Thêm kết quả...

4 điều bạn cần biết về nguồn vốn ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi phải có một nguồn vốn ngân hàng hoạt động nhất định.

1. Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại

“Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác ”.

Khái niệm trên đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên vốn của ngân hàng thương mại. Về thực chất vốn của ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn tiền tệ của chính bản thân ngân hàng và của những người có vốn tạm thời nhàn rỗi.

2. Vai trò của nguồn vốn trong ngân hàng

2.1 Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng

Ngân hàng hoạt động dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, nếu không có uy tín thì ngân hàng không thể tồn tại và ngày càng mở rộng hoạt động của mình. Uy tín được thể hiện ở khả năng sẵn sàng chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn.

2.2 Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp có khả năng tự hoàn thiện mình hơn. Với ngân hàng vốn chính là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Thực tế đã chứng minh: quy mô vốn, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật hiện đại là điều kiện tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn, và nguồn vốn lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời hạn, lãi suất.

3. Cơ cấu vốn của Ngân hàng thương mại

Vốn của ngân hàng thương mại bao gồm:

  • Vốn chủ sở hữu.
  • Vốn huy động.
  • Vốn đi vay.
  • Vốn khác.

Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng và đều có những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của NHTM.

3.1 Vốn chủ sở hữu

Đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chính ngân hàng, ngân hàng có toàn quyền sử dụng gồm các trang thiết bị, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà cửa… Đây là nguồn vốn khá quan trọng, trước hết nó tạo uy tín cho chính ngân hàng.

Đối với mỗi ngân hàng, nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.

3.2 Nguồn vốn hình thành ban đầu

Trước khi tiến hành kinh doanh, theo quy định của pháp luật, ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định, đó là vốn pháp định (hay vốn điều lệ).

Tuỳ theo hình thức sở hữu, do nhà nước cấp nếu là ngân hàng quốc doanh, do cổ đông đóng góp nếu là ngân hàng cổ phần, do các bên đóng góp nếu là ngân hàng liên doanh và của cá nhân nếu là ngân hàng tư nhân.

3.3 Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động

Vốn chủ sở hữu của ngân hàng không ngừng được tăng lên theo thời gian nhờ có nguồn vốn bổ sung. Nguồn bổ sung này có thể từ lợi nhuận hay từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm… Nguồn vốn bổ sung này tuy không thường xuyên song đối với các ngân hàng lớn từ lâu đời thì nguồn bổ sung này chiếm một tỷ lệ rất lớn.

3.4 Các quỹ

Trong quá trình hoạt động, ngân hàng có nhiều quỹ. Mỗi quỹ có một mục đích riêng: Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi, quĩ khen thưởng… Nguồn để hình thành nên các quỹ là từ lợi nhuận.

3.5 Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần

Các khoản vay nợ trung và dài hạn, ổn định có khả năng chuyển đổi thành cổ phần thì được coi là một bộ phận vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Ngân hàng có thể sử dụng vốn theo các mục đích kinh doanh của mình như có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai.

3.6 Các nguồn vốn huy động là gì?

Vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Với việc huy động vốn, ngân hàng có được quyền sử dụng vốn và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho người gửi.

Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch )

Đây là khoản tiền của các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích là sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Khoản tiền gửi thanh toán này có thể được trả lãi hoặc không được trả lãi tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng.

Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội

Nhiều doanh nghiệp, tổ chức xã hội có các hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định. Họ gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi. Tuy khoản tiền này không linh hoạt bằng tiền gửi thanh toán nhưng bù lại tiền gửi có kỳ hạn lại có lãi suất cao hơn.

Tiền gửi tiết kiệm của dân cư

Trong cộng đồng dân cư luôn có những người có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi. Họ gửi tiền vào ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích bảo toàn và sinh lời đối với những khoản tiền đó. Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thoả thuận với ngân hàng.

Tiền gửi của các ngân hàng khác

Đây là nguồn tiền gửi có qui mô thường nhỏ, giữa các ngân hàng luôn có tiền gửi của nhau. Mục đích của việc gửi tiền này là để đảm bảo thanh toán thuận tiện, phục vụ tối đa lợi ích cho khách hàng của mình.

Vốn đi vay

Bên cạnh việc huy động tiền gửi, nhiều lúc các ngân hàng cũng phải đi vay để đảm bảo thanh toán, đảm bảo dự trữ bắt buộc. Các ngân hàng có thể vay ở:

Vay ngân hàng Nhà nước

Khi các ngân hàng thương mại có nhu cầu cấp bách về vốn thì người dang tay cứu giúp sẽ là ngân hàng trung ương. Hình thức vay chủ yếu là tái chiết khấu (hay tái cấp vốn). Các ngân hàng thương mại sẽ mang các trái phiếu mà mình đã chiết khấu lên ngân hàng trung ương để tái chiết khấu.

Vay các tổ chức tín dụng khác

Đây là các khoản vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng hoặc giữa ngân hàng với các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Hình thức vay này rất đơn giản, ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý.

Vay trên thị trường vốn

Các ngân hàng có thể phát hành giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn để huy động vốn trung và dài hạn. Những ngân hàng lớn có uy tín hoặc trả lãi cao sẽ có khả năng vay được nhiều hơn các ngân hàng nhỏ.

3.7 Vốn khác

Nguồn uỷ thác

Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thác qua đó làm tăng nguồn vốn của ngân hàng như uỷ thác đầu tư, uỷ thác cho vay, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ.

Nguồn trong thanh toán

Các khoản thanh toán không dùng tiền mặt như: L/C, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi hoặc đồng tài trợ cũng giúp ngân hàng làm tăng nguồn vốn của mình.

Nguồn khác

Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, … Các hoạt động này tạo nên nguồn uỷ thác tại ngân hàng. Ngoài ra , các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn vốn trong thanh toán.

4. Vai trò của hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

4.1 Đối với toàn bộ nền kinh tế

Tiết kiệm và đầu tư là những cơ sở nền tảng của nền kinh tế. Thông qua các kênh huy động vốn, các khoản tiết kiệm chuyển thành đầu tư góp phần làm tăng hiệu quả của nền kinh tế.

4.2 Đối với những người có vốn nhàn rỗi

Việc huy động vốn của ngân hàng trước hết sẽ giúp cho họ những khoản tiền lãi hay có được các dịch vụ thanh toán đồng thời các khoản tiền không bị chết, luôn được vận động, quay vòng.

4.3 Đối với những người cần vốn

Họ sẽ có cơ hội mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh từ chính nguồn vốn huy động của ngân hàng. Việc huy động vốn của ngân hàng giúp cho nền kinh tế có được sự cân đối về vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

4.4 Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.

Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Để bước vào hoạt động kinh doanh thì đầu tiên ngân hàng phải cần có vốn. Nguồn vốn phản ánh tiềm năng và sức mạnh của ngân hàng.

4.5 Vốn quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng.

Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào vốn của ngân hàng. Có được nhiều vốn ngân hàng sẽ có điều kiện để đưa ra các hình thức tín dụng linh hoạt, có điều kiện để hạ lãi suất từ đó sẽ làm tăng quy mô tín dụng.

4.6 Vốn quyết định khả năng thanh toán và uy tín của ngân hàng

Điều kiện đầu tiên để xây dựng được uy tín của ngân hàng chính là vốn của ngân hàng. Trong nên kinh tế bất ổn hiện nay, khả năng thanh toán luôn được các ngân hàng ưu tiên hàng đầu và để được như vậy thì các ngân hàng luôn tìm cách huy động được nhiều vốn hơn.

4.7 Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, vốn là điều kiện để các ngân hàng tham gia cạnh tranh. Đồng thời nó lôi kéo khách hàng mới, giữ chân các khách hàng truyền thống.

Vốn của ngân hàng lớn giúp cho ngân hàng có khả năng tài chính dồi dào để cạnh tranh với các ngân hàng khác: hạ lãi suất, linh hoạt về thời hạn tín dụng, hình thức trả lãi…Các dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng được cải tiến, phát triển và được thực hiện tốt hơn.

Nguồn: thachdo.com

2021-10-27 / by / in
Sự khác biệt giữa Ngân hàng Thương mại và Ngân hàng Phát triển

Sự khác biệt giữa Ngân hàng Thương mại và Ngân hàng Phát triển

 

Ngân hàng thương mại là ngân hàng được tổ chức để thực hiện các dịch vụ ngân hàng công ích, chẳng hạn như nhận tiền gửi, cho vay tiền, … Mặt khác, ngân hàng Phát triển đề cập đến một cam kết tài chính đa mục tiêu được thiết lập để cung cấp hỗ trợ tài chính cho lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp, nhằm khuyến khích phát triển.

Ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống tài chính của mọi quốc gia. Nếu hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế hoạt động có hiệu quả thì nó góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển. Mọi thành phần trong xã hội đều sử dụng các dịch vụ khác nhau do ngân hàng cung cấp cho các mục đích khác nhau.

Các ngân hàng được chia thành ba loại – Ngân hàng Hợp tác, Ngân hàng Thương mại và Ngân hàng Phát triển. Bây giờ chúng ta hãy thảo luận về sự khác biệt giữa Ngân hàng Thương mại và Ngân hàng Phát triển.

Bảng biểu so sánh

 

Cơ sở để so sánh Ngân hàng thương mại Ngân hàng Phát triển
Ý nghĩa Ngân hàng Thương mại là những ngân hàng cung cấp các dịch vụ ngân hàng và tài chính cơ bản cho các cá nhân và doanh nghiệp. Ngân hàng Phát triển là những ngân hàng được thành lập để cung cấp tài chính cho phát triển cơ sở hạ tầng và kinh tế.
Thiên nhiên Phản ứng Chủ động
Thiết lập Được thành lập theo Đạo luật Công ty, với tư cách là Công ty Ngân hàng. Được thiết lập theo hành động chuyên biệt.
Nguồn quỹ Gây quỹ từ việc chấp nhận tiền gửi công khai. Vay, cho và bán chứng khoán.
Các khoản cho vay được cung cấp Cho vay ngắn hạn và trung hạn Cho vay trung và dài hạn
Sự định hướng Lợi nhuận theo định hướng Định hướng phát triển
Mục đích Để kiếm lời bằng cách cho vay tiền với lãi suất cao. Để đạt được lợi nhuận xã hội, bằng cách cung cấp vốn cho các dự án phát triển.
Các dịch vụ được cung cấp Dịch vụ tư vấn Pháp lý, Kinh doanh và Điều tra Tín dụng được cung cấp với một khoản phí nhất định. Dịch vụ tư vấn và cố vấn được cung cấp cho sự phát triển và thúc đẩy của doanh nghiệp.
Khách hàng Cá nhân và Doanh nghiệp Chính quyền

Định nghĩa Ngân hàng Thương mại

Ngân hàng Thương mại, như tên gọi cho thấy, là một tổ chức tài chính định hướng lợi nhuận được thành lập để nhận tiền gửi từ công chúng, cung cấp dịch vụ tài khoản vãng lai, cho vay và cung cấp một loạt các sản phẩm tài chính cho các cá nhân và tổ chức kinh doanh.

Ngân hàng đóng vai trò trung gian giữa người gửi tiền và người đi vay. Nó trả lãi cho người gửi tiền đối với số tiền đã gửi với lãi suất thấp và cho người vay vay với lãi suất cao, tùy thuộc vào yếu tố rủi ro liên quan. Bằng cách này, ngân hàng thương mại kiếm tiền.

Lãi suất cung cấp cho người gửi tiền được gọi là lãi suất vay, trong khi tỷ lệ mà ngân hàng cho vay, được gọi là lãi suất cho vay. Sự khác biệt giữa cho vay và lãi suất đi vay được gọi là ‘lây lan‘, Số tiền sinh lời.

Các khoản tiền gửi nhận được từ công chúng không chỉ cung cấp tiền mà còn tăng trách nhiệm cung cấp tính thanh khoản và an toàn, vốn hạn chế việc sử dụng chúng.

 

Các Ngân hàng Thương mại chủ yếu được chia thành Ngân hàng theo lịch trình và Ngân hàng không theo lịch trình. Hơn nữa, các ngân hàng dự kiến ​​bao gồm các ngân hàng Quốc hữu hóa, Ngân hàng Nhà nước Ấn Độ và các công ty con của nó, ngân hàng khu vực tư nhân và ngân hàng nước ngoài.

Các chức năng được thực hiện bởi các Ngân hàng Thương mại được chia thành hai loại – Chức năng chính và Chức năng phụ. Các chức năng này được mô tả như sau:

 

Chức năng chính

  1. Chấp nhận tiền gửi
    • Tiết kiệm thời gian
      • Tiền gửi cố định
      • Gửi tiền định kỳ
      • Chứng chỉ tiền mặt
    • Tiền gửi
      • Tiết kiệm Tài khoản Ngân hàng Tiền gửi
      • Tiền gửi Tài khoản Hiện tại
  2. Tạm ứng các khoản cho vay
    • Thấu chi
    • Tín dụng tiền mặt
    • Chiết khấu hóa đơn
    • Khoản vay và ứng trước
    • Tài chính Nhà ở
    • Khoản vay chống lại cổ phiếu / chứng khoán
    • Khoản vay chống lại chứng chỉ tiết kiệm
    • Cho vay tiêu dùng và ứng trước
    • Chứng khoán hóa các khoản cho vay

 

Chức năng phụ

  1. Dịch vụ đại lý
    • Kinh doanh ngoại hối
    • Bộ sưu tập séc, lãi suất và cổ tức.
    • Mua bán chứng khoán
    • Lập tờ khai thuế thu nhập
    • Thanh toán tiền thuê nhà, hóa đơn điện, phí bảo hiểm, v.v.
    • Hoạt động như những người thực thi Di chúc.
  2. Dịch vụ Tiện ích Chung
    • Cơ sở khóa an toàn
    • Kiểm tra quà tặng
    • Cơ sở ATM
    • Cung cấp thông tin và thống kê thương mại
    • Cơ chế thanh toán, tức là chuyển tiền
    • Séc du lịch
    • Thư tín dụng
    • Thẻ tín dụng
    • Bảo lãnh phát hành chứng khoán
    • Dịch vụ tư vấn
    • Chấp nhận hóa đơn
    • Ngân hàng thương mại
  3. Chức năng đầu tư
  4. Tạo tín dụng

 

Định nghĩa Ngân hàng Phát triển

Ngân hàng Phát triển là một tổ chức tài chính chuyên biệt được thành lập để cung cấp các cơ sở hạ tầng, khuyến khích phát triển khu vực công nghiệp và nông nghiệp bằng cách cung cấp các khoản vay trung và dài hạn.

Nó cũng cung cấp các dịch vụ khác như bảo lãnh phát hành cổ phiếu, hoạt động đầu tư và bảo lãnh và các hoạt động khuyến mại cho các thực thể kinh doanh. Chức năng chính của ngân hàng phát triển là cấp tín dụng cho các dự án đầu tư thâm dụng vốn, thường là dài hạn, có tỷ suất sinh lợi thấp.

 

Mục tiêu của Ngân hàng Phát triển

  • Khuyến khích tăng trưởng công nghiệp.
  • Để tạo cơ hội việc làm.
  • Để hồi sinh các đơn vị bị bệnh.
  • Khuyến khích các dự án tự kinh doanh.
  • Để xóa bỏ sự mất cân bằng khu vực.
  • Phát triển các vùng lạc hậu.
  • Phát triển lĩnh vực nhà ở.
  • Thúc đẩy và cung cấp tài chính cho các ngành công nghiệp quy mô nhỏ.
  • Tạo điều kiện mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp quy mô lớn.

 

Sự khác biệt chính giữa Ngân hàng Thương mại và Phát triển

Sự khác biệt giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng phát triển có thể được rút ra rõ ràng trên các cơ sở sau:

  1. Ngân hàng Thương mại là các ngân hàng được thành lập để đảm nhận các dịch vụ ngân hàng cơ bản cho công chúng.Mặt khác, các Ngân hàng Phát triển là các tổ chức tài chính, được thành lập để cung cấp vốn cho các công ty và dự án mới và mới thành lập liên quan đến phát triển kinh tế, nông nghiệp và công nghiệp.
  2. Ở Ấn Độ, ngân hàng thương mại được thành lập dưới dạng công ty cổ phần, gọi là công ty ngân hàng. Mặt khác, các Ngân hàng Phát triển được thành lập theo đạo luật chuyên biệt, được quốc hội thông qua.
  3. Ngân hàng phát triển về bản chất là chủ động vì nó đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy các dự án và phát triển các công ty mới thành lập. Ngược lại, các ngân hàng thương mại phản ứng nhanh về cơ hội kinh doanh, bởi vì nó đòi hỏi khả năng ngân hàng, sau khi quyết định của doanh nhân được đưa ra, sau đó ý tưởng được xem xét.
  4. Các ngân hàng thương mại huy động vốn bằng cách chấp nhận tiền gửi của công chúng. Ngược lại, các Ngân hàng Phát triển huy động vốn từ việc đi vay, tài trợ của chính phủ và bán chứng khoán.
  5. Các ngân hàng thương mại cho vay ngắn hạn và trung hạn, trong khi các ngân hàng phát triển cho vay trung và dài hạn.
  6. Ngân hàng Thương mại là chủ thể kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Ngược lại, các Ngân hàng Phát triển được thành lập để khuyến khích sự phát triển.
  7. Các Ngân hàng Thương mại nhằm mục đích kiếm lợi nhuận bằng cách cho vay tiền với lãi suất cao. Ngược lại, các ngân hàng phát triển nhằm đạt được lợi nhuận xã hội, bằng cách cung cấp vốn cho các dự án thâm dụng vốn.
  8. Các Ngân hàng Thương mại cung cấp dịch vụ pháp lý, tư vấn kinh doanh và dịch vụ Điều tra tín dụng được cung cấp với một khoản phí nhất định. Ngược lại, dịch vụ tư vấn và cố vấn được cung cấp cho sự phát triển và thúc đẩy của doanh nghiệp, bởi một ngân hàng phát triển.
  9. Các ngân hàng thương mại giao dịch với công chúng và các tổ chức kinh doanh, trong khi các ngân hàng phát triển giao dịch với chính phủ.

 

Phần kết luận

Các ngân hàng có quyền phát hành kỳ phiếu, để lưu thông tiền dưới dạng tiền giấy, cũng như gửi tiền nhận được từ công chúng và ứng trước giống như các khoản cho vay đối với những người xin nó.

Nguồn: LIVING-IN-BELGIUM

 

 

 

2021-10-27 / by / in
Danh Sách Các Ngân Hàng Quốc Doanh Tại Việt Nam

Danh Sách Các Ngân Hàng Quốc Doanh Tại Việt Nam

 

Các ngân hàng Quốc doanh tại Việt nam hiện nay có 7 ngân hàng, trong đó 3 ngân hàng thương mại chiếm hơn 50% cổ phần thuộc Nhà nước và 4 ngân hàng thương mại chiếm 100% vốn cổ phần thuộc Nhà nước, ngoài ra còn có 2 ngân hàng chính sách xã hội hoạt động không vì lợi nhuận.

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI QUỐC DOANH

Ngân hàng Xây dựng (CBBank)

Ngân hàng Đại Dương (Oceanbank)

Ngân hàng Dầu khí toàn cầu (GP Bank)

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank)

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank)

NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (VBSP)

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)

Ngân hàng TM Quốc Doanh Sở Hữu Vốn Nhà Nước 100%

Ngân hàng Xây dựng (CB)

Ngân hàng TNHH MTV Xây dựng | Construction Commercial One Member Limited Liability Bank (CBBank)

  • Địa chỉ: 145-147-149 Hùng Vương – P.2 – TP Tân An – Long An
  • Số điện thoại: (+84) (272) 3524 639 | Fax: (+84) (272) 3524 900
  • Email:
  • SWIFT code: GTBAVNVX
  • Website: https://www.cbbank.vn/

Ngân Hàng Đại Dương (OceanBank)

Ngân hàng TNHH MTV Đại Dương | Ocean Commercial One Member Limited Liability Bank (OceanBank)

  • Địa chỉ: Tòa nhà Daeha, 360 Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội
  • Số điện thoại: 024. 3772 6789 | Fax: 024.3772 6969
  • Call Center: 1800 58 88 15
  • Email: [email protected]
  • SWIFT code: OJBAVNVX
  • Website: http://www.oceanbank.vn/

Ngân hàng Dầu khí toàn cầu (GP Bank)

Ngân hàng TNHH MTV Dầu khí Toàn cầu | Global Petro Commercial One Member Limited Bank  (GP Bank)

  • Địa chỉ: Số 109 Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
  • Số điện thoại: 04. 37 345 345 | Fax: 04. 37 263 999
  • Call center: 1800 5858 66/ (024) 3514 9094
  • Email: [email protected]
  • SWIFT code: GBNKVNVX
  • Website: https://www.gpbank.com.vn

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank)

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam | Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development (Agribank)

  • Địa chỉ: Số 2 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội
  • Số điện thoại: 1900558818/ (+84-24)32053205
  • Email: [email protected]
  • SWIFT code: VBAAVNVX
  • Website: https://www.agribank.com.vn/

Ngân hàng TM Quốc Doanh Sở Hữu Vốn Nhà Nước Trên 50%

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam | Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Vietnam (BIDV)

  • Địa chỉ: Tháp BIDV, 35 Hàng Vôi, Hoàn Kiếm, Hà Nội
  • Số điện thoại: 19009247 / (+84-24) 22200588 – Fax: (+84-24) 22200399
  • Email: [email protected]
  • SWIFT code: BIDVVNVX

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam | Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam (Vietcombank)

  • Địa chỉ: 198 Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội
  • Hotline 24/7: 1900 54 54 13
  • Email:
  • SWIFT code: BFTVVNVX
  • Website: https://vietcombank.com.vn
  • Mã cổ phiếu: VCB

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank)

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam | Vietnam Joint Stock Commercial Bank of Industry and Trade (VietinBank)

  • Địa chỉ: 108 Trần Hưng Đạo, Hà Nội
  • Số điện thoại: 1900 558 868/ (84) 24 3941 8868; Fax: (84) 24 3942 1032
  • Email: [email protected]
  • SWIFT code: ICBVVNVX
  • Website: https://www.vietinbank.vn
  • Mã cổ phiếu: CTG

Ngân hàng Chính sách

Các ngân hàng chính sách hoạt động không vì lợi nhuận và được chính phủ Việt nam đảm bảo khả năng hoạt động và thanh toán

Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (VBSP)

Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam | Vietnam Bank for Social Policies (VBSP)

  • Địa chỉ: Tòa nhà CC5, Bán đảo Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội.
  • Số điện thoại: 00-84-24-36417184 | Fax: 00-84-24-36417194
  • Website: http://www.vbsp.org.vn/

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)

Ngân hàng Phát triển Việt Nam | Vietnam Development Bank (VDB)

  • Địa chỉ: 25A Cát Linh, Hà Nộ
  • Số điện thoại: (84-24) 3736 5659 | Fax: (84-24) 3736 5672
  • Website: https://vdb.gov.vn/

Nguồn: sgbank.vn

2021-10-27 / by / in
Vốn huy động của Ngân hàng thương mại là gì? Các nguồn hình thành

Vốn huy động của Ngân hàng thương mại là gì? Các nguồn hình thành

 

Vốn huy động của Ngân hàng thương mại là nguồn vốn chủ yếu của Ngân hàng, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà Ngân hàng tạm thời quản lí, sử dụng và có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời và đầy đủ khi khách hàng có yêu cầu.

 

Hình minh họa (Nguồn: wraltechwire)

Vốn huy động của Ngân hàng thương mại

Khái niệm

Vốn huy động trong tiếng Anh được gọi là Mobilized Capital.

Vốn huy động của Ngân hàng thương mại là nguồn vốn chủ yếu của Ngân hàng, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà Ngân hàng tạm thời quản lí, sử dụng và có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời và đầy đủ khi khách hàng có yêu cầu.

Trong đó:

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận

Các nguồn vốn huy động

Nguồn vốn huy động gồm có:

– Tiền gửi không kì hạn

– Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn

– Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn

– Tiền gửi phát hành kì phiếu, trái phiếu

– Các khoản tiền gửi khác

Tiền gửi không kì hạn

Là loại tiền gửi mà người sở hữu nó có thể rút ra để sử dụng bất kì lúc nào. Tiền gửi không kì hạn là tiền gửi tạm thời của các tổ chức kinh tế, dân cư.

Loại này tuy biến động thường xuyên nhưng vẫn có được một số dư ổn định do số tiền gửi vào và rút ra trong một thời kì có thể bù trừ cho nhau, nên ngân hàng ngoài việc sử dụng cho vay ngắn hạn, còn có thể sử dụng cho vay trung và dài hạn đối với số dư nêu trên.

Về nguyên tắc do mục đích người có tiền gửi không kì hạn là nhờ ngân hàng  cung cấp các dịch vụ thanh toán nên đối với loại này. Ngân hàng sẽ không trả lãi hoặc trả lãi thấp.

Tiền gửi có kì hạn

Là loại tiền gửi mà chủ của nó chỉ sử dụng rút ra khi tới hạn hoặc muốn rút ra phải báo trước. Tiền gửi có kì hạn gồm tiền gửi của các tổ chức kinh tế, dân cư… người gửi tiền nhằm mục đích sinh lời.

Do đó, Ngân hàng muốn tăng nguồn vốn này phải trả lại thỏa đáng sao cho người gửi vừa được bảo đảm an toàn về vốn vừa có khoản thu nhập hợp lí từ tiền gửi của mình.

Tiền gửi có kì hạn là nguồn vốn tương đối ổn định nên Ngân hàng có thể sử dụng chúng để cho vay ngắn, trung và dài hạn.

(Tài liệu tham khảo: Giáo trình Tín dụng Ngân hàng, PGS.TS Phan Thị Cúc, NXB Thống kê 2008. Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Nguồn: vietnambiz
2021-10-27 / by / in
Phân loại ngân hàng thương mại

Phân loại ngân hàng thương mại

 

 

Phân loại ngân hàng thương mại dựa vào hình thức sở hữu

Dựa vào hình thức sở hữu, các Ngân hàng thương mại được chia ra thành các loại gồm: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng tư nhân.

Ngân hàng thương mại quốc doanh: là ngân hàng được thành lập từ vốn thuộc Ngân sách Nhà nước, là trụ cột của nền kinh tế. Ở Việt Nam, ban đầu những ngân hàng này là những ngân hàng chuyên doanh, đến năm 1992 thì đổi tên và trở thành ngân hàng kinh doanh đa năng. Ví dụ: Ngân hàng TMCP VietinBank.

Ngân hàng thương mại cổ phẩn (TMCP): là ngân hàng được thành lập từ vốn góp của các cổ đông, kinh doanh đa năng. Hệ thống ngân hàng TMCP bao gồm hai loại: ngân hàng TMCP đô thị và ngân hàng TMCP nông thôn. Hiện nay, tất cả các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam đều là ngân hàng TMCP và được thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng. Ví dụ: ngân hàng TMCP SeaBank, Ngân hàng TMCP ACB,  ngân hàng TMCP SacomBank, ngân hàng TMCP Techcombank

Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng do các bên liên doanh góp vốn, tỷ lệ đóng góp của các đối tác nước ngoài không quá 50% vốn điều lệ. Ví dụ: Ngân hàng liên doanh ShinhanVina, Ngân hàng liên doanh Indovina, Ngân hàng liên doanh Viet Lao, Ngân hàng liên doanh Viet Nga

Ngân hàng 100% vốn nước ngoài:  là ngân hàng được thành lập theo pháp luật Việt Nam do chủ sở hữu nước ngoài cấp 100% vốn; được quyền cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng cho thị trường Việt Nam; thời gian hoạt động không vượt quá 99 năm. Ví dụ: ngân hàng ANZ Việt Nam, Ngân hàng HSBC Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam…

Ngân hàng tư nhân: Do cá nhân thành lập bằng vốn của cá nhân đó. Loại hình ngân hàng này thường nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp; thường có mối quan hệ tốt với khách hàng. Tuy nhiên, loại hình ngân hàng tư nhân theo cách tiếp cận này chưa xuất hiện tại Việt Nam

Phân loại ngân hàng thương mại dựa vào chiến lược kinh doanh

Dựa vào chiến lược kinh doanh các Ngân hàng thương mại được chia ra thành: ngân hàng thương mại bán buôn, ngân hàng thương mại bán lẻ, ngân hàng thương mại vừa bán buôn vừa bán lẻ.

Ngân hàng thương mại bán buôn: là Ngân hàng thương mại tập trung nhắm đến đối tượng khách hàng là các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, các xí nghiệp lớn. Danh mục sản phẩm ngân hàng loại này cung cấp cho khách hàng thường không đa dạng tuy  nhiên giá trị của từng giao dịch thường là rất lớn.

Ngân hàng thương mại bán lẻ: là ngân hàng tập trung khai thác nhóm đối tượng khách hàng là cá nhân hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngân hàng loại này thường chú trọng đến việc đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng được các nhu cầu của nhiều khách hàng. Tuy giá trị của từng sản phẩm không lớn nhưng bù lại là một lực lượng khách hàng rất lớn. Hoạt động của ngân hàng này chủ yếu là huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế, và cho vay để giải quyết vấn đề tiêu dùng hoặc các dự án sản xuất với quy mô nhỏ và vừa.

Ngân hàng thương mại vừa bán buôn, vừa bán lẻ: Là ngân hàng thực hiện song song cả hai hoạt động bán buôn và bán lẻ. Ngân hàng này nhắm vào tất cả các dạng khách hàng từ cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến các tổng công ty, các tập đoàn lớn. Ví dụ: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (Seabank).

Nguồn: luanvan24

2021-10-27 / by / in
Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

 

Hệ thống trung gian tài chính nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, là cầu nối giữa các chủ thể trong nền kinh tế, làm cho các chủ thể gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau, tăng sự liên kết và năng động của toàn bộ hệ thống. Ngày nay NHTM trở thành định chế tài chính không thể thiếu để vận hành nền kinh tế, riêng hệ thống ngân hàng thương mại Nhà nước còn được coi là “cánh tay đắc lực” của Chính phủ trong thực thi chính sách tiền tệ nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và bảo đảm an sinh xã hội của đất nước.

Định nghĩa ngân hàng thương mại

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.[Luật các Tổ chức tín dụng 2010].

Sự hình thành và phát triển NHTM

Hệ thống ngân hàng dần hình thành và phát triển theo sự phát triển của quan hệ hàng hóa – tiền tệ. Trải qua quá trình dài nhiều thăng trầm, loại hình ngân hàng hiện đại thực sự xuất hiện vào thế kỷ XVII, các ngân hàng tuy đã thành hệ thống nhưng vẫn hoạt động độc lập nhau với quyền phát hành giấy bạc ngân hàng riêng. Từ thế kỷ XIX, quy mô và phạm vi lưu thông hàng hóa phát triển mạnh, để xóa bỏ tình trạng nhiều ngân hàng cùng phát hành tiền gây cản trở quá trình lưu thông và phát triển kinh tế, để thống nhất chế độ lưu thông tiền tệ, các quốc gia đã cấu trúc lại hệ thống ngân hàng thành hai cấp: Ngân hàng Trung ương (một số quốc gia gọi là Ngân hàng Nhà nước, Quỹ dự trữ liên bang…) và Ngân hàng thương mại (NHTM). Trong đó duy nhất NHTW được nhà nước giao việc phát hành tiền vào lưu thông và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ.

Các quan điểm trên thế giới đều thống nhất coi NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ có liên quan đến tiền tệ cho thị trường. Tại Việt Nam, khái niệm NHTM được quy định rõ trong Pháp lệnh ngân hàng 1990, Luật các Tổ chức tín dụng 1997, sửa đổi năm 2010.

 

Ảnh minh họa

Ngày nay, hệ thống ngân hàng thương mại đã phát triển mạnh mẽ, với nhiều ngành dịch vụ, tham gia sâu rộng vào mọi lĩnh vực kinh tế xã hội và trở thành tổ chức kinh doanh không thể thiếu để phát triển kinh tế xã hội.

Chức năng và nghiệp vụ của NHTM

Chức năng

– Chức năng làm trung gian tín dụng: Là “cầu nối” giữa người thừa và người thiếu vốn, NHTM huy động các nguồn tiền tạm thời nhàn rồi từ các chủ thể kinh tế để hình thành nên nguồn vốn cho vay và sử dụng nguồn vốn này để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các chủ thể thiếu vốn (cần bổ sung vốn, gửi vào tài khoản dự trữ bắt buộc hoặc tài khoản thanh toán tại ngân hàng trung ương, NHTM,…) mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Với chức năng này NHTM vừa đi vay, vừa cho vay. Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ yêu cầu cần khắc phục khiếm khuyết của thị trường tài chính (cung và cầu về vốn không khớp nhau về thời gian và số lượng đã ảnh hưởng lớn tới tính tuần hoàn liên tục của quá trình tái sản xuất). Chức năng trung gian tín dụng phản ánh rõ nét nhất bản chất của NHTM trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ.

– Chức năng trung gian thanh toán: NHTM đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các khách hàng, giúp họ không phải trực tiếp thanh toán với nhau.

Chức năng trung gian thanh toán là kết quả của chức năng trung gian tín dụng. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, rất nhiều khách hàng đến mở tài khoản tại hệ thống, NHTM sẽ có thể thực hiện chức năng trung gian thanh toán khi tiến hành trích tiền từ tài khoản người mua (theo lệnh của bên mua) để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản của người bán hay thực hiện các khoản thu khác theo lệnh của khách hàng.

NHTM ra đời và phát triển đã làm thay đổi căn bản hoạt động thanh toán, tạo ra hệ thống TTKDTM khá hoàn hảo trên phạm vi toàn thế giới. NHTM cung cấp các hình thức thanh toán tiện ích: séc, uỷ nhiệm thu/chi, thanh toán điện tử, thanh toán bù trừ,.. .cho phép khách hàng lựa chọn hình thức thanh toán hiệu quả và an toàn nhất.

– Chức năng tạo tiền. Quá trình tạo tiền của NHTM thực chất là quá trình kết hợp chặt chẽ hoạt động tín dụng và hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (giữa chức năng trung gian thanh toán và trung gian thanh toán), làm cho hệ thống NHTM có khả năng tạo ra tiền ghi sổ (bút tệ) trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM. Khi NHTM sử dụng khoản tiền gửi để cho vay, khách hàng sử dụng tiền vay (số dư trên tài khoản trung gian thanh toán) để thanh toán hàng hóa dịch vụ … tức là ngân hàng đã tạo tiền. Chức năng tạo tiền của NHTM chỉ xảy ra khi các hoạt động này được thực hiện bằng chuyển khoản, ghi Nợ cho tài khoản này, ghi Có cho tài khoản liên quan.

Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong đó chức năng trung gian tín dụng là cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau

Nghiệp vụ

Theo sự phát triển của kinh tế xã hội và nhu cầu của khách hàng, nghiệp vụ ngân hàng thương mại ngày càng gia tăng về số lượng, cải thiện về chất lượng và được quy về 3 loại chính:

– Nghiệp vụ Tài sản Nợ: gồm vốn tự có và các khoản nợ mà NHTM nợ thị trường.

– Nghiệp vụ Tài sản Có: gồm các nghiệp vụ: ngân quỹ, tín dụng và đầu tư

– Nghiệp vụ trung gian: thanh toán, đại lý, bảo lãnh, ủy thác, ký gửi, tư vấn .v.v…

Nói cách khác, NHTM kinh doanh chủ yếu và thường xuyên ở 3 nghiệp vụ:

– Huy động vốn: NHTM huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội dưới các hình thức như: nhận tiền gửi tiết kiệm (có kỳ hạn và không kỳ hạn), tiền gửi thanh toán…; phát hành giấy tờ có giá (trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi) hoặc đi vay từ NHNN, từ các NHTM và các tổ chức tín dụng khác. Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản giúp NHTM thực hiện chức năng tạo tiền

– Sử dụng vốn: Chủ yếu là cấp tín dụng (cho vay trung/dài/ngắn hạn, cho thuê tài chính, bảo lãnh…). NHTM dùng nguồn vốn đã huy động được để cho vay từ đó thu lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch phí đầu vào và phí đầu ra. Đây là nghiệp vụ chủ yếu mang lại lợi nhuận cho NHTM nhưng cũng chứa đựng rủi ro rất cao. Sử dụng vốn còn bao gồm nghiệp vụ ngân quỹ (dự trữ, đảm bảo an toàn thanh toán) và nghiệp vụ đầu tư đầu tư (liên doanh liên kết, kinh doanh chứng khoán).

– Trung gian thanh toán: NHTM thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng bằng cách cung cấp các công cụ thanh toán thuận lợi như: séc, uỷ nhiệm thu/chi, thẻ thanh toán, thanh toán điện tử… Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các nghiệp vụ của NHTM cũng phát triển phong phú, đa dạng và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nghiệp vụ tài sản Nợ quyết định đến quy mô và phạm vi hoạt động của nghiệp vụ tài sản Có. Mỗi nghiệp vụ đều là tiền đề, điều kiện để duy trì và phát triển các nghiệp vụ khác. Tuy nhiên, nghiệp vụ tín dụng vẫn quan trọng nhất, là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu, quyết định kết quả kinh doanh của NHTM.

Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển đến trình độ cao nhất, là nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại ngày càng hoàn thiện và trở thành định chế tài chính không thể thiếu để vận hành nền kinh tế.

– NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển: Hoạt động kinh doanh tiền tệ với chức năng trung gian tín dụng, NHTM khắc phục những khiếm khuyết của thị trường tài chính, khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế … hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Là một kênh phân phối vốn có hiệu quả NHTM tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng tận dụng cơ hội đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng vững trong sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường. Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mồi quốc gia.

– NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường: Để có thể đưa sản phẩm hàng hóa dịch vụ tiếp cận với thị trường đầu ra và tìm kiếm lợi nhuận, các doanh nghiệp cần phải có vốn (yếu tố đầu vào quan trọng, nền tảng của mọi hoạt động) để thực hiện sản xuất. Khi vốn tự có không đủ hoạt động, các doanh nghiệp phải tìm đến các nguồn vốn khác. NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết được khó khăn bằng nguồn vốn tín dụng. Như vậy, NHTM chính là cầu nối đưa doanh nghiệp đến với thị trường, giúp doanh nghiệp tìm được vốn đầu vào, bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh và thanh toán để tạo ra thành phẩm cho thị trường. NHTM giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhau hơn cả về không gian và thời gian.

– NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Các NHTM một mặt chịu sự tác động trực tiếp từ các công cụ của chính sách tiền tệ (thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất,…) mặt khác gián tiếp tham gia điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính tín dụng. Thông qua hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ được phản hồi lại NHTW, giúp NHTW có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định.

– NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế: Ngày nay, mồi quốc gia độc lập đều phát triển quan hệ quốc tế đa dạng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hoá, khoa học công nghệ,… trong đó quan hệ kinh tế được chú trọng nhất. Áp lực cạnh tranh buộc mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh. Hệ thống NHTM với các nghiệp vụ như: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, uỷ thác đầu tư, … sẽ giúp nền kinh tế của một quốc gia hòa nhập với phần còn lại của thế giới. Hệ thống NHTM trong nước đã điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế, đưa nền tài chính trong nước bắt kịp với nền tài chính quốc tế.

Tham khảo:

– Luật các Tổ chức tín dụng (Luật số 47/2010/QH12, ngày 16/6/2010.

– Nguyễn Thu Giang (2017). Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam trong điều kiện cạnh tranh tự do giữa các NHTM ở Việt Nam hiện nay.

Nguồn: ditiep.com

2021-10-27 / by / in
Top 10 Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2021

Top 10 Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2021

 

Ngày 13/7/2021, Công ty cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) chính thức công bố danh sách Top 10 Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2021. Đây là hoạt động thường niên do Vietnam Report nghiên cứu và công bố từ năm 2012.

Danh sách Top 10 Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2021

Nguồn: Vietnam Report, Top 10 Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2021, tháng 7/2021

 

Danh sách Top 10 Ngân hàng Thương mại cổ phần tư nhân uy tín năm 2021

Nguồn: Vietnam Report, Top 10 Ngân hàng Thương mại cổ phần tư nhân uy tín năm 2021, tháng 7/2021

Ngành ngân hàng 6 tháng đầu năm 2021: Những điểm sáng

Năm 2020, cơn bão mang tên Covid-19 đổ bộ trên toàn cầu đã làm cho nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề, chuỗi cung ứng bị đứt gãy, sản xuất đình trệ, và nhu cầu tiêu dùng giảm sút. Đây cũng là năm mà thiên tai diễn biến bất thường khiến cho nền kinh tế càng thêm khó khăn. Trong bối cảnh đó, ngành Ngân hàng không chỉ làm tốt chức năng cung ứng, phân bổ vốn mà còn có một vai trò đặc biệt hơn – tiếp sức cho nền kinh tế, triển khai các giải pháp để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua thách thức bởi đại dịch và thiên tai. Dù chịu nhiều ảnh hưởng gián tiếp của đại dịch Covid-19, kết thúc năm 2020, lợi nhuận của các ngân hàng vẫn tăng trưởng khá, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng đạt 12,13%, cao hơn so với mức tăng trưởng của 2019, hệ thống ngân hàng được đánh giá an toàn và lành mạnh hơn, thể hiện khả năng chống chịu rủi ro tốt trước cú sốc bên ngoài và nhiều dấu ấn nổi bật khác.

Khi những dư âm của thiên tai, dịch bệnh từ năm 2020 vẫn còn tác động đến nền kinh tế, đến đầu năm 2021, Covid-19 quay trở lại mang theo những biến thể mới, càn quét với cường độ mạnh hơn trong quý II tại nhiều tỉnh thành kinh tế trọng điểm của cả nước. Cùng với khó khăn chung của nền kinh tế, ngành ngân hàng cũng gặp nhiều thách thức, nhưng vẫn có thể thấy những điểm sáng của ngành ngân hàng trong nửa đầu năm 2021.

Điểm sáng thứ nhất, kết quả kinh doanh tăng trưởng mạnh mẽ so với cùng kỳ. Sau một năm đầy biến động và thử thách, kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ khởi sắc hơn trong năm 2021 với mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Chính phủ đặt ra là 6,5% trong năm nay. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,64%. Ngân hàng, một ngành được coi là huyết mạch của nền kinh tế, cũng đang hưởng lợi từ sự phục hồi đó. Kết quả trong những tháng đầu năm giúp chúng ta có thể thấy, nhu cầu sử dụng các dịch vụ, sản phẩm của các ngân hàng tiếp tục xu hướng tăng mạnh. Báo cáo của Tổng cục Thống kê trong 6 tháng đầu năm 2021, tính đến thời điểm 21/6, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 5,47%, tăng trưởng gấp hai lần so với cùng kỳ năm 2020. Bất chấp tác động của đại dịch, lợi nhuận của ngành ngân hàng vẫn tăng trưởng cao, có hơn chục ngân hàng ghi nhận lợi nhuận nghìn tỷ, chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu vẫn được kiểm soát tốt. Theo dữ liệu của FiinGroup, tổng thu nhập hoạt động trong quý I/2021 tăng 28,4% so với cùng kỳ. Đầu tháng 7, một số ngân hàng công bố kết quả kinh doanh với sự bứt phá mạnh mẽ, dự báo sẽ có nhiều kỷ lục mới trong bức tranh lợi nhuận của ngành ngân hàng.

Những số liệu này cũng cho thấy gần như ngành ngân hàng đã bước được vào nền tăng trưởng mới với các yếu tố hỗ trợ như là lãi suất huy động ở mức thấp, trong khi lãi suất cho vay giảm chưa tương ứng, thêm vào đó nhiều ngân hàng còn huy động được lượng lớn trái phiếu kỳ hạn dài với lãi suất thấp, giúp cho biên lãi ròng của ngân hàng được cải thiện.

Điểm sáng thứ hai, sự ra đời của chính sách mới. Đó là sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của NHNN, các Bộ, ban ngành đối với sự phát triển tăng trưởng tín dụng thực chất của ngành ngân hàng và ban hành Thông tư 03/2021/TT-NHNN về việc cơ cấu thời hạn trả nợ, miễn lãi vay do ảnh hưởng dịch Covid-19. Các chuyên gia trong khảo sát của Vietnam Report đánh giá Thông tư 03 đối với các ngân hàng như “nắng hạn gặp mưa rào”, mang tính nhân văn đối với cả tổ chức tín dụng và bên đi vay. Nếu không có Thông tư 03, các ngân hàng sẽ phải trích lập rất mạnh mẽ các khoản nợ xấu trong năm nay nhưng với Thông tư này khoảng thời gian đã được giãn ra trong 3 năm. Việc trích lập dự phòng cụ thể tùy thuộc sự chịu ảnh hưởng từ chất lượng dự nợ cho vay của ngân hàng. Nhiều ngân hàng có dòng tiền ổn định đã chủ động trích lập dần trong từng quý để chuẩn bị “bộ đệm” lớn hơn cho dự phòng rủi ro có thể xảy ra.

Điểm sáng thứ ba, nhóm ngân hàng ghi nhận những câu chuyện về phát hành bán vốn, bán công ty con cho nước ngoài.Giữa bối cảnh dịch bệnh bùng phát, mà gần như khối ngoại rút ra khỏi thị trường chứng khoán (TTCK), bán ròng rất mạnh mẽ, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn nhìn thấy được cơ hội trong các giao dịch tài sản của ngân hàng. Điển hình như trường hợp VPbank bán được 49% vốn của Fecredit cho tập đoàn của Nhật Bản, một kế hoạch khác trong tương lai như HDbank cũng bán mảng tín dụng cho ngân hàng nước ngoài.

Điểm sáng thứ tư, tài chính phi tín dụng tiếp tục được gia tăng. Trong bối cảnh dịch bệnh, 6 tháng đầu năm 2021, nhóm ngân hàng tiếp tục tăng mạnh quy mô và tỷ trọng thu nhập phí dịch vụ, thu nhập ngoài lãi như bảo lãnh khách hàng, bão lãnh thư tín dụng (LC), thanh toán không dùng tiền mặt, liên kết với công ty bảo hiểm để bán chéo sản phẩm (Bancassurance), chứng khoán v.v. Điều này giúp các ngân hàng thương mại (NHTM) phát triển toàn diện hơn, không còn lệ thuộc vào chỉ tiêu tín dụng, đồng thời giảm thiểu rủi ro và cải thiện cơ cấu nguồn thu theo hướng bền vững.

Triển vọng tăng trưởng của ngành ngân hàng năm 2021: Khả quan nhưng không quá tích cực trước những lo ngại về diễn biến khó lường của đại dịch

Kết quả khảo sát chuyên gia và ngân hàng của Vietnam Report trên thang Li-kert 5 điểm đã chỉ ra top 3 yếu tố vĩ mô ảnh hưởng nhất đến kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng trong năm 2021, đó là: Sự bùng phát đại dịch trở lại trên diện rộng (4,73/5); Sự phục hồi của kinh tế vĩ mô (4,55/5); Chính sách, quy định của Nhà nước lĩnh vực Ngân hàng (4,36/5). Trên khía cạnh vi mô, xét trong ngân hàng, 3 yếu tố ảnh hưởng nhất: Khả năng áp dụng công nghệ số trong các dịch vụ ngân hàng (4,73/5); Hệ thống quản lý rủi ro và công tác kiểm soát nội bộ (4,64/5); Chất lượng sản phẩm, dịch vụ (4,55/5).

Với những yếu tố thuận lợi đến từ nền kinh tế toàn cầu đang phục hồi, sự hỗ trợ về mặt chính sách, lãi suất thấp tiếp tục được duy trì, cùng sự linh hoạt trong điều hành của ngân hàng khi chuyển hướng mạnh mẽ trong cơ cấu hoạt động và tăng cường đầu tư công nghệ số, có 52,94% chuyên gia và ngân hàng trong khảo sát của Vietnam Report nhận định ngành ngân hàng trong năm 2021 sẽ tăng trưởng khả quan, tốt hơn một chút. Theo đó, tăng trưởng tín dụng cả năm có thể tương đương hoặc cao hơn mức tăng trưởng 12,13% của năm ngoái một chút. Mặc dù kết quả kinh doanh của nhóm ngành ngân hàng trong những tháng đầu năm có sự vượt trội hơn so với nhiều ngành khác, nhưng các chuyên gia đánh giá tăng trưởng cả năm chỉ đạt ở mức khả quan, không quá tích cực do tăng trưởng tín dụng của nhóm ngân hàng thiên về nhiều yếu tố chưa thực chất, còn tiềm ẩn những rủi ro, thách thức, nhất là khi dịch bệnh đang diễn biến khó lường, chưa được kiểm soát.

Nguồn: vietnamnet

2021-10-27 / by / in
Ngân hàng thương mại là gì, có những loại nào và nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại?

Ngân hàng thương mại là gì, có những loại nào và nghiệp vụ
cơ bản của ngân hàng thương mại?

 

Ngân hàng thương mại là gì?

Ngân hàng thương mại (Commercial bank) là một doanh nghiệp chuyên về kinh doanh đồng vốn và các dịch vụ tiền tệ liên quan và được coi là một loại hình kinh doanh đặc thù. Sản phẩm kinh doanh chủ yếu là việc sử dụng những khoản tiền tệ nên có thể hiểu ngân hàng thương mại chính là nơi vừa cung cấp tiền vốn và cũng là nơi giúp khách hàng tiêu thụ những đồng vốn. Điều này sẽ phát sinh ra các giao dịch giữa khách hàng và ngân hàng, từ đó sẽ tạo ra những hoạt động làm cho ngân hàng tác động ngược lại với khách hàng.

Các hoạt động của ngân hàng thương mại được thực hiện bằng những chức năng nghiệp vụ kết hợp với các công cụ chuyên dụng của ngân hàng. Việc tối đa hóa lợi nhuận chính là công việc chính của ngân hàng thương mại khi mục đích là kinh doanh đồng vốn.

Nguyên tắc hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

Mỗi một doanh nghiệp sẽ có nguyên tắc hoạt động nhất định sao cho phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của khách hàng. Đối với ngân hàng thương mại sẽ cần tuân theo một số nguyên tắc dưới đây để đảm bảo lợi ích của mình và khách hàng như sau:

  • Các dịch vụ tài chính luôn yêu cầu phải đảm bảo được lợi ích cho cả hai bên.
  • Các biện pháp đặt ra phải đảm bảo cho sự an toàn trong các hoạt động kinh doanh và đặc biệt là duy trì số vốn nhất định từ đó cũng sẽ đảm bảo được nguồn cung cho khách hàng.
  • Đảm bảo sự an toàn cho ngân hàng trước những thay đổi, biến động của thị trường, điều này sẽ giúp làm giảm thiệt hại cho ngân hàng thương mại và tránh có những thay đổi bất ngờ với khách hàng.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn khách hàng là rất quan trọng điều này sẽ giúp giảm thiểu những rủi ro xảy ra trước tình hình biến động bất ngờ.

Ngân hàng thương mại là một loại doanh nghiệp hoạt động với những đặc thù riêng và luôn phải tuân thủ các nguyên tắc hoạt động để làm sao ngân hàng có thể hoạt động ổn định nhất. Chính vì sự đặc thù của ngân hàng thương mại nên đa số các ngân hàng sẽ hoạt động với các nét tương đồng sẽ giúp khách hàng dễ lựa chọn hơn.

Ngân hàng thương mại có những loại gì?

Nếu như dựa vào hình thức sở hữu vốn điều lệ của ngân hàng thương mại thì trên toàn hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam sẽ có những loại ngân hàng sau:

Ngân hàng thương mại quốc doanh: được mở bằng 100% nguồn vốn đầu tư đến từ nguồn tiền của nhà nước.

Hiện đang có một vài ngân hàng quốc doanh nổi tiếng của Việt Nam gồm: Agribank, Vietinbank, BIDV, Vietcombank

Ngân hàng thương mại cổ phần: là một hình thái doanh nghiệp thành lập dưới sự góp vốn của tối thiểu 2 cá nhân trở lên. Trong đó, mỗi cá nhân; doanh nghiệp đầu tư sẽ được sở hữu một số lượng cổ phần nhất định theo quy định của ngân hàng trung ương.

Một số ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam: ACB, OCB, MBBank

Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập thông qua nguồn vốn liên kết giữa các ngân hàng với nhau. Trong đó, một bên là các ngân hàng ở Việt Nam, một bên là các ngân hàng nước ngoài có trụ sở đặt tại Việt Nam.

Một số ngân hàng liên doanh tại Việt Nam gồm: Indovina Bank, Ngân hàng Việt Nga

Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài: là dạng ngân hàng được thành lập với hoàn toàn vốn điều lệ từ nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó, các ngân hàng này được phép đặt trụ sở tại Việt Nam và hoạt động theo quy định pháp luật của Việt Nam.

Một số ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam: ANZ Bank, Standard Chartered Bank, HSBC Bank, Shinhan Bank

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: là ngân hàng thương mại được thành lập do vốn và pháp luật nước ngoài nhưng được phép đặt chi nhánh và hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Ví dụ như ngân hàng Citibank, Shinhan Bank, Bangkok Bank…

Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn được phân loại theo chiến lược kinh doanh và tính chất hoạt động.

Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại

Nhận tiền gửi

Với hoạt động quản trị nghiệp vụ ngân hàng thì đây là công việc mà các nhân viên ngân hàng thường xuyên phải làm. Hàng ngày, một giao dịch viên ngân hàng sẽ nhận được các khoản tiền gửi của khách theo nhiều kỳ hạn khác nhau.

Và nhân viên ngân hàng sẽ cần phải hoàn trả toàn bộ gốc và lãi suất huy động cho khách hàng khi đáo hạn hoặc khi đến rút tiền.

Tín dụng ngân hàng

Đối với các khoản tiền đã huy động được từ khách hàng, các ngân hàng thường sẽ cần phải sử dụng số tiền đó để cho những đối tượng khác nhau vay. Từ hoạt động cho vay sẽ giúp điều tiết các nguồn tiền tới với những lĩnh vực sản xuất phù hợp. Và hoạt động tín dụng luôn là một trong những nghiệp vụ quản trị ngân hàng thương mại đặc biệt quan trọng hiện nay.

Nghiệp vụ đầu tư

Trong nghiệp vụ đầu tư này, các ngân hàng sẽ tham gia vào những hoạt động mua bán cổ phiếu, phân tích chứng khoán nhằm kiếm lợi nhuận từ giá cổ phiếu trên thị trường.

Bên cạnh đó, các ngân hàng còn quyết định đầu tư vốn, trực tiếp góp vốn vào các doanh nghiệp để có thể thành lập thêm những công ty mới trên thị trường.

Nghiệp vụ đối ngoại

Bên cạnh các hoạt động trên thì các ngân hàng vẫn luôn tham gia huy động nguồn vốn từ nước ngoài để đáp ứng công tác thanh toán quốc tế, phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Ngân hàng thương mại là gì hiện đã không còn quá xa lạ. Bài viết trên đây cũng đã chia sẽ thêm những thông tin khác nhau về ngân hàng thương mại nhằm giúp bạn có thêm kiến thức khác nhau để tìm việc làm ngân hàng lương cao.

Nguồn: họcvientaichinh.com

2021-10-26 / by / in
Những vấn đề pháp luật về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa ?

Những vấn đề pháp luật về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa ?

 

Ảnh minh họa

Tư vấn luật xuất nhập khẩu cho những người thiếu kinh nghiệm.

1. Cơ sở pháp lý:

  • Luật Hải quan 2014
  • Nghị định số 187/2013/NĐ-CP
  • Thông tư số 22/2014/TT-BTC
  • Thông tư 128/2013/TT-BTC
  • Thông tư số 172/2010/TT-BTC
  • Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005
  • Luật Thuế giá trị gia tăng 2008
  • Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi 2014
  • Quyết định số 36/2011/QĐ-TTg Về việc ban hành mức thuế nhập khẩu xe ô tô chở người từ 15 chỗ ngồi trở xuống đã qua sử dụng
  • Thông tư số 83/2014/TT-BTC Hướng dẫn thực hiện thuế giá trị gia tăng theo Danh mục hàng hóa nhập khẩu Việt Nam
  • Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008
  • Thông tư số 06/2011/TT-BYT
  • Thông tư 103/2015/TT-BTC
  • Thông tư 39/2014/TT-BTC Hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
  • Công văn 1332/TCT-NV2 của Tổng cục Thuế về việc thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá uỷ thác XNK

Thứ nhất, điều kiện đối với chủ thể nhập khẩu hàng hóa. Xuất nhập khẩu không phải là ngành nghề kinh doanh nên khi đăng ký kinh doanh doanh nghiệp không phải đăng ký ngành nghề cụ thể. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành mới được hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Theo quy định tại Nghị định 187/2013/NĐ-CP có quy định các đối tượng có quyền kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu đó là:

– Đối với thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (dưới đây gọi tắt là thương nhân):

+ Trừ hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu quy định tại Nghị định này và các văn bản pháp luật khác, thương nhân được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh.

+ Chi nhánh thương nhân được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo ủy quyền của thương nhân.

– Đối với thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài, công ty và chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam:

Các thương nhân, công ty, chi nhánh khi tiến hành hoạt động thương mại, ngoài việc phải tuân theo các quy định của pháp luật quy định về xuất nhập khẩu hàng hóa còn thực hiện theo các quy định khác của pháp luật có liên quan, các cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và lộ trình do Bộ Công Thương công bố.

– Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện, khi xuất khẩu, nhập khẩu, ngoài việc thực hiện quy định của pháp luật về xuất nhập khẩu, thương nhân phải thực hiện quy định của pháp luật về điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa đó.

Như vậy, xuất nhập khẩu không phải là ngành nghề kinh doanh nên khi đăng ký kinh doanh doanh nghiệp không phải đăng ký ngành nghề kinh doanh xuất nhập khẩu cụ thể. Khi doanh nghiệp muốn hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thì Doanh nghiệp chỉ kê khai đăng ký thông tin đăng ký thuế là có hoạt động “Xuất nhập khẩu”. Thông tin về việc doanh nghiệp có đăng ký hoạt động xuất nhập khẩu hay không được thể hiện tại mạng đăng ký kinh doanh quốc gia.v.v… đồng thời được liên thông với nhiều cơ quan như cơ quan Thuế, Hải quan… Tuy hoạt động nhập khẩu là quyền của doanh nghiệp được ghi nhận theo pháp luật doanh nghiệp nhưng khi thực hiện hoạt động này thì doanh nghiệp cần phải đảm bảo các hoạt động pháp lý liên quan như thủ tục với cơ quan hải quan, cơ quan thuế…

Thứ nhất, điều kiện đối với chủ thể nhập khẩu hàng hóa. Xuất nhập khẩu không phải là ngành nghề kinh doanh nên khi đăng ký kinh doanh doanh nghiệp không phải đăng ký ngành nghề cụ thể. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành mới được hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Theo quy định tại Nghị định 187/2013/NĐ-CP có quy định các đối tượng có quyền kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu đó là:

– Đối với thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (dưới đây gọi tắt là thương nhân):

+ Trừ hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu quy định tại Nghị định này và các văn bản pháp luật khác, thương nhân được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh.

+ Chi nhánh thương nhân được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo ủy quyền của thương nhân.

– Đối với thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài, công ty và chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam:

Các thương nhân, công ty, chi nhánh khi tiến hành hoạt động thương mại, ngoài việc phải tuân theo các quy định của pháp luật quy định về xuất nhập khẩu hàng hóa còn thực hiện theo các quy định khác của pháp luật có liên quan, các cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và lộ trình do Bộ Công Thương công bố.

– Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện, khi xuất khẩu, nhập khẩu, ngoài việc thực hiện quy định của pháp luật về xuất nhập khẩu, thương nhân phải thực hiện quy định của pháp luật về điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa đó.

Như vậy, xuất nhập khẩu không phải là ngành nghề kinh doanh nên khi đăng ký kinh doanh doanh nghiệp không phải đăng ký ngành nghề kinh doanh xuất nhập khẩu cụ thể. Khi doanh nghiệp muốn hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thì Doanh nghiệp chỉ kê khai đăng ký thông tin đăng ký thuế là có hoạt động “Xuất nhập khẩu”. Thông tin về việc doanh nghiệp có đăng ký hoạt động xuất nhập khẩu hay không được thể hiện tại mạng đăng ký kinh doanh quốc gia.v.v… đồng thời được liên thông với nhiều cơ quan như cơ quan Thuế, Hải quan… Tuy hoạt động nhập khẩu là quyền của doanh nghiệp được ghi nhận theo pháp luật doanh nghiệp nhưng khi thực hiện hoạt động này thì doanh nghiệp cần phải đảm bảo các hoạt động pháp lý liên quan như thủ tục với cơ quan hải quan, cơ quan thuế…

Thứ hai, điều kiện với hàng hóa nhập khẩu mà doanh nghiệp cần lưu ý đó là:

– Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân muốn xuất khẩu, nhập khẩu phải có giấy phép của Bộ, ngành liên quan;

Hàng hóa muốn tiến hành thủ tục nhập khẩu hàng hóa tất nhiên cần đáp ứng những điều kiện cụ thể liên quan đến loại hàng hóa mà doanh nghiệp sẽ tiến hành nhập khẩu. Ví dụ đối với hàng hóa nhập khẩu là thực phẩm thì cần đáp ứng những yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, cần có sự cấp phép của Cục vệ sinh an toàn thực phẩm; hàng hóa nhập khẩu là sản phẩm y tế thì cần sự kiểm định của Bộ Y tế;… Như vậy, với mỗi loại hàng hóa cụ thể nếu pháp luật quy định cần cung cấp giấy phép thì doanh nghiệp cần tiến hành những thủ tục theo quy định.

– Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải bảo đảm các quy định liên quan về kiểm dịch, an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng, phải chịu sự kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền trước khi thông quan;

Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 quy định cụ thể điều kiện bảo đảm chất lượng hàng hóa nhập khẩu đó là:

+ Hàng hóa nhập khẩu phải được công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định của pháp luật (về bao bì hàng hóa; nhãn hàng hóa; tài liệu kèm theo sản phẩm, hàng hóa) và ghi nhãn theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa;

+ Hàng hóa nhập khẩu thuộc nhóm 2 phải được công bố hợp quy, chứng nhận hợp quy theo quy chuẩn kỹ thuật tương ứng liên quan đến quá trình sản xuất, sản phẩm cuối cùng bởi tổ chức chứng nhận được chỉ định hoặc được thừa nhận theo quy định: Việc thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp giữa tổ chức, cá nhân tại Việt Nam với tổ chức, cá nhân nước ngoài, vùng lãnh thổ do các bên tự thoả thuận; Việc thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp phục vụ quản lý nhà nước được thực hiện theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc thoả thuận quốc tế mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết;

+ Hàng hóa nhập khẩu thuộc nhóm 2 không đáp ứng quy định nêu trên thì khi nhập khẩu phải được tổ chức giám định được chỉ định hoặc được thừa nhận theo quy định trên;

+ Hàng hóa nhập khẩu thuộc nhóm 2 phải được kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu theo nội dung quy định: Kiểm tra kết quả đánh giá sự phù hợp, nhãn hàng hóa, dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy và các tài liệu kèm theo sản phẩm, hàng hóa cần kiểm tra; Thử nghiệm mẫu theo tiêu chuẩn đã công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng khi cần thiết.

– Hàng hóa không thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu và các hàng hóa không thuộc trường hợp nêu trên, chỉ phải làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu.

Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu được quy định tại Phụ lục đính kèm Nghị định 187/2013/NĐ-CP. Đương nhiên, đối với những hàng hóa thuộc danh mục không được nhập khẩu thì doanh nghiệp không tiến hành hoạt động nhập khẩu hàng hóa.

Sau khi xác định được hàng hóa mà bạn có nhu cầu nhập khẩu từ nước ngoài về Việt Nam đáp ứng các yêu cầu trên, tiến hành thực hiện thủ tục hải quan theo các nội dung sau:

Trình tự thực hiện:

Chủ hàng hoặc người khai hải quan phải khai báo, nộp và xuất trình hồ sơ hải quan của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và xuất trình hàng hóa với hải quan cửa khẩu để làm thủ tục và được giải quyết thông quan với cơ quan Hải quan cửa khẩu theo các bước sau:

Bước 1: Chủ hàng hoặc người khai hải quan phải khai báo tờ khai hải quan nộp và xuất trình hồ sơ lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu với hải quan cửa khẩu đồng thời xuất trình hàng hóa để Hai quan cửa khẩu kiển tra, giám sát, đối chiếu với khai báo của chủ hàng trên tờ khai hải quan và hồ sơ kèm theo (nếu có) theo quy định về thủ tục hải quan cụ thể đối với từng loại hình hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập-tái xuất, tạm xuất-tái nhập, quá cảnh qua biên giới theo quy định.

Bước 2: Cơ quan Hải quan tiếp nhận hồ sơ do chủ hàng hoặc người khai hải quan nộp và xuất trình và thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để kiểm tra, giám sát đối chiếu xác định sự phù hợp giữa thực tế hàng hóa với khai báo của chủ hàng trên tờ khai hải quan và hồ sơ kèm theo để giải quyết các chế độ thuế, lệ phí (nếu có), xử lý vi phạm (nếu có) và quyết định thông quan qua biên giới theo trình tự thủ tục hải quan đã được quy định đối với từng loại hình hàng hóa xuất, nhập cụ thể theo quy định.

Cách thức thực hiện: Trực tiếp tại trụ sở Chi cục Hải quan cửa khẩu.

Thành phần, số lượng hồ sơ (đối với hàng nhập khẩu) – gồm 01 bộ:

– Tờ khai hải quan: Sử dụng tờ khai hàng hóa nhập khẩu theo Tờ khai Hải quan do Bộ Tài chính quy định.

– Các chứng từ khác về hồ sơ hải quan, quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo hợp đồng mua bán do Bộ Tài chính quy định, trừ vận đơn và hợp đồng thương mại.

– Phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch y tế do cơ quan kiểm dịch y tế cấp (đối với hàng hoá thuộc đối tượng kiểm dịch y tế); và Giấy đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hoá đối với hàng hoá thuộc diện phải kiểm tra.

– Hàng hoá nhập khẩu qua biên giới được hưởng các ưu đãi về thuế nhập khẩu nếu có đủ điều kiện theo thoả thuận song phương giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước có chung biên giới; việc khai báo hải quan, nộp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (C/O) đối với hàng hóa được hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu, thực hiện theo Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013 của Bộ Tài chính Quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và Thông tư số 45/2007/TT-BTC ngày 07 tháng 5 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt. Đối với trường hợp áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt thì đối tượng nhập khẩu phải xuất trình Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá-C/O (trừ trường hợp tổng trị giá lô hàng (FOB) không vượt quá 200 USD).

– Kiểm tra thực tế hàng hoá thực hiện theo quy định của pháp luật Hải quan hiện hành.

– Lưu ý: (Theo quy định tại khoản 2 Điều 24 và khoản 1,2 Điều 29 Luật Hải Quan 2014)

+ Chứng từ thuộc hồ sơ hải quan là chứng từ giấy hoặc chứng từ điện tử. Chứng từ điện tử phải bảo đảm tính toàn vẹn và khuôn dạng theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

+ Người khai hải quan phải khai đầy đủ, chính xác, rõ ràng các tiêu chí thông tin tờ khai hải quan.

+ Khai hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử, trừ trường hợp người khai hải quan được khai trên tờ khai hải quan giấy theo quy định của Chính phủ.

Thời hạn giải quyết: Trong 08 giờ hành chính/ngày; nếu hết giờ hành chính mà lô hàng chưa kiểm tra xong thì được tiếp tục làm ngoài giờ hành chính cho xong.

Đối với việc làm thủ tục hải quan điện tử để nhập khẩu hàng hóa theo Thông tư số 22/2014/TT-BTC, yêu cầu:

Hồ sơ hải quan điện tử:​

1. Hồ sơ hải quan bao gồm:

a) Tờ khai hải quan (dạng điện tử).

Trong trường hợp phải xuất trình, nộp bản giấy theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền, tờ khai hải quan điện tử được in ra giấy theo mẫu Tờ khai hàng hóa xuất khẩu, Tờ khai hàng hóa nhập khẩu theo Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này.

b) Các chứng từ đi kèm tờ khai (dạng điện tử hoặc văn bản giấy): theo quy định tại Điều 22 Luật Hải quan.

2. Hồ sơ phải nộp cho cơ quan Hải quan đối với trường hợp thuộc diện kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 12 Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10 tháng 9 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Thông tư 128/2013/TT-BTC), riêng tờ khai hải quan được sử dụng dưới dạng điện tử.

– Lưu ý:

+ Trước khi tiến hành khai hải quan, người khai hải quan phải đăng ký với cơ quan Hải quan các thông tin liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo các chỉ tiêu thông tin quy định tại điểm 2 Phụ lục II kèm theo Thông tư này.

+ Thông tin đăng ký trước có giá trị sử dụng và được lưu giữ trên Hệ thống tối đa là 07 ngày kể từ thời điểm đăng ký trước hoặc thời điểm có sửa chữa cuối cùng.

+ Người khai hải quan được tự sửa chữa các thông tin đã đăng ký trước trên Hệ thống và không giới hạn số lần sửa chữa.

Khai hải quan:

1. Sau khi đăng ký trước thông tin hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, người khai hải quan tiếp nhận thông tin phản hồi từ Hệ thống để thực hiện khai hải quan.

Người khai hải quan tự kiểm tra nội dung thông tin phản hồi từ Hệ thống và chịu trách nhiệm trước pháp luật khi sử dụng thông tin phản hồi từ Hệ thống để khai hải quan.

2. Chính sách quản lý xuất khẩu, nhập khẩu và chính sách thuế áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có hiệu lực tại thời điểm cơ quan Hải quan chấp nhận đăng ký thông tin khai hải quan của người khai hải quan, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Nguyên tắc khai hải quan:

a) Một tờ khai hải quan được khai tối đa 50 dòng hàng. Trường hợp một lô hàng có trên 50 dòng hàng, người khai hải quan phải khai báo trên nhiều tờ khai;

b) Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo các loại hình khác nhau phải khai trên tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khác nhau theo từng loại hình tương ứng;

c) Một tờ khai hải quan chỉ khai báo cho một hóa đơn;

d) Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, giảm thuế so với quy định thì khi khai hải quan phải khai số danh mục miễn thuế; mã miễn, giảm thuế, không chịu thuế và số tiền thuế được giảm;

đ) Người khai hải quan khai tờ khai trị giá và nộp cho cơ quan Hải quan theo quy định tại Quyết định số 30/2008/QĐ-BTC ngày 21 tháng 5 năm 2008 và Thông tư 182/2012/TT-BTC ngày 25 tháng 10 năm 2012. Riêng trường hợp người khai hải quan xác định hàng hóa đủ điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch, đồng thời đã khai thông tin trị giá trên Tờ khai hàng hóa nhập khẩu và Hệ thống tự động tính trị giá tính thuế thì người khai hải quan không phải khai và nộp tờ khai trị giá.

2/.các loại thuế phải nộp

Đối với các loại hàng hóa khi nhập khẩu từ nước ngoài về Việt Nam thì sẽ phải chịu các loại thuế, phí như sau:

Thứ nhất, Thuế nhập khẩu

Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu. Khi phương tiện vận tải (tàu thủy, máy bay, phương tiện vận tải đường bộ hay đường sắt) đến cửa khẩu biên giới (cảng hàng không quốc tế, cảng sông quốc tế hay cảng biển quốc tế, cửa khẩu biên giới bộ) thì các công chức hải quan sẽ tiến hành kiểm tra hàng hóa so với khai báo trong tờ khai hải quan đồng thời tính số thuế nhập khẩu phải thu theo các công thức tính thuế nhập khẩu đã quy định trước.

Thuế nhập khẩu không áp dụng chung cho tất cả các mặt hàng. Mỗi mặt hàng có một mức thuế khác nhau theo quy định của chính phủ nước nhập.

Thuế suất đối với hàng hoá nhập khẩu được quy định cụ thể cho từng mặt hàng, gồm thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường.

1. Thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Thuế suất ưu đãi được quy định cụ thể cho từng mặt hàng tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, đặc biệt: Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện đối xử tối huệ quốc và không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam.

2. Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan hoặc để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới và trường hợp ưu đãi đặc biệt khác: Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện đối xử tối huệ quốc và không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam.

3. Thuế suất nhập khẩu thông thường. Theo điều 1 nghị định quy định chi tiết một số điều Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì đối tượng chịu thuế sẽ là:

Hàng hóa trong các trường hợp sau đây là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, trừ hàng hóa quy định tại Điều 2 Nghị định này:

3.1. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam bao gồm: hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu đường bộ, đường sông, cảng biển, cảng hàng không, đường sắt liên vận quốc tế, bưu điện quốc tế và địa điểm làm thủ tục hải quan khác được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3.2. Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước.

Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại – công nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, có quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa giữa khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.

3.3. Hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Những hàng hóa thuộc đối tượng này sẽ được áp thuế theo Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quy định của Chính phủ về thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với mức thuế 20%;

Thứ hai, Thuế giá trị gia tăng.

Căn cứ theo Điều 2, Luật Thuế giá trị gia tăng 13/2008/QH12 thì Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Và Điều 3 về Đối tượng chịu thuế

Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này.

Thứ ba, Thuế tiêu thụ đặc biệt

Đây là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo qui định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ.

Lưu ý: Đối với từng loại hàng hóa mà mức thuế suất áp dụng là khác nhau.

Thứ tư, Lệ phí làm thủ tục hải quan

Theo quy định tại Điều 1, khoản 1 Điều 3 và Biểu mức thu lệ phí trong lĩnh vực hải quan ban hành kèm theo Thông tư số 172/2010/TT-BTC ngày 02/11/2010 của Bộ Tài chính thì: lệ phí làm thủ tục hải quan (đối với hàng hóa xuất khẩu/ nhập khẩu) là 20.000 đồng/Tờ khai.

Nguồn: luatminhkhue.vn

2021-10-26 / by / in
Có được chia đất khi bạn không phải là người giữ sổ đỏ ?

Có được chia đất khi bạn không phải là người giữ sổ đỏ ?

 

Hỏi: Nhà tôi có một mảnh đất 3080 mét vuông nhà tôi bố mẹ sinh được 2 anh em, tôi là út bây giờ tôi lấy vợ muốn ra ở riêng, tôi bảo bố tôi cắt đất cho ra ở riêng và bố tôi nhất chí nhưng sổ đỏ anh trai tôi lại cầm và không muốn chia đất cho tôi, tôi muốn hỏi luật sư rằng bây giờ bố tôi không cần sổ đỏ có chia đất cho tôi được không và có làm được sổ đỏ cho tôi được không.

Tư vấn luật đất đai dựa theo căn cứ pháp lý:
– Luật đất đai 2013
– Luật cư trú 2006
– Bộ Luật Dân sự 2015
– Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai

Luật sư tư vấn:
Chúng tôi thấy rằng bạn đang thắc mắc về vấn đề pháp lý liên quan đến tranh chấp về đất đai.
Theo Khoản 1 Điều 25 Luật cư trú năm 2006 sửa đổi bổ xung năm 2013 quy định:

Điều 25. Sổ hộ khẩu cấp cho hộ gia đình
1. Sổ hộ khẩu được cấp cho từng hộ gia đình. Mỗi hộ gia đình cử một người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ làm chủ hộ để thực hiện và hướng dẫn các thành viên trong hộ thực hiện quy định về đăng ký, quản lý cư trú. Trường hợp không có người từ đủ mười tám tuổi trở lên hoặc có người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được cử một người trong hộ làm chủ hộ.

Những người ở chung một chỗ ở hợp pháp và có quan hệ gia đình là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột thì có thể được cấp chung một sổ hộ khẩu.
Vậy quỹ đất 3080 mét vuông của nhà bạn sẽ có người đứng tên. Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn chưa nói rõ ràng là sổ đỏ của bạn là loại sổ đỏ gì, ghi tên những ai trong gia đình, chủ hộ đứng tên trong sổ đỏ là bố bạn hay anh trai bạn.

TH1: Nếu mảnh đất đứng tên bố bạn
Bạn phải xác định rằng sổ đỏ (hay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) chỉ là căn cứ để xác nhận quyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức; người đứng tên trên sổ đỏ có quyền sở hữu bao gồm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản, không phải là tiền, cũng như không phải là giấy tờ có giá, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng Quyền sử dụng đất. (căn cứ tại Điều 105 và 115 Bộ Luật dân sự 2015)

Do đó, hành vi chiếm giữ sổ đỏ của người khác không đủ yếu tố để cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự. Trường hợp chiếm giữ không chịu trả thì bạn có thể yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận với lý do bị mất theo quy định tại Điều 77 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, cụ thể:

Điều 77: Cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do bị mất
1. Hộ gia đình và cá nhân, cộng đồng dân cư phải khai báo với UBND cấp xã nơi có đất về việc bị mất GCN, UBND cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất GCN tại trụ sở UBND cấp xã, trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hỏa hoạn.
2.Sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yết thông báo mất GCN tại trụ sở UBND cấp xã đối với trường hợp của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư hoặc kể từ ngày đăng tin lần đầu trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương đối với trường hợp của tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người bị mất GCN nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp lại GCN.
3.Văn phòng ĐKĐĐ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với trường hợp chưa có bản đồ địa chính và chưa trích đo địa chính thửa đất; lập hồ sơ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Nghị định này ký quyết định hủy GCN bị mất, đồng thời ký cấp lại GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

Nếu đây là đất đứng tên bố bạn thì anh bạn không thể cố chấp giữ tài sản không phải của mình được, trong trường hợp này thì nếu thỏa thuận với anh của bạn để lấy lại giấy tờ đất không được thì bạn có thể tới sở tài nguyên môi trường tỉnh để làm đơn đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định trên.
Sau khi đòi lại được sổ đỏ, bố bạn có thể chia đất cho bạn bình thường theo thủ tục tách thửa theo khoản 2 Điều 64 Nghị định 43/2014/NĐ-CP:

Điều 64. Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của nhóm người sử dụng đất, nhóm chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải được tất cả các thành viên trong nhóm ký tên hoặc người có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ trường hợp các chủ sở hữu căn hộ cùng sử dụng chung thửa đất trong nhà chung cư.
TH2: Nếu giấy tờ đứng tên chủ hộ là anh bạn thì anh bạn hoàn toàn có toàn quyền với tài sản, ở đây là mảnh đất. Căn cứ theo điều 168 Luật Đất đai:

Điều 168 Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất
Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Trong trường hợp này, anh bạn có toàn quyền với việc sử dụng mảnh đất này, bạn hay bố bạn không có quyền quyết định phân chia, chuyển nhượng gì với mảnh đất này
Nguồn: luatvietphong.com

2021-10-26 / by / in