bỏ ngân hàng do tài khoản online quá khó nhớ, hoặc app ngân hàng không tiện dụng, chuyển khoản khó khăn, nhiều lỗi.

Với sự cạnh tranh của các app tài chính, ví điện tử như Momo, Timo, VTC Pay,… các khách hàng ngày nay đã quen dần với việc chuyển khoản “miễn phí”, tốn ít phí hoặc cashback (hoàn tiền chiết khấu). Những ngân hàng thu phí dịch vụ cao đang ít nhiều vấp phải sự phản đối, nhiều khách hàng sẵn sàng rời bỏ tài khoản lâu năm của mình vì ngán ngẩm với các khoản phí 3 ngàn đồng, 11 ngàn đồng…mỗi lần giao dịch, trong khi một số ngân hàng, ứng dụng ngoài thị trường vẫn cho phép miễn phí giao dịch.

Với sự phát triển của Social Media, thông tin tiêu cực, khủng hoảng ngành ngân hàng là hầu như không thể tránh khỏi. Từ những phàn nàn về dịch vụ, sai phạm của nhân viên, lỗi bảo mật gây mất tiền đến thông tin về sự thay đổi của hội đồng quản trị… đều gây ra tâm lý hoang mang cho người dùng hiện tại. Nếu các ngân hàng không kịp thời điều chỉnh thông tin và có phương án giải quyết triệt để tiêu cực thì khách hàng tiết kiệm và khách hàng doanh nghiệp là những người đầu tiên rời bỏ thương hiệu.

Tối ưu trải nghiệm đa kênh ngành ngân hàng

Thông qua việc lắng nghe phản hồi tích cực của khách hàng về các ngân hàng thương mại, YouNet Media nhận ra các khách hàng thời nay đang xây dựng hình mẫu ngân hàng lý tưởng trong tâm trí của mình. Đa số cho rằng ngân hàng hiện đại cần chuyên nghiệp, thân thiện, áp dụng nhiều công nghệ tân tiến và quan tâm nhiều hơn tới sự tiện lợi khi giao dịch.

Trải nghiệm lý tưởng tại phòng giao dịch, chi nhánh ngân hàng (Offline experiences)

Sự “cảm tình” luôn là lý do quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định gắn bó với thương hiệu. Để tạo ra những trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng, các thương hiệu nên tập trung cải thiện thái độ phục vụ thân thiện và niềm nở. Các khách hàng đánh giá cao những nhân viên luôn giúp đỡ và tư vấn tận tình khi họ có khó khăn, thắc mắc. Yếu tố ngoại hình của nhân viên ngân hàng cũng là điểm nhấn để tạo ấn tượng về sự chuyên nghiệp, cao cấp.

Một trong những yếu tố quan trọng trong trải nghiệm tại chi nhánh đó là công việc của khách hàng cần được giải quyết nhanh gọn, đơn giản, không để khách hàng chờ quá lâu. Song song với việc đơn giản hóa thủ tục, việc xây dựng kênh chăm sóc khách hàng online hiệu quả sẽ làm giảm tải cho các trung tâm khách hàng. Nhiều người nổi tiếng, doanh nhân cũng thổ lộ trên mạng xã hội, họ cần được tôn trọng bằng không gian riêng tư (VIP area) và có quyền ưu tiên khi trực tiếp đến giao dịch tại ngân hàng.

Một trong những yếu tố gây bất ngờ khi nghiên cứu về trải nghiệm tại chi nhánh, đó là thái độ của nhân viên bảo vệ, người lấy số phiếu xếp hàng cũng được khách hàng thường xuyên phản ánh. Một số ngân hàng mất điểm vì phân biệt ưu tiên khi lấy số, hoặc nhân viên giữ cửa không hỗ trợ tốt việc lấy số phiếu khiến họ chán nản bỏ về vì không chờ được để phục vụ.

Trải nghiệm lý tưởng tại website, mobile app của ngân hàng (Online experiences)

Các khách hàng hiện nay đang tìm kiếm sự tiện lợi khi sử dụng mobile banking của ngân hàng. Trong quý 2 năm 2017 có 392 nhận xét người dùng về giao diện app/website ngân hàng xấu và lỗi thời. 290 thảo luận về các app ngân hàng hỗ trợ và không hỗ trợ bảo mật vân tay. 139 người dùng thừa nhận đang sử dụng ví điện tử thay vì app ngân hàng vì sự tiện lợi khi chuyển khoản, đa chức năng khi thanh toán.

Để khách hàng giao dịch online thường xuyên, các ngân hàng cần chắc chắn rằng giao diện website, mobile của mình đẹp, tiện dụng và đa chức năng hơn. Trong năm 2017, người dùng ngân hàng đã bắt đầu có thói quen thanh toán tiền điện nước, đặt mua vé xem phim, vé máy bay… qua ứng dụng ngân hàng, app tài chính. Tuy mới được một số ngân hàng cập nhật gần đây nhưng tính năng bảo mật vân tay rất được hưởng ứng do tâm lý ngại gõ mật khẩu của người dùng Việt.

Đối với các giao dịch online, các ngân hàng cần làm rõ hơn các khoản chi phí đang thu của người dùng. Đặc biệt những chương trình khuyến mãi “miễn phí chuyển khoản”, “miễn phí quản lý tài khoản” đang có sức hút rất lớn bởi vì các ví điện tử hiện nay đều đưa ra thông điệp phí rất nhỏ hoặc không mất phí.

Khi lắng nghe các đề tài mobile banking, online banking, YouNet Media nhận thấy có rất nhiều thắc mắc của người dùng như “chuyển khoản liên ngân hàng như thế nào”, “cách thanh toán hóa đơn”. Các chương trình online chat, chat bot và hướng dẫn chi tiết cho người sử dụng sẽ là điểm cộng không nhỏ để giữ khách hàng tiếp tục sử dụng dịch vụ của ngân hàng.

Tạm kết

Những thông tin mạng xã hội và tiếp cận công nghệ đã làm thay đổi quan niệm của người dùng. Họ yêu thích những thương hiệu ngân hàng hiện đại, luôn cải tiến công nghệ để đem lại sự tiện lợi cao nhất và mức phí thấp nhất. Hệ thống chăm sóc khách hàng của ngành ngân hàng tại phòng giao dịch, chi nhánh hay kênh online cũng cần được tối ưu để hạn chế lượng khách hàng rời bỏ.

Không dừng lại ở đó, các ngân hàng thương mại cần thường xuyên lắng nghe ý kiến, thảo luận của khách hàng trên các kênh online để bắt kịp xu hướng của người dùng, cải thiện dịch vụ và ngăn ngừa những tiêu cực không đáng có xung quanh thương hiệu.

Nguồn: Younetmedia.com

2021-10-27 / by / in
Hoạt động của ngân hàng thương mại

Hoạt động của ngân hàng thương mại

 

Hoạt động của ngân hàng thương mại là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây:

a. Nhận tiền gửi: Là hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.

– Tiền gửi không kỳ hạn: (Tiền gửi thanh toán)
Ngân hàng thương mại từ khi mở cửa hoạt động thì không ngừng động viên khuyến khích khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng. Tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà cũng không cần báo trước cho Ngân hàng và Ngân hàng phải đáp ứng được yêu cầu đó của khách hàng.

Mục đích của loại tiền gửi này nhằm đảm bảo an toàn về tài sản, thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong tiêu dùng, tiện lợi trong việc thanh toán bằng tiền mặt. Đối với ngân hàng loại tiền gửi thanh toán thường có sự dao động lớn, do đó Ngân Hàng chỉ áp dụng một tỉ lệ nhất định để cho vay nên Ngân Hàng thường áp dụng với lãi suất thấp.

Ưu điểm: Loại tiền gửi này có lãi suất thấp nên làm giảm chi phí huy động vốn của Ngân Hàng.

Nhược điểm: Tài khoản tiền gửi này thường xuyên biến động nên Ngân Hàng không chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này.

– Tiền gửi có kỳ hạn: (Tiền gửi định kỳ)

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và cá nhân sau khi thu được lợi nhuận mà tạm thời chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định nào đó có thể ký thác vào Ngân Hàng một cách có kỳ hạn. Đối với loại tiền gửi này, người gửi tiền chỉ được rút ra khi đáo hạn. Tuy nhiên, trên thực tế do áp lực cạnh tranh, các Ngân Hàng cho phép khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện là người gửi tiền không được trả lãi hoặc chịu một mức lãi suất thấp hơn lãi suất trả cho tiển gửi có kỳ hạn, điều kiện tuỳ thuộc vào chính sách huy động của Ngân Hàng và loại tiền gửi định kỳ.

Tiền gửi định kỳ có nhiều loại khác nhau, thông thường có kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng. Khác với tiền gửi thanh toán tiền gửi định kỳ là tiền gửi tạm thời chưa sử dụng hoặc tiền gửi để dành của cá nhân. Vì vậy, mục đích gửi tiền vào Ngân Hàng là nhằm kiếm lợi tức. Do đó thường dùng biện pháp lãi suất để huy động nguồn vốn này chủ yếu.

Ưu điểm: Đối với ngân hàng tiền gửi có kỳ hạn là số tiền có hẹn đến một ngày nhất định mới trả lại cho khách hàng gửi tiền, điều này giúp cho ngân hàng chủ động được nguồn vốn trong các thời kỳ để có kế hoạch cho vay, do đó việc sử dụng nguồn này để cho vay rất hiệu quả.

Nhược điểm: Lãi suất để huy động nguồn vốn này cao và tùy thuộc vào kỳ hạn gửi và số tiền gửi của khách hàng.

– Tiền gửi tiết kiệm

Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi vào thì được ngân hàng cấp cho một quyển sổ gọi là sổ tiết kiệm. Khách hàng có trách nhiệm quản lý sổ và mang theo khi đến ngân hàng để giao dịch. Hiện nay một số ngân hàng đã bỏ sổ tiết kiệm và thay vào đó là cung cấp cho khách hàng một bản kê khi lúc gửi tiền đầu tiên và hàng tháng để phản ánh tất cả các số phát sinh.

Ưu điểm: Đây là nguồn vốn có tính ổn định và chiếm tỉ lệ khá cao, Ngân Hàng không phải cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

Nhược điểm: Do mục đích của loại tiền gửi này là để dành nên lãi suất cao.

Ở Việt Nam, tiền gửi tiết kiệm hết sức đa dạng và phong phú được chia ra làm nhiều loại:

* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền gửi không có thời gian đáo hạn, khi nào người gửi muốn rút tiền thì phải thông báo cho Ngân Hàng một thời gian, tuy nhiên ngày nay Ngân Hàng cho phép khách hàng rút tiền ra không cần thông báo trước. Đây là hình thức mà đối tượng gửi chủ yếu là người tiết kiệm, dành dụm nhằm trang trãi những chi tiêu cần thiết đồng thời có một khoản lãi góp phần vào việc chi tiêu hàng tháng. Ngoài ra, đối tượng gửi tiền có thể là những người thừa tiền nhàn rỗi muốn gửi vào Ngân Hàng để thu hoạch lợi tức đồng thời đảm bảo an toàn hơn tiển cất ở nhà.

Loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn lãi suất thấp do Ngân hàng không chủ động được nguồn vốn và lãi luôn được nhập vốn và thường tính lãi theo nhóm ngày gửi tiền. Còn đối với tiền gửi thanh toán thì lãi nhập vốn vào cuối tháng.

* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:

Đây là loại hình cá nhân gửi tiền có sự thoả thuận về thời gian với ngân hàng, chỉ rút tiền khi đến thời hạn thoả thuận. Còn trường hợp đặc biệt rút ra trước thời hạn thì lãi suất thấp hơn. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn lớn hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.

Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút vốn khi đến hạn. Nếu rút trước hạn phải được sự đồng ý của Ngân Hàng và chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn hoặc không được hưởng lãi nếu gửi có kỳ hạn mà rút ra chưa được 1 tháng.

– Phát hành các chứng từ có giá:

Gồm kỳ phiếu Ngân hàng và trái phiếu Ngân hàng

* Kỳ phiếu ngân hàng: Kỳ phiếu ngân hàng là loại chứng từ có giá được ngân hàng phát hành để huy động tiết kiệm trong xã hội nhằm mục đích phục vụ cho việc kinh doanh trong thời kỳ nhất định. Thời hạn của kỳ phiếu còn phụ thuộc vào chính sách huy động vốn của ngân hàng, có thể là: 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, trên 12 tháng.

Ưu điểm: Thời gian huy động nhanh, số tiền lớn.

Nhược điểm: Ngắn hạn và lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm.

* Trái phiếu ngân hàng: Trái phiếu ngân hàng là công cụ huy động vốn trung và dài hạn vào ngân hàng, nó là một loại chứng khoán có thể dùng để mua bán trên thị trường chứng khoán. Ở nước ta, trái phiếu có kỳ hạn trên một năm. Khi Ngân Hàng phát hành trái phiếu thì Ngân Hàng có mục đích dùng số vốn đó để đầu tư vào các dự án mang tính chất dài hạn như: đầu tư vào các công trình, dự án liên doanh, cho vay dài hạn…

Đối với khách hàng, trái phiếu Ngân Hàng là một khoản đầu tư mang lại thu nhập ổn định và ít rủi ro so với cổ phiếu doanh nghiệp.

Ưu điểm: Đối với Ngân Hàng vốn huy động từ trái phiếu lãi suất thấp và ổn định trong thời gian dài. Do vậy ngân hàng có thể chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này để cho vay trung và dài hạn.

Nhược điểm: Do lãi suất thấp và thời gian dài nên rất khó thu hút khách hàng.

Lãi suất của hai loại này thường cao hơn các loại tiền gửi khác.

b. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: Là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.

c. Cấp Tín Dụng: Là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.

Nguồn: luanvanaz

2021-10-27 / by / in
Sự khác biệt giữa Ngân hàng Đầu tư và Ngân hàng Thương mại

Sự khác biệt giữa Ngân hàng Đầu tư và Ngân hàng Thương mại

 

Dựa trên công việc được thực hiện bởi các ngân hàng, ngành tài chính được chia thành hai phân khúc chính: ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại được thiết lập với mục đích thực hiện các giao dịch thương mại, chẳng hạn như nhận tiền gửi và cho vay tiền một cách hợp pháp đối với các khách hàng như cá nhân và doanh nghiệp.

Mặt khác, ngân hàng đầu tư được thành lập để cung cấp dịch vụ cho các nhà đầu tư. Hoạt động của các ngân hàng đầu tư là khác nhau, và hoạt động như một trung gian giữa người mua và người bán cổ phiếu và trái phiếu, giúp khách hàng huy động vốn.

Trong khi ngân hàng đầu tư kiếm được hoa hồng bảo lãnh phát hành, thì ngân hàng thương mại thu lãi từ các khoản cho vay khách hàng. Có một ranh giới khác biệt giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại, được trình bày chi tiết trong bài viết này.

Biểu đồ so sánh

Cơ sở để so sánh Ngân hàng đầu tư Ngân hàng thương mại
Ý nghĩa Ngân hàng đầu tư đề cập đến một tổ chức tài chính, cung cấp các dịch vụ như bảo lãnh phát hành chứng khoán, dịch vụ môi giới, v.v. Ngân hàng thương mại là ngân hàng cung cấp các dịch vụ như nhận tiền gửi, cho vay tiền, thanh toán theo lệnh đứng và nhiều dịch vụ khác.
Ưu đãi Dịch vụ cụ thể của khách hàng Dịch vụ tiêu chuẩn hóa
Kết hợp với Tình hình hoạt động của thị trường tài chính. Tăng trưởng kinh tế quốc gia và nhu cầu tín dụng
Cơ sở khách hàng Vài trăm thôi Hàng triệu
Ngân hàng đến Cá nhân, chính phủ và tập đoàn. Mọi công dân
Thu nhập = earnings Phí, hoa hồng hoặc lợi nhuận từ các hoạt động giao dịch. Thu nhập từ phí và lãi

Định nghĩa Ngân hàng Đầu tư

Thuật ngữ ngân hàng đầu tư được sử dụng để định nghĩa một tổ chức tài chính thực hiện các giao dịch tài chính phức tạp. Các ngân hàng này liên kết các tập đoàn lớn với các nhà đầu tư. Các ngân hàng phục vụ khách hàng của mình theo một số cách như hỗ trợ chính phủ và các tập đoàn phát hành chứng khoán, giúp các nhà đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu, v.v. cung cấp các dịch vụ tư vấn, v.v.

Các ngân hàng tạo ra thu nhập bằng cách tính phí cho các dịch vụ tư vấn của họ. Hơn nữa, hoạt động kinh doanh thương mại của ngân hàng có thể có lãi hoặc lỗ. Các ngân hàng này đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các công ty hoặc chính phủ đưa ra các quyết định có kế hoạch tốt và dễ dàng huy động vốn. Các dịch vụ do ngân hàng đầu tư cung cấp như sau:

  • Bảo lãnh phát hành chứng khoán
  • Huy động vốn
  • Quản lý tài sản
  • Quản lý tài sản
  • Dịch vụ tư vấn
  • Trộn và lấy lại
  • Hỗ trợ các công ty thực hiện chào bán lần đầu ra công chúng (IPO)

Định nghĩa Ngân hàng Thương mại

Thuật ngữ ngân hàng thương mại dùng để chỉ một cơ sở tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng và tài chính nói chung cho công chúng. Trong thời gian trước đó, không có tổ chức nào như vậy mà mọi người có thể gửi tiền của họ một cách an toàn hoặc đi vay. Vì vậy, họ thường tìm đến những con cá mập để vay tiền, và gửi tiền vào bưu điện. Sau đó, các ngân hàng đang được phát triển để hoạt động như một chủ ngân hàng cho tất cả công dân của đất nước.

Các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu công cộng hoặc tư nhân hoặc do sự kết hợp của cả hai. Các ngân hàng hỗ trợ trong việc huy động tiền tiết kiệm trên toàn nền kinh tế. Nó được điều chỉnh bởi Đạo luật quy định ngân hàng của Ấn Độ, năm 1949.

Các ngân hàng chấp nhận tiền gửi của công dân trong nước với lãi suất danh nghĩa và sử dụng số tiền đó để cấp tín dụng cho các khách hàng khác (người đi vay), tính lãi suất cao hơn từ họ. Bằng cách này, các ngân hàng thương mại tạo ra thu nhập từ số tiền lãi còn lại. Ngoài ra, một trong những nguồn thu nhập chính của ngân hàng là các khoản phí mà họ thu để cung cấp các dịch vụ khác nhau cho công chúng. Các dịch vụ đa dạng của ngân hàng thương mại là:

  • Nhận tiền gửi
  • Cho vay ứng trước
  • Thấu chi và tín dụng tiền mặt
  • Thanh toán theo hướng dẫn thường trực
  • Rút tiền theo yêu cầu
  • Bộ sưu tập tín phiếu và kỳ phiếu
  • Kinh doanh cổ phiếu và giấy nợ thay mặt cho khách hàng
  • Kho đồ
  • Thẻ ATM, Thẻ ghi nợ, Thẻ tín dụng
  • Ngân hàng di động
  • Ngân hàng trực tuyến

Sự khác biệt chính giữa Ngân hàng Đầu tư và Ngân hàng Thương mại

Sự khác biệt cơ bản giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại được chỉ ra dưới đây:

  1. Một trung gian tài chính được thành lập để cung cấp các dịch vụ đầu tư và tư vấn cho các công ty được gọi là ngân hàng đầu tư. Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thành lập để cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho công chúng.
  2. Ngân hàng đầu tư cung cấp dịch vụ cụ thể cho khách hàng trong khi ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn hóa.
  3. Cơ sở khách hàng của ngân hàng thương mại tương đối cao hơn so với ngân hàng đầu tư.
  4. Ngân hàng đầu tư liên quan đến hoạt động của thị trường chứng khoán trong khi tăng trưởng kinh tế và nhu cầu tín dụng ảnh hưởng đến tỷ lệ lãi suất của ngân hàng thương mại.
  5. Ngân hàng đầu tư là chủ ngân hàng đối với cá nhân, chính phủ, tập đoàn, … Mặt khác, ngân hàng thương mại là chủ ngân hàng đối với mọi công dân của đất nước.
  6. Ngân hàng đầu tư tạo ra thu nhập từ phí và hoa hồng. Không giống như Ngân hàng Thương mại tạo ra thu nhập từ lãi và phí.

Phần kết luận

Sự khác biệt cơ bản giữa hai trung gian tài chính này là đối tượng mà họ phục vụ cũng như lĩnh vực kinh doanh của họ. Trong khi các ngân hàng thương mại phục vụ tất cả các công dân của đất nước và hoạt động kinh doanh chính của nó là nhận tiền gửi và cho vay. Các ngân hàng đầu tư kinh doanh chứng khoán và vì vậy hoạt động chính của nó là kinh doanh các tài sản tài chính và cung cấp các dịch vụ tư vấn.

Nguồn: living-in-belgium

2021-10-27 / by / in